Chương 9: Bất cứ thứ gì ngoại trừ giai cấp: Sự tránh né đối với “C-word”
“Giai cấp” là một khái niệm bị cả các tác giả chính thống lẫn nhiều người cánh tả cố sức né tránh. Khi một số từ ngữ bị loại khỏi diễn ngôn công cộng, thì một số tư tưởng cũng bị loại bỏ theo. Những ý tưởng bất đồng càng trở nên khó diễn đạt hơn khi không còn từ ngữ để diễn đạt chúng. “Giai cấp” thường bị gạt đi như một khái niệm Mác-xít lỗi thời, không còn liên quan gì đến xã hội đương đại. Đó là một từ gồm năm chữ cái nhưng lại bị đối xử như một từ tục tĩu bốn chữ cái.
Khi “C-word” đã bị loại bỏ, người ta cũng dễ dàng gạt bỏ những khái niệm không được chấp nhận về mặt chính trị khác như đặc quyền giai cấp, quyền lực giai cấp, bóc lột giai cấp, lợi ích giai cấp và đấu tranh giai cấp. Những khái niệm này cũng bị xem là không còn phù hợp nữa, nếu như chúng có phù hợp, thì đó cũng là trong một xã hội được cho là bao gồm sự tương tác đa nguyên linh hoạt giữa nhiều nhóm đa dạng.
Sự phủ nhận giai cấp của chính giai cấp
Những kẻ nắm giữ của cải và quyền lực ở tầng lớp trên nhận thức rất rõ về lợi ích của chính mình. Dù đôi khi họ có bất đồng gay gắt với nhau về một số vấn đề cụ thể, họ vẫn thể hiện sự đoàn kết đáng kinh ngạc khi nói đến việc bảo vệ hệ thống giai cấp hiện hữu dựa trên quyền lực doanh nghiệp, tài sản, đặc quyền, và lợi nhuận.
Song song với đó, họ cũng rất cẩn thận trong việc ngăn cản công chúng nhận thức được quyền lực giai cấp mà họ nắm giữ. Họ tránh dùng “C-word”, đặc biệt khi nó được dùng để chỉ chính họ như là “giai cấp sở hữu”, “thượng lưu”, hay “giai cấp có tiền”. Và điều họ ghét nhất là khi những thành phần hoạt động chính trị tích cực của giai cấp sở hữu bị gọi là “giai cấp thống trị”.
Giai cấp thống trị ở đất nước này (Mỹ) từ lâu đã nỗ lực để tạo ra ấn tượng rằng họ không hề tồn tại, không sở hữu phần lớn gần như mọi thứ, và cũng không hề có ảnh hưởng vượt trội đến mức mất cân đối đối với các vấn đề của quốc gia. Chính những sự dè chừng ấy lại là dấu hiệu cho thấy họ nhận thức rất rõ về lợi ích giai cấp của mình.
Tuy nhiên, các thành viên của giai cấp thống trị không hề vô hình. Những vị trí dẫn đầu của họ trong thế giới doanh nghiệp, sự kiểm soát của họ đối với tài chính và công nghiệp quốc tế, quyền sở hữu đối với các tập đoàn truyền thông lớn, cũng như ảnh hưởng của họ lên quyền lực nhà nước và tiến trình chính trị - tất cả đều là vấn đề công khai, dù thực tế bị giới hạn. Dù có vẻ rất đơn giản để áp dụng “C-word” cho những kẻ đứng trên đỉnh của hệ thống giai cấp, hệ tư tưởng của giai cấp thống trị vẫn bác bỏ mọi cách gọi như vậy, xem đó là sự sa vào “thuyết âm mưu”.
“C-word” cũng là điều cấm kỵ khi được áp dụng cho hàng triệu người đang làm các công việc của xã hội với mức lương thưởng rất bèo bọt, tức “giai cấp lao động”, một thuật ngữ thường bị gạt đi như một thứ biệt ngữ Mác-xít. Và nó càng cấm kỵ hơn khi nói đến “giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột”, bởi khi đó người ta đã đang nói đến bản chất cốt lõi của hệ thống tư bản chủ nghĩa: sự tích lũy của cải doanh nghiệp thông qua bóc lột lao động.
“C-word” trở nên có thể chấp nhận được khi đi kèm với tính từ làm dịu tai là “trung lưu”. Mọi chính trị gia, nhà tuyên truyền và bình luận viên đều say sưa ca ngợi tầng lớp trung lưu như đối tượng với sự quan tâm chân thành. Tầng lớp trung lưu - vừa được ngưỡng mộ vừa được thương hại - được cho là gồm những con người tự lực một cách đầy đạo đức, không sa vào sự phóng túng bị gán cho những kẻ ở tầng lớp thấp hơn trong xã hội. Bằng cách bao hàm gần như tất cả mọi người, “trung lưu” trở thành một khái niệm mơ hồ tiện lợi, che giấu sự bóc lột và bất bình đẳng trong quan hệ xã hội. Nó là nhãn dán giai cấp phủ nhận đi thực tế về quyền lực giai cấp.
“C-word” cũng được cho phép khi áp dụng cho một nhóm khác: những con người tuyệt vọng sống ở nấc thang thấp nhất của xã hội, nhận phần ít ỏi nhất trong mọi thứ nhưng thường xuyên bị đổ lỗi cho chính tình cảnh của họ, hay còn gọi là “tầng lớp hạ lưu”. Những lời nói về các “khuyết tật” của tầng lớp hạ lưu được chấp nhận vì chúng củng cố trật tự xã hội hiện hữu và biện minh cho sự đối xử bất công đối với những thành phần dễ tổn thương nhất trong xã hội.
Thực tế giai cấp bị che khuất bởi một hệ tư tưởng mà các tín điều của nó có thể được tóm tắt và phản bác như sau:
Tín điều: Không có sự phân chia giai cấp thật sự nào trong xã hội này. Ngoại trừ một số ít người giàu và nghèo, hầu như tất cả chúng ta đều thuộc tầng lớp trung lưu.
Phản bác: Phần lớn của cải ở đất nước này tập trung trong tay một số tương đối ít người, trong khi hàng chục triệu người phải làm việc với đồng lương chết đói, thậm chí là không có việc làm. Khoảng cách giàu nghèo vốn luôn rất lớn và còn ngày càng gia tăng kể từ cuối thập niên 1970. Ngay cả những người trung lưu cũng đang phải chịu đựng tình trạng bất công và bất ổn về kinh tế ngày càng tăng.
Tín điều: Các thiết chế xã hội và văn hóa của chúng ta là những thực thể có quyền tự trị trong một xã hội đa nguyên, phần lớn không bị chi phối bởi của cải và quyền lực giai cấp. Nghĩ khác đi tức là sa vào thuyết âm mưu.
Phản bác: Sự tập trung của cải khổng lồ có thể gây ảnh hưởng lên mọi mặt của đời sống, và thường là ảnh hưởng mang tính chi phối. Các thiết chế xã hội và văn hóa của chúng ta được điều hành bởi những ban giám đốc (hay hội đồng tín thác, hội đồng quản trị) phần lớn được hình thành từ các tầng lớp tinh hoa doanh nghiệp có liên kết chặt chẽ với nhau, không thông qua bầu cử và tự tuyển chọn. Chính họ cùng với những kẻ làm mướn trung thành của họ nắm giữ phần lớn các vị trí lãnh đạo trong bộ máy hành pháp nhà nước và các cơ quan hoạch định chính sách khác, đồng thời thể hiện nhận thức rất rõ về lợi ích giai cấp của mình khi định hình chính sách trong nước lẫn quốc tế. Điều này bao gồm cả những chính sách như Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), được thiết kế nhằm lách qua bất kỳ chủ quyền dân chủ nào đối với các quốc gia khác.
Tín điều: Sự khác biệt giàu nghèo là điều tự nhiên vốn có, không liên hệ nhân quả với nhau. Hành vi cá nhân chứ không phải giai cấp quyết định năng lực và cơ hội sống của mỗi người. Trật tự xã hội hiện tại là sự phản ánh tự nhiên của những khuynh hướng bẩm sinh của con người.
Phản bác: Mọi hệ tư tưởng bảo thủ đều biện minh cho những bất bình đẳng hiện có như thể đó là trật tự tự nhiên cố hữu, là kết quả không thể tránh khỏi của bản tính con người. Nếu những kẻ siêu giàu vốn “tự nhiên” đã tài giỏi vượt trội hơn phần còn lại của chúng ta nhiều đến thế, vậy tại sao họ còn cần được cung cấp quá nhiều đặc quyền nhân tạo theo pháp luật, quá nhiều gói cứu trợ, trợ cấp và các ưu đãi đặc biệt khác - bằng chính tiền của chúng ta? “Những tài năng vượt trội bẩm sinh” của họ còn bao gồm cả những thủ đoạn không có nguyên tắc và phi pháp như thao túng giá cả, cổ phiếu, giao dịch nội gián, lừa đảo, trốn thuế, cạnh tranh không lành mạnh, tàn phá môi trường, sản xuất hàng hóa độc hại và duy trì điều kiện lao động kém an toàn. Người ta có thể mong đợi những con người “vượt trội về mặt tự nhiên” sẽ không hành xử theo những cách tham lam và đê tiện như vậy. Những khác biệt về tài năng và năng lực nếu thực sự tồn tại giữa các cá nhân thì cũng không thể biện minh cho các tội ác và bất công vốn mang tính hệ thống trong nền kinh doanh doanh nghiệp tư bản.
Các nhà lý thuyết ABC
Ngay cả trong số những người thường được xem là cấp tiến, người ta vẫn thấy một sự miễn cưỡng khi phải đối diện với thực tế của quyền lực giai cấp tư bản chủ nghĩa. Đôi khi việc bác bỏ “C-word” diễn ra hết sức dứt khoát. Tại một cuộc họp ở New York năm 1986, tôi từng nghe nhà xã hội học Stanley Aronowitz nhận xét: “Mỗi khi nghe đến từ ‘giai cấp’, tôi chỉ thấy buồn ngủ.” Với Aronowitz, giai cấp là một khái niệm ngày càng mất đi tầm quan trọng, được sử dụng bởi những người mà ông liên tục gọi là “các Mác-xít chính thống”.
Một học giả cánh tả khác, Ronald Aronson, trong cuốn sách mang tên After Marxism, khẳng định - bất chấp toàn bộ bằng chứng gần đây - rằng các giai cấp trong xã hội tư bản đã trở nên “ít phân cực hơn”, và bóc lột giai cấp ngày nay không còn là vấn đề cấp bách vì các công đoàn “đã đạt được quyền lực để bảo vệ thành viên của mình và tác động đến chính sách xã hội”. Điều này được nói ra đúng vào lúc nhiều công đoàn đang bị phá hủy, người lao động bị hạ xuống thành lao động hợp đồng, và khoảng cách thu nhập trở nên rộng hơn bất kỳ thời điểm nào trong nhiều thập niên qua.
Nhiều kẻ tự nhận mình thuộc cánh tả lại chống Marx dữ dội đến mức họ sẵn sàng chộp lấy bất kỳ khái niệm nào ngoài quyền lực giai cấp để giải thích những gì đang diễn ra trên thế giới. Họ là những nhà lý thuyết “Anything-But-Class” (ABC - Bất cứ thứ gì ngoại trừ giai cấp), những người tuy không đứng cùng phe với phe bảo thủ trong phần lớn các vấn đề chính trị, nhưng vẫn góp phần làm thui chột ý thức giai cấp.
Các nhà lý thuyết “cánh tả” ABC nói rằng chúng ta đang dành quá nhiều sự chú ý cho giai cấp. Nhưng chính xác là ai đang làm điều đó? Nếu khảo sát các ấn phẩm học thuật chính thống, các tạp chí cấp tiến và các hội nghị học giả xã hội chủ nghĩa, người ta sẽ rất khó tìm thấy phân tích giai cấp đúng nghĩa. Thay vì dành quá nhiều chú ý cho quyền lực giai cấp, phần lớn các tác giả và nhà bình luận ở Mỹ còn chưa thực sự khám phá chủ đề này. Trong khi liên tục công kích Mác-xít cánh tả vốn rất nhỏ bé, các nhà lý thuyết ABC lại muốn chúng ta tin rằng họ đang dũng cảm chiến đấu chống lại vô số Mác-xít đang thống trị diễn ngôn trí thức ở đất nước này - thêm một ảo tưởng nữa mà họ chia sẻ cùng phe bảo thủ.
Trong cuộc truy tìm bất tận các mô hình khái niệm có thể làm suy yếu phân tích giai cấp của chủ nghĩa Marx, các nhà lý thuyết “cánh tả” ABC đã ba hoa suốt nhiều năm về một sự phân đôi giả tạo giữa Marx thời kỳ đầu (mang tính văn hóa, nhân văn, tốt đẹp) và Marx thời kỳ sau (giáo điều, kinh tế luận, xấu xa).
Như học giả Mác-xít Bertell Ollman đã chỉ ra, sự đối lập giả tạo này đã biến một sự phát triển tương đối nhỏ trong tư tưởng của Marx thành một vực thẳm giữa hai lối tư duy gần như chẳng có điểm chung nào.
Một số nhà lý thuyết ABC đã ra sức quảng bá các tác phẩm của cố lãnh đạo Đảng Cộng sản Ý Antonio Gramsci như một nguồn lý thuyết văn hóa nhằm đối trọng với phân tích giai cấp Mác-xít. (Hãy đọc các ấn phẩm như Telos của Paul Piccone trong thập niên 1970 và đầu thập niên 1980.) Theo họ, Gramsci bác bỏ các quan điểm “kinh tế luận” của Marx và Lenin, không xem xung đột giai cấp là khái niệm trung tâm mà thay vào đó phát triển một “phân tích tinh tế hơn” dựa trên bá quyền văn hóa. Vì vậy Gramsci được biến thành “người Mác-xít đủ an toàn để mang về ra mắt mẹ”, như nhà sử học T.J. Jackson nhận xét. Và như Christopher Phelps nói thêm:
“Gramsci đã trở nên an toàn, thuần hóa, bị tước bỏ bản chất — chỉ còn là cái bóng mờ nhạt của con người cách mạng trước kia. Những học giả tìm cách biện minh cho sự rút lui của mình vào các lý thuyết cực kỳ tối nghĩa đã tạo ra những ảo tưởng huyễn hoặc về hoạt động ‘chống bá quyền’ của họ. Họ dựng nên một Gramsci thần thoại mang những quan điểm mà ông chưa từng có, bao gồm cả việc phản đối kiểu tổ chức xã hội chủ nghĩa cách mạng mà chính ông - tiếp nối Lenin - xem là không thể thiếu.” (Monthly Review, 11/1995).
Bản thân Gramsci hẳn sẽ xem những cách diễn giải về ông từ phía các nhà lý thuyết ABC là lệch lạc một cách kỳ quặc. Ông chưa bao giờ xem văn hóa và giai cấp là hai phạm trù loại trừ lẫn nhau, mà coi bá quyền văn hóa là một công cụ sống còn của giai cấp thống trị. Hơn nữa, ông còn giữ vị trí quan trong Đảng Cộng sản Ý và luôn xem mình thuộc vững chắc trong hàng ngũ Mác-xít-Leninist.
Trong chừng mực mà giai cấp còn được quan tâm trong khoa học xã hội học thuật, xã hội học đại chúng và các bình luận truyền thông, nó thường chỉ được xem như một dạng đặc điểm nhân khẩu học hay địa vị nghề nghiệp. Vì thế các nhà xã hội học chỉ nói đến “trung lưu thượng lưu”, “trung lưu hạ lưu” và những khái niệm tương tự. Khi giai cấp bị giản lược thành một đặc điểm nhân khẩu học, mối liên hệ đối với giai cấp của một cá nhân sẽ có vẻ như mang rất ít ý nghĩa chính trị. Bản thân xã hội khi ấy cũng chỉ còn là một cấu hình đa nguyên của các nhóm địa vị. Giai cấp sẽ không còn là chủ đề cấm kỵ nếu nó bị tách khỏi quá trình tích lũy mang tính bóc lột của chủ nghĩa tư bản.
Cả các nhà khoa học xã hội chính thống lẫn các nhà lý thuyết “cánh tả” ABC đều thất bại trong việc xem xét mối quan hệ đa chiều tạo nên tầm ảnh hưởng thực sự của các giai cấp. Trái lại, những người Mác-xít xem giai cấp là khái niệm trung tâm của toàn bộ trật tự xã hội chủ nghĩa tư bản (hay phong kiến, hay chế độ nô lệ), xoay quanh quyền sở hữu tư liệu sản xuất (nhà máy, hầm mỏ, giếng dầu, doanh nghiệp nông nghiệp, tập đoàn truyền thông và những thứ tương tự) và sự cần thiết phải bán sức lao động của mình trong những điều kiện cực kỳ có lợi cho giới chủ, nếu người ta không sở hữu những tư liệu ấy.
Giai cấp có được tầm ảnh hưởng của nó thông quá trình chiếm đoạt giá trị thặng dư. Mối quan hệ giữa người lao động và chủ sở hữu về bản chất là quan hệ bóc lột, bao gồm sự chuyển dịch liên tục của cải từ những người lao động (nhưng không sở hữu) sang những kẻ sở hữu (nhưng không lao động). Đó là cách mà một số người ngày càng giàu lên mà không cần làm việc, hoặc chỉ làm một phần rất nhỏ của công việc đã khiến họ giàu có, trong khi những người khác phải lao động cực nhọc suốt cả đời chỉ để cuối cùng vẫn gần như chẳng có gì.
Cả các nhà khoa học xã hội chính thống lẫn các nhà lý thuyết “cánh tả” ABC đều xem các phe nhóm xã hội đa dạng bên trong tầng lớp phi tư bản như những giai cấp tự thân; vì vậy họ nói đến “giai cấp cổ cồn xanh”, “giai cấp chuyên môn hóa” và những khái niệm tương tự. Khi làm vậy, họ cho rằng mình đang vượt qua mô hình giai cấp nhị nguyên “giản lược” của chủ nghĩa Marx. Nhưng còn gì giản lược hơn việc phớt lờ những động lực nền tảng của quyền lực kinh tế và cuộc xung đột giữa tư bản và lao động? Còn gì gây hiểu lầm hơn việc xem các nhóm nghề nghiệp như những giai cấp tự trị, chú ý đến mọi nhóm xã hội trong xã hội tư bản ngoại trừ chính giai cấp tư bản, và mọi xung đột xã hội ngoại trừ xung đột giai cấp?
Cả các nhà lý thuyết truyền thống lẫn các nhà lý thuyết ABC “cánh tả” đều gặp khó khăn trong việc hiểu rằng sự xuất hiện của một tầng lớp quản lý hay kỹ trị không hề tạo ra thay đổi căn bản nào trong quan hệ sở hữu của chủ nghĩa tư bản, cũng không tạo ra giai cấp mới. Những người chuyên môn và quản lý không phải là một giai cấp tự trị đúng nghĩa. Họ là những lao động trí óc sống khá hơn phần lớn người lao động khác, nhưng vẫn phục vụ quá trình tích lũy thay cho giới chủ doanh nghiệp.
Đấu tranh giai cấp hằng ngày
Để củng cố quan điểm rằng giai cấp (theo nghĩa Mác-xít) đã lỗi thời, các nhà lý thuyết ABC liên tục khẳng định rằng sẽ không có cuộc cách mạng công nhân nào ở Hoa Kỳ trong tương lai gần. (Tôi đã nghe quan điểm này được phát biểu ở ba hội thảo khác nhau trong “hội nghị Gramsci” tại Amherst, Massachusetts vào tháng 4 năm 1987.) Ngay cả khi đồng ý với lời tiên đoán đó, người ta vẫn có thể tự hỏi tại sao điều ấy lại trở thành cơ sở để bác bỏ phân tích giai cấp và kết luận rằng không hề tồn tại sự bóc lột lao động bởi tư bản, cũng như không có sự phản kháng từ những người phải lao động để kiếm kế sinh nhai.
Cuộc cách mạng nữ quyền, vốn được cho là sẽ biến đổi toàn bộ xã hội phụ quyền của chúng ta, cho đến nay vẫn chưa thành hiện thực. Nhưng không một người cấp tiến nào vì thế mà kết luận rằng phân biệt giới tính chỉ là ảo tưởng hay rằng các cuộc đấu tranh liên quan đến giới không có ý nghĩa lớn lao. Việc công nhân ở Hoa Kỳ chưa dựng chiến lũy trên đường phố không có nghĩa đấu tranh giai cấp là chuyện hoang đường. Trong xã hội ngày nay, cuộc đấu tranh ấy thấm vào gần như mọi hoạt động nơi làm việc. Giới chủ liên tục nghiền ép người lao động, còn người lao động thì không ngừng chống trả giới chủ.
Cuộc chiến giai cấp của tư bản được tiến hành thông qua các lệnh cấm của tòa án, luật chống lao động, đàn áp bằng cảnh sát, phá hoại công đoàn, vi phạm hợp đồng, xưởng lao động bóc lột, gian lận chấm công, vi phạm an toàn lao động, quấy rối và sa thải những công nhân phản kháng, cắt giảm lương và phúc lợi, chiếm đoạt quỹ hưu trí, sa thải hàng loạt và đóng cửa nhà máy. Lao động đáp trả bằng tổ chức công đoàn, đình công, làm việc cầm chừng, tẩy chay, biểu tình công khai, đấu tranh tại nơi làm việc, phối hợp nghỉ việc và phá hoại nơi sản xuất.
Giai cấp có một động lực vượt xa mức độ hiển hiện trực tiếp của nó. Dù chúng ta có nhận thức được hay không, thực tại giai cấp thấm sâu vào xã hội, quyết định phần lớn khả năng theo đuổi lợi ích của chính chúng ta. Quyền lực giai cấp là yếu tố định hình chương trình nghị sự chính trị, bầu cử lãnh đạo, đưa tin tức, tài trợ cho khoa học và giáo dục, phân phối chăm sóc y tế, tàn phá môi trường, kìm hãm tiền lương, chống lại bình đẳng chủng tộc và giới tính, tiếp thị giải trí và nghệ thuật, tuyên truyền tôn giáo, đàn áp bất đồng và thậm chí định nghĩa chính bản thân “thực tại xã hội”.
Các nhà lý thuyết ABC xem giai cấp công nhân không chỉ là không có khả năng cách mạng mà còn đang trên đường biến mất, suy giảm tầm quan trọng như một lực lượng xã hội. Bất kỳ ai vẫn cho rằng giai cấp là vấn đề trung tâm đều bị gán là Mác-xít ngoan cố, mắc phải “kinh tế luận” và “giản lược luận”, không theo kịp thời đại “hậu Mác-xít”, “hậu cấu trúc”, “hậu công nghiệp”, “hậu tư bản”, “hậu hiện đại” và “hậu giải cấu trúc”.
Điều mỉa mai là một số trí thức cánh tả lại xem phần lớn đấu tranh giai cấp là không còn liên quan đúng vào thời điểm quyền lực giai cấp đang ngày càng lộ rõ; đúng vào lúc sự tập trung doanh nghiệp và tích lũy lợi nhuận trở nên tham lam hơn bao giờ hết; hệ thống thuế ngày càng mang tính lũy thoái và áp bức; sự chuyển dịch thu nhập và của cải vào tay người giàu đang tăng tốc; tài sản công bị tư nhân hóa; tiền của doanh nghiệp kiểm soát tiến trình chính trị ngày càng mạnh; con người trong và ngoài nước phải làm việc nhiều hơn để nhận ít hơn; và trên toàn thế giới, nghèo đói đang gia tăng nhanh hơn cả tốc độ tăng dân số.
Có những người tân bảo thủ và trung dung chính thống lại thể hiện nhận thức về đấu tranh giai cấp rõ ràng hơn cả các nhà lý thuyết “cánh tả” ABC. Chẳng hạn, cựu tổng biên tập điều hành của New York Times, A. M. Rosenthal, xem cuộc tấn công kiểu “đốt sạch và chặt sạch” của Đảng Cộng hòa nhằm vào các chương trình xã hội là “không chỉ là một liều thuốc cho đấu tranh giai cấp mà còn là sự khởi đầu của hiện thực ấy” (New York Times, 21/3/1995). Rosenthal tiếp tục trích dẫn nhà tài phiệt Phố Wall Felix Rohatyn, người nhận xét rằng “những kẻ hưởng lợi lớn nhất từ sự mở rộng kinh tế của chúng ta chính là những người sở hữu tài sản tài chính”, trong điều có thể xem là “một sự chuyển dịch khổng lồ về của cải từ những người lao động trung lưu kỹ năng thấp sang các chủ sở hữu tài sản tư bản và tầng lớp quý tộc công nghệ mới”. “Ngày càng nhiều người lao động nhìn nhận bản thân chỉ như những tài sản có thời hạn có thể được thuê hoặc sa thải nhằm bảo vệ lợi nhuận cuối cùng và tạo ra ‘giá trị cho cổ đông’.”
Điều này chẳng nói lên điều gì tốt đẹp cho giới trí thức “cánh tả” ABC khi họ có thể bị vượt mặt về nhận thức giai cấp bởi chính những nhân vật thuộc giới tinh hoa như Rosenthal và Rohatyn.
Bám lấy bất cứ điều gì ngoại trừ giai cấp, những người cánh tả ở Mỹ ngày nay đã phát triển một loạt nhóm bản sắc xoay quanh các vấn đề sắc tộc, giới tính, văn hóa và lối sống. Những nhóm này xem các bất bình riêng của mình như một thứ tách biệt khỏi đấu tranh giai cấp, và hầu như không nói gì về bất bình đẳng kinh tế - chính trị đang ngày càng khắc nghiệt đang được áp đặt lên tất cả chúng ta. Các nhóm bản sắc có xu hướng nhấn mạnh tính riêng biệt và sự tách rời của mình với nhau, từ đó làm phân mảnh phong trào phản kháng. Dĩ nhiên, họ có những đóng góp quan trọng đối với các vấn đề đặc biệt nổi bật với họ - những vấn đề thường bị người khác bỏ quên. Nhưng họ cũng không nên xem nhẹ những lợi ích chung của mình, cũng như không nên bỏ qua kẻ thù giai cấp chung mà tất cả đều phải đối mặt. Những thế lực áp đặt bất công giai cấp và bóc lột kinh tế cũng chính là những kẻ truyền bá chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, phân biệt giới tính, chủ nghĩa quân phiệt, sự tàn phá môi trường, kỳ thị đồng tính, bài ngoại và những thứ tương tự.
Con người có thể không phát triển ý thức giai cấp, nhưng họ vẫn bị tác động bởi quyền lực, đặc quyền và bất lợi gắn liền với sự phân phối của cải và nhu cầu. Thực tại ấy không bị xóa bỏ bởi chủng tộc, giới tính hay văn hóa. Các yếu tố này vận hành bên trong một xã hội giai cấp tổng thể. Những đòi hỏi về quyền lực giai cấp và bóc lột định hình thực tại xã hội mà tất cả chúng ta đang sống trong đó. Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và phân biệt giới tính giúp tạo ra những tầng lớp lao động bị siêu bóc lột (các nhóm thiểu số và phụ nữ), đồng thời củng cố những quan niệm bất bình đẳng vốn cực kỳ hữu dụng đối với hệ thống tư bản chủ nghĩa.
Chấp nhận phân tích giai cấp không có nghĩa là phủ nhận tầm quan trọng của các vấn đề bản sắc, mà là nhìn thấy cách chúng liên hệ với nhau cũng như với toàn bộ cấu trúc quyền lực chính trị - kinh tế. Ý thức về quan hệ giai cấp giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về văn hóa, chủng tộc, giới tính và những vấn đề tương tự.
Của cải và Quyền lực
Để một số thiểu số được sống trong xa hoa tột bậc, hàng triệu người phải lao động cực nhọc suốt cả đời, không bao giờ thoát khỏi bất ổn về tài chính và phải đánh đổi bằng chính chất lượng cuộc sống của mình. Vấn đề không phải là giới siêu giàu có nhiều hơn người khác, mà là sự dư thừa và tích lũy không có giới hạn của họ diễn ra thông qua tước đoạt giá trị từ mọi người và mọi thứ khác - bao gồm cả cộng đồng và môi trường của chúng ta.
Những khối tài sản khổng lồ trao cho giai cấp sở hữu quyền kiểm soát không chỉ đối với sinh kế của hàng triệu người mà còn đối với cả đời sống công dân. Tiền bạc là yếu tố cần thiết mang lại cho giới giàu có ảnh hưởng chính trị to lớn, quyền sở hữu độc quyền đối với truyền thông đại chúng, cũng như khả năng tiếp cận các nhà vận động hành lang chuyên nghiệp và các chức vụ công quyền cấp cao. Đối với những kẻ sở hữu nó, khối tài sản khổng lồ còn mang lại uy tín xã hội và quyền thống trị văn hóa, bao gồm cả tư cách thành viên trong các hội đồng quản trị của các quỹ, trường đại học, viện bảo tàng, cơ sở nghiên cứu và các trường đào tạo chuyên nghiệp.
Tương tự như vậy, sự thiếu hụt tiền bạc là thứ khiến những người không có gì hoặc có rất ít trở nên tương đối bất lực, tước đoạt quyền tiếp cận của họ với truyền thông quốc gia và hạn chế nghiêm trọng ảnh hưởng của họ đối với những người ra quyết định chính trị. Khi khoảng cách giữa giới giàu có thuộc các tập đoàn và phần còn lại của chúng ta ngày càng nới rộng, các cơ hội cho sự dân chủ đại chúng cũng dần tan biến.
Có rất nhiều cuộc thảo luận về việc “làm thế nào để cân bằng giữa tự do và an ninh.” Lịch sử cung cấp vô số ví dụ về những nhà lãnh đạo, nhân danh an ninh quốc gia, đã sẵn sàng dập tắt những quyền tự do ít ỏi nhưng quý giá mà người dân có thể đã giành được sau nhiều thế hệ đấu tranh. Những thách thức đối với trật tự xã hội mang tính đặc quyền bị coi là những cuộc tấn công vào toàn bộ trật tự xã hội, là sự lao mình vào hỗn loạn và vô chính phủ. Các biện pháp áp bức được tuyên bố là cần thiết để bảo vệ người dân khỏi những mối nguy hiểm từ những kẻ khủng bố, những phần tử lật đổ, phe Đỏ (những người cộng sản), và những kẻ thù giả định khác, cả ở trong lẫn ngoài nước.
Hết lần này đến lần khác, chúng ta được yêu cầu phải lựa chọn giữa tự do và an ninh, trong khi thực tế là không có sự an ninh nào nếu thiếu đi tự do. Ở cả các chế độ độc tài lẫn các nền dân chủ, các cơ quan "an ninh quốc gia", hoạt động một cách lén lút và vô trách nhiệm, đã thường xuyên vi phạm cả quyền tự do lẫn sự an ninh của chúng ta, thực hiện mọi hình thức áp bức, tham nhũng và lừa lọc từng được biết đến.
Một khi đã kiểm soát được nhà nước, các nhóm lợi ích tài phiệt có thể sử dụng một hệ thống thuế lũy thoái để bắt công chúng phải chi trả cho các cơ quan áp bức — vốn là những công cụ thiết yếu cho sự thống trị của giới tinh hoa. Tuy nhiên, việc quản trị dân chủ có thể tỏ ra phiền toái, bởi nó kích động đủ loại đòi hỏi của dân chủ đại chúng và áp đặt những hạn chế lên việc tận hưởng một thị trường tự do không rào cản của các Tập đoàn lớn. Vì lý do này, những kẻ cầm lái chủ nghĩa tư bản và những người làm truyền thông bảo thủ của chúng ủng hộ cả một nhà nước mạnh được vũ trang bằng mọi quyền lực can thiệp sâu, lẫn một chính phủ yếu kém không có khả năng ngăn chặn sự lạm dụng của các tập đoàn hay phục vụ nhu cầu của quần chúng nhân dân thường nhật.
Bên cạnh những mệnh lệnh mang tính hệ thống khiến chủ nghĩa tư bản tích lũy không ngừng, chúng ta cũng phải tính đến động lực từ lòng tham của giai cấp. Của cải là một sự gây nghiện. Không có điểm dừng cho số tiền mà một kẻ có thể khao khát tích lũy. Sự đảm bảo tốt nhất cho việc trở nên giàu có là phải giàu hơn nữa, chất đống tài sản này lên tài sản khác, dâng mình cho auri sacra fames — lòng tham vàng đáng nguyền rủa, sự khao khát có nhiều tiền hơn mức có thể tiêu xài trong một ngàn kiếp sống hưởng lạc không giới hạn, không thiếu thứ gì nhưng vẫn muốn có thêm, và thêm nữa những tiền bạc.
Của cải mua được mọi sự tiện nghi và đặc quyền trong đời, sự nổi danh đi kèm với vận may, nâng vị thế kẻ sở hữu lên những tầng nấc xã hội cao nhất; nó là sự biểu đạt của cái tôi tự đại, một sự mở rộng ranh giới bản ngã, một sự kéo dài sự hiện diện của cá nhân ngay cả khi đã nằm dưới nấm mồ, khiến người ta cảm thấy bản thân gần như bất tử trước thời gian và cái chết.
Của cải được theo đuổi mà không có bất kỳ sự kiềm chế đạo đức nào. Những kẻ siêu giàu cố gắng nghiền nát bất cứ ai cản trở quá trình tích lũy vô tận, vô tâm và vô nguyên tắc của họ. Giống như bất kỳ cơn nghiện nào, tiền bạc được săn đuổi theo cách ám ảnh, vô đạo đức và phiến diện, bộc lộ sự coi thường hoàn toàn đối với đúng sai, công bằng hay bất công, một sự thờ ơ với những cân nhắc khác và lợi ích của người khác — thậm chí là cả lợi ích của chính họ nếu chúng nằm ngoài việc nuôi dưỡng cơn nghiện đó.
Chủ nghĩa tư bản là một hệ thống duy lý, một sự tối đa hóa quyền lực và lợi nhuận mang tính hệ thống được tính toán kỹ lưỡng, một quá trình tích lũy bắt rễ từ sự ám ảnh vật chất mà cuối cùng lại dẫn đến hậu quả phi lý là ngấu nghiến chính hệ thống đó — và mọi thứ khác cùng với nó.
Tận thế sinh thái, một màn kịch giai cấp
Vào năm 1876, người cộng sự của Marx, Frederick Engels, đã đưa ra một lời cảnh báo mang tính tiên tri: "Chúng ta đừng... quá tự mãn về những chiến thắng của con người đối với thiên nhiên. Bởi lẽ, sau mỗi chiến thắng ấy, thiên nhiên lại trả thù chúng ta... Ở mỗi bước đi, chúng ta đều được nhắc nhở rằng chúng ta không hề thống trị thiên nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc xa lạ, không giống như một kẻ đứng bên ngoài thiên nhiên — mà đúng hơn, với xương thịt, máu huyết và trí não, chúng ta thuộc về thiên nhiên, và tồn tại giữa lòng thiên nhiên...".
Với sự nhấn mạnh không ngừng vào sự bóc lột và bành trướng, cùng sự thờ ơ đối với các tổn thất về môi trường, chủ nghĩa tư bản dường như quyết tâm đứng bên ngoài thiên nhiên. Bản chất của chủ nghĩa tư bản, lẽ sống của của chủ nghĩa tư bản chính là biến thiên nhiên thành hàng hóa và biến hàng hóa thành tư bản, chuyển hóa Trái đất đầy sức sống thành của cải vô tri vô giác. Quá trình tích lũy tư bản này đang gây tàn phá nặng nề hệ thống sinh thái toàn cầu. Nó coi các nguồn tài nguyên duy trì sự sống của hành tinh (đất canh tác, nước ngầm, đất ngập nước, rừng, ngư trường, đáy đại dương, sông ngòi, chất lượng không khí) là những thành phần có thể vứt bỏ với nguồn cung vô tận, để rồi tiêu thụ hoặc đầu độc chúng theo ý muốn. Hệ quả là, các hệ thống hỗ trợ của toàn bộ hệ sinh thái—lớp vỏ mỏng manh của không khí trong lành, nước và lớp đất mặt của hành tinh—đang gặp nguy hiểm, bị đe dọa bởi những hiện tượng như sự nóng lên toàn cầu, xói mòn hàng loạt và sự suy giảm tầng ozone.
Sự nóng lên toàn cầu bắt nguồn từ việc phá rừng nhiệt đới, khí thải động cơ và các loại khí thải nhiên liệu hóa thạch khác vốn tạo ra "hiệu ứng nhà kính", giữ nhiệt sát bề mặt Trái đất. Khối lượng nhiệt tích tụ này đang làm thay đổi thành phần hóa học của khí quyển và các mô hình khí hậu trên khắp hành tinh, gây ra những đợt hạn hán kỷ lục, lũ lụt, sóng thần, bão tuyết, bão lớn, sóng nhiệt và sự mất độ ẩm đất nghiêm trọng. Giờ đây chúng ta hiểu rằng hành tinh này không có khả năng vô hạn trong việc hấp thụ lượng nhiệt sinh ra từ tiêu thụ năng lượng.
Một thảm họa tiềm tàng khác là sự thu hẹp của tầng ozone, lớp lá chắn bảo vệ chúng ta khỏi những tia bức xạ chết chóc nhất của mặt trời. Mỗi năm, hơn 2,5 tỷ pound hóa chất làm suy giảm tầng ozone được thải vào bầu khí quyển, dẫn đến tình trạng bức xạ tia cực tím quá mức, gây ra sự gia tăng đáng báo động của bệnh ung thư da và các bệnh tật khác. Bức xạ gia tăng đang hủy hoại cây cối, mùa màng, các rạn san hô và tiêu diệt các sinh vật phù du trong đại dương—vốn là nguồn cung cấp khoảng một nửa lượng oxy cho hành tinh. Nếu các đại dương chết đi, chúng ta cũng sẽ diệt vong.
Cùng lúc đó, sự gia tăng ô nhiễm và dân số đã gây ra mưa axit, xói mòn đất, bồi lắng các đường thủy, thu hẹp đồng cỏ, làm biến mất nguồn nước và các vùng đất ngập nước, cũng như xóa sổ hàng nghìn loài sinh vật, với hàng trăm loài khác đang nằm trong danh sách có nguy cơ tuyệt chủng.
Vào năm 1970, trong cái gọi là "Ngày Môi trường", Tổng thống Richard Nixon đã trầm ngâm: "Con người thật là một tạo vật kỳ lạ khi tự làm bẩn chính cái tổ của mình". Với phát ngôn đó, Nixon đã góp phần truyền bá huyền thoại rằng cuộc khủng hoảng sinh thái mà chúng ta đang đối mặt là vấn đề về hành vi cá nhân phi lý, thay vì mang quy mô xã hội. Trong thực tế, vấn đề không nằm ở sự lựa chọn cá nhân mà ở chính hệ thống tự áp đặt lên các cá nhân và định hình trước sự lựa chọn của họ. Đằng sau cuộc khủng hoảng sinh thái là thực tế về lợi ích giai cấp và quyền lực giai cấp.
Một chủ nghĩa tư bản không ngừng bành trướng và một hệ sinh thái mong manh, hữu hạn đang nằm trên một lộ trình va chạm thảm khốc. Không đúng khi cho rằng các nhóm lợi ích chính trị-kinh tế cầm quyền đang ở trong tình trạng phủ nhận điều này. Tệ hơn cả sự phủ nhận, họ đang ở trong trạng thái thù địch hoàn toàn đối với những ai cho rằng hành tinh này quan trọng hơn lợi nhuận của tập đoàn. Vì vậy, họ bôi nhọ các nhà môi trường học là “những kẻ khủng bố sinh thái”, “Gestapo của EPA”, “những kẻ gieo rắc báo động về Ngày Trái đất”, “những kẻ ôm cây”, và những kẻ tung ra “sự cuồng loạn Xanh” cũng như “những lời rỗng tuếch của phe cấp tiến”.
Một số nhà hoạt động môi trường tại đất nước này đã trở thành mục tiêu của các cuộc tấn công khủng bố do những kẻ thủ ác không danh tính thực hiện, với sự dung túng ngầm của các cơ quan thực thi pháp luật. Những kẻ chuyên chế ở những quốc gia như Nigeria, vốn cấu kết với các công ty dầu khí gây ô nhiễm, đã tiến hành những cuộc chiến tàn bạo lên các nhà môi trường học, thậm chí đi xa đến mức treo cổ nhà lãnh đạo quần chúng Ken Saro Wiwa.
Trong những năm gần đây, những người bảo thủ bên trong và bên ngoài Quốc hội, được thúc đẩy bởi những người vận động hành lang của tập đoàn, đã ủng hộ các biện pháp nhằm (1) ngăn cản Cơ quan Bảo vệ Môi trường trong việc giữ cho các chất thải độc hại không bị đổ vào các hồ và bến cảng, (2) loại bỏ hầu hết diện tích đất ngập nước vốn được dành làm khu bảo tồn, (3) phi quy chế hóa hoàn toàn (3) bãi bỏ hoàn toàn các quy định đối với việc sản xuất chlorofluorocarbons vốn làm suy giảm tầng ozone, (4) hầu như xóa sổ các tiêu chuẩn về nước sạch và không khí sạch, (5) mở cửa khu bảo tồn động vật hoang dã Bắc Cực nguyên sơ ở Alaska cho hoạt động khoan dầu và khí đốt, (6) cắt ngân sách cho các nỗ lực ngăn chặn nước thải thô đổ ra sông ngòi và bãi biển, (7) tư nhân hóa và mở cửa các công viên quốc gia cho việc phát triển thương mại, (8) giao những cánh rừng già ít ỏi còn sót lại cho việc khai thác gỗ không kiềm chế, và (9) bãi bỏ Đạo luật Các loài có nguy cơ tuyệt chủng. Tóm lại, ý định được tuyên bố công khai của họ là phá hủy hoàn toàn mọi sự bảo vệ môi trường của chúng ta, bất kể chúng có thiếu sót đến đâu.
Phe bảo thủ khẳng định rằng không hề có cuộc khủng hoảng môi trường nào cả. Họ cho rằng những tiến bộ công nghệ sẽ tiếp tục làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn cho ngày càng nhiều người hơn. Người ta có thể tự hỏi tại sao những nhóm lợi ích giai cấp giàu có và quyền lực lại chọn con đường phản môi trường mang tính tự sát này. Họ có thể phá hủy phúc lợi, nhà ở công cộng, giáo dục công, giao thông công cộng, an sinh xã hội, Medicare và Medicaid một cách ung dung mà không sợ bị trừng phạt, bởi vì họ và con cái họ sẽ không vì thế mà bị tước đoạt, do đã có quá đủ phương tiện để mua các dịch vụ tư nhân cho chính mình. Nhưng môi trường lại là một câu chuyện khác. Những người bảo thủ giàu có và các nhà vận động hành lang của tập đoàn cũng sinh sống trên cùng một hành tinh bị ô nhiễm như mọi người khác, ăn cùng một loại thực phẩm đầy hóa chất và hít thở cùng một bầu không khí độc hại.
Trên thực tế, họ không sống hoàn toàn giống như mọi người khác. Họ trải nghiệm một thực tại giai cấp khác biệt, cư trú ở những nơi mà không khí có phần tốt hơn so với các khu vực có thu nhập thấp và trung bình. Họ có quyền tiếp cận thực phẩm được nuôi trồng hữu cơ và được chuẩn bị đặc biệt. Các bãi rác độc hại và đường cao tốc của quốc gia thường không được đặt bên trong hoặc gần các khu phố sang trọng của họ. Thuốc trừ sâu không được phun lên cây cối và vườn tược của họ. Việc khai thác trắng rừng không làm hoang tàn các trang trại, điền trang hay những địa điểm nghỉ dưỡng của họ. Ngay cả khi họ hoặc con cái họ mắc phải những căn bệnh đáng sợ như ung thư, họ cũng không liên hệ bi kịch đó với các yếu tố môi trường—mặc dù các nhà khoa học hiện nay tin rằng hầu hết các bệnh ung thư đều bắt nguồn từ những nguyên nhân do con người tạo ra. Họ phủ nhận sự tồn tại của một vấn đề lớn hơn bởi chính họ là những kẻ tạo ra vấn đề đó và phần lớn của cải của họ có được là nhờ vào nó.
Nhưng làm thế nào họ có thể phủ nhận mối đe dọa về một tận thế sinh thái gây ra bởi sự suy giảm tầng ozone, hiện tượng nóng lên toàn cầu, sự mất lớp đất mặt và các đại dương đang chết dần? Liệu giới tinh hoa thống trị có muốn thấy sự sống trên Trái đất, bao gồm cả chính họ, bị hủy diệt không? Xét về lâu dài, họ thực sự sẽ là nạn nhân của chính những chính sách của mình, cùng với tất cả những người khác. Tuy nhiên, cũng giống như tất cả chúng ta, họ không sống trong cái “lâu dài” đó mà sống ở đây và ngay bây giờ. Đối với những lợi ích giai cấp của giới cầm quyền, thứ đang bị đe dọa là một điều gì đó mang tính cấp bách và đáng quan tâm hơn nhiều so với sinh thái toàn cầu: Đó chính là sự tích lũy tư bản toàn cầu. Số phận của sinh quyển chỉ là một sự trừu tượng so với số phận các khoản đầu tư của chính họ.
Hơn nữa, ô nhiễm mang lại lợi nhuận, trong khi sinh thái thì gây tốn kém. Mỗi đồng đô la mà một công ty phải chi cho việc bảo vệ môi trường là một đồng đô la lợi nhuận bị giảm đi. Sẽ có lợi hơn nếu đối xử với môi trường như một bể phốt, đổ hàng ngàn hóa chất độc hại mới vào bầu khí quyển mỗi năm, trút bỏ nước thải công nghiệp thô ra sông hoặc vịnh, biến các đường thủy thành những cống rãnh lộ thiên. Lợi ích lâu dài của việc bảo tồn một dòng sông chảy qua một cộng đồng (nơi mà những kẻ gây ô nhiễm thuộc khối tập đoàn dù sao cũng không sinh sống) không có trọng lượng bằng cái lợi tức thời đến từ các phương thức sản xuất gây tổn hại cho hệ sinh thái.
Các hệ thống năng lượng mặt trời, gió và thủy triều có thể giúp ngăn chặn thảm họa sinh thái, nhưng chúng sẽ mang lại thảm họa cho các tập đoàn dầu mỏ giàu có. Sáu trong số mười tập đoàn công nghiệp hàng đầu thế giới hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất dầu mỏ, xăng dầu và xe động cơ. Ô nhiễm từ nhiên liệu hóa thạch đồng nghĩa với hàng tỷ đô la lợi nhuận. Các hình thức sản xuất bền vững về mặt sinh thái đe dọa những lợi nhuận đó.
Lợi ích khổng lồ và cận kề cho bản thân là một sự cân nhắc thuyết phục hơn nhiều so với một sự mất mát lan rộng mà công chúng phải cùng gánh chịu. Cái giá của việc biến một khu rừng thành một vùng đất hoang chẳng thấm tháp gì so với lợi nhuận thu được từ việc khai thác gỗ.
Sự xung đột này giữa một bên là lợi ích cá nhân trước mắt và một bên là lợi ích công cộng xa vời vận hành ngay cả ở cấp độ người tiêu dùng cá nhân. Vì vậy, xét về lợi ích lâu dài, một người không nên vận hành xe cơ giới—thứ đóng góp vào sự tàn phá môi trường nhiều hơn bất kỳ mặt hàng tiêu dùng đơn lẻ nào khác. Nhưng chúng ta lại có nhu cầu cấp thiết về phương tiện giao thông để đi làm, hoặc thực hiện bất cứ công việc nào khác, do đó hầu hết chúng ta không có lựa chọn nào khác ngoài việc sở hữu và sử dụng ô tô.
“Văn hóa xe hơi” chứng minh rằng cuộc khủng hoảng sinh thái về cơ bản không phải là vấn đề cá nhân theo kiểu “con người đang làm bẩn chính cái tổ của mình”. Trong hầu hết các trường hợp, việc “lựa chọn” sử dụng xe hơi hoàn toàn không phải là một sự lựa chọn. Các hệ thống giao thông công cộng bằng xe điện tiết kiệm về mặt sinh thái và ít tốn kém hơn đã bị các ngành công nghiệp ô tô, dầu mỏ và lốp xe phá hủy một cách có chủ đích từ những năm 1930 thông qua các chiến dịch được tiến hành trên khắp đất nước. Các tập đoàn tham gia vào lĩnh vực giao thông vận tải đã đặt “nước Mỹ lên những bánh xe” nhằm tối đa hóa chi phí tiêu dùng của công chúng và lợi nhuận cho chính họ, mặc kệ môi trường hay bất cứ điều gì khác.
Lợi ích khổng lồ của các tập đoàn đa quốc gia lấn át cả những dự báo bi quan về một cuộc khủng hoảng sinh thái. Những cái đầu kinh doanh tỉnh táo từ chối bị cuốn vào sự "cuồng loạn" về môi trường, họ thà âm thầm gia tăng tài sản của mình. Bên cạnh đó, người ta luôn có thể tìm thấy một vài chuyên gia sẵn sàng đi ngược lại mọi bằng chứng và nói rằng vẫn chưa có kết luận cuối cùng, rằng không có bằng chứng thuyết phục nào để ủng hộ những người đang gióng lên hồi chuông cảnh báo. Bằng chứng thuyết phục trong trường hợp này sẽ chỉ xuất hiện khi chúng ta chạm tới điểm không thể vãn hồi.
Sinh thái học mang tính lật đổ sâu sắc đối với chủ nghĩa tư bản. Nó đòi hỏi một sự sản xuất có kế hoạch và bền vững về môi trường thay vì kiểu sản xuất tham lam, không được kiểm soát. Nó đòi hỏi sự tiêu dùng tiết kiệm thay vì một chủ nghĩa tiêu dùng liên tục mở rộng và được kích thích một cách nhân tạo. Nó kêu gọi các hệ thống năng lượng tự nhiên với chi phí thấp thay vì các hệ thống gây ô nhiễm, chi phí cao và đầy lợi nhuận. Những hàm ý của sinh thái học đối với chủ nghĩa tư bản là quá khủng khiếp để một kẻ tư bản có thể suy tính tới.
Những kẻ thuộc tầng lớp thượng lưu, những kẻ từng thuê những tên Áo đen (Chủ nghĩa phát xít) để tiêu diệt nền dân chủ vì lo sợ lợi ích giai cấp của chúng bị đe dọa, sẽ chẳng ngần ngại làm điều tương tự đối với “những kẻ khủng bố sinh thái”. Những kẻ từng tiến hành cuộc chiến không nương tay chống lại phe Đỏ (những người cộng sản) cũng sẽ chẳng khó khăn gì khi gây chiến với phe Xanh (những người bảo vệ môi trường). Những kẻ đã đẩy chúng ta vào tình cảnh đồng lương nghèo mạt, sự bóc lột, thất nghiệp, vô gia cư, sự suy thoái đô thị và các điều kiện kinh tế áp bức khác, cũng chẳng quá bận tâm về việc đẩy chúng ta vào cuộc khủng hoảng sinh thái. Giới tài phiệt gắn bó với của cải của chúng hơn là với Trái đất nơi chúng đang sống, quan tâm đến vận mệnh khối tài sản của mình hơn là vận mệnh của hành tinh này.
Cuộc chiến vì môi trường chính là một phần của cuộc đấu tranh giai cấp, một sự thật dường như đã bị nhiều nhà môi trường học bỏ qua. Thảm họa tận thế sinh thái đang cận kề là một màn kịch giai cấp. Nó được tạo ra bởi và vì lợi ích của một nhóm thiểu số, bằng cái giá phải trả của đa số quần chúng. Vấn đề là, lần này, màn kịch giai cấp ấy có thể kéo tất cả chúng ta xuống vực thẳm, một lần và mãi mãi.
Trong mối quan hệ giữa của cải và quyền lực, thứ đang bị đe dọa không chỉ là công lý kinh tế, mà là chính nền dân chủ và sự tồn vong của sinh quyển. Đáng tiếc thay, cuộc đấu tranh cho dân chủ và sự tỉnh táo về sinh thái khó lòng được thúc đẩy bởi các nhà lý thuyết ABC đầy rẫy biệt ngữ theo thời đại—những người coi giai cấp là một khái niệm lỗi thời và sẵn sàng xem xét bất cứ điều gì ngoại trừ thực tại của quyền lực thuộc chủ nghĩa tư bản. Về điểm này, họ chẳng khác là bao so với hệ tư tưởng thống trị mà họ tuyên bố là đang phản đối. Chính họ là những người cần phải quay trở lại thực tại của hành tinh này.