Chương 8: Dấu chấm hết cho chủ nghĩa Mác?

 


Có những người nói rằng chủ nghĩa Mác là một khoa học, mà cũng có người cho rằng nó chỉ là những giáo điều, và là sự tổng hợp của những sự rút gọn phản khoa học. Tôi cho rằng chủ nghĩa Mác, nếu nói là môn khoa học thực chứng, có thể đặt ra giả thiết và làm thí nghiệm để kiểm chứng, thì không phải; đúng hơn thì nó là một môn khoa học xã hội, dạy chúng ta cách để khái quát hóa theo cách có hệ thống, đi từ mặt ngoài cho tới chiều sâu của sự việc để ta hiểu được cả về cái chung và cái riêng và mối quan hệ giữa hai phạm trù đó như thế nào.

Chủ nghĩa Mác có một năng lực giải thích các sự việc vượt xa hẳn khoa học xã hội tư sản đại trà, bởi nó nghiên cứu những quy luật của quyền lực giai cấp và kinh tế chính trị - là động lực phát triển của xã hội và lịch sử. Cái nền tảng mang tính chất giai cấp của nền kinh tế chính trị lại chẳng mấy khi được nghiên cứu hay được chấp nhận trong nền khoa học xã hội đại trà. Năm 1915, Lenin đã viết rằng “khoa học [tư sản] sẽ không bao giờ chịu hiểu chủ nghĩa Mác, và luôn nói rằng nó đã bị bác bỏ và bị thủ tiêu rồi. Cả những học giả trẻ mới nhú lên nhờ vào việc chống chủ nghĩa xã hội, và cả những ông già khú khoắm cố níu lấy cái truyền thống của những hệ thống cũ nát, đều tấn công Mác hăng say như nhau cả.”

Hơn tám mươi năm sau, các nhà học giả hết lòng hăng say vì sự nghiệp vẫn cứ đang tuyên bố rằng chủ nghĩa Mác đã luôn được chứng minh là sai lầm rồi. Như cách tác giả theo chủ nghĩa tự do và chống cộng Irving Howe viết: “Những công thức đơn giản trong sách vở, kể cả của chủ nghĩa Mác, đã lỗi thời rồi. Đó là lí do mà nhiều người trong chúng tôi… không tự nhận bản thân là Mác-xít” (Newsday, 21/04/1986). Ở đây tôi muốn phản biện rằng chủ nghĩa Mác không hề đơn giản hay tụt hậu chút nào, điều đó chỉ nằm trong sự tưởng tượng của những người chống chủ nghĩa Mác như Howe mới vậy thôi.

Về vài kinh điển

Đứng trước sự sụp đổ của các chính quyền cộng sản ở Đông Âu và Liên Xô, những lời tuyên bố về ngày tàn của những “giáo điều Mác-xít” lại càng như tràn ngập khắp nơi. Nhưng công trình nghiên cứu lớn nhất của Marx là tập Tư bản, lại không xoay quanh “chủ nghĩa xã hội hiện thực”, vì thời điểm viết sao đã có, nhưng lại xoay quanh chủ nghĩa tư bản – là chủ đề vẫn còn mối liên hệ mật thiết với đời sống của chúng ta. Có lẽ sẽ hợp lý hơn nếu nói chủ nghĩa Mác lỗi thời khi mà chủ nghĩa tư bản sụp đổ, thay vì là khi chủ nghĩa xã hội sụp đổ. Tôi muốn nói rằng không những ngày nay Marx vẫn còn có chỗ đứng trong thời đại của chúng ta, mà thậm chí tầm quan trọng của ông ngày nay còn hơn cả ở thế kỉ mười chín, và ngày nay bộ máy của chủ nghĩa tư bản còn đang hoạt động mạnh mẽ hơn cả thời mà Marx còn đang nghiên cứu chúng.

Nói vậy không có nghĩa rằng tất cả những gì Marx và Engels tiên đoán đều đã thành thật. Những công trình nghiên cứu của họ không phải như lời tiên tri từ đâu rơi xuống, mà chắc chắn vẫn phải là một thứ khoa học chưa hoàn chỉnh (như tất cả các môn khoa học đều thế) hướng tới việc hiểu về cái chủ nghĩa tư bản đã vô tiền khoáng hậu mà đem dấu chân nhuốm máu của nó đi in hằn lên cả thế giới. Chủ nghĩa Mác có một vài định đề cơ bản như thế này:

Để duy trì sự sống, con người phải sản xuất. Con người không chỉ sống bằng bánh mì, nhưng họ cũng không thể sống thiếu bánh mì. Nói thế không có nghĩa là mọi hoạt động của con người đều có thể quy cho là đến từ các động cơ vật chất, mà có nghĩa là mọi hoạt động đều gắn liền với một điều kiện vật chất (cơ sở hạ tầng) nào đó. Một tác phẩm nghệ thuật có thể không mang động cơ kinh tế trực tiếp, nhưng việc sáng tạo ra nó sẽ là bất khả thi nếu không tồn tại những điều kiện vật chất cho phép người nghệ sĩ sáng tạo và trưng bày tác phẩm trước những độc giả, khán giả có thời gian dành cho nghệ thuật.

Những gì con người ta cần để sinh tồn đều được tìm thấy trong tự nhiên, nhưng hiếm khi ở dưới dạng có thể tiêu dùng ngay lập tức. Vì thế mà lao động trở thành điều kiện tiên quyết của sự tồn tại của nhân loại. Tuy nhiên, lao động không chỉ là phương thức để đảm bảo sự sinh tồn. Nó còn là một trong những phương tiện để con người phát triển đời sống vật chất và văn hóa, tiếp thu tri thức và hình thành các phương thức tổ chức xã hội mới. Những mâu thuẫn về lợi ích giai cấp nảy sinh xoay quanh lực lượng sản xuất sẽ định hình sự phát triển của một hệ thống xã hội. Khi chúng ta nói về các xã hội trồng trọt từ thời sơ khai, hay các xã hội chiếm hữu nô lệ, phong kiến, thương mại, hoặc tư bản công nghiệp, chúng ta đang thừa nhận rằng chính các quan hệ kinh tế cơ bản đã tạo ra đặc trưng của một trật tự xã hội nhất định.

Các nhà lý thuyết tư bản chủ nghĩa trình bày tư bản như một lực lượng sáng tạo mang tính quan phòng. Họ cho rằng tư bản đã hữu hình hóa và tạo cơ hội cho lao động; tư bản tạo ra sản xuất, việc làm, công nghệ mới và sự thịnh vượng chung. Những người theo chủ nghĩa Marx đảo ngược phương trình này. Họ lập luận rằng, tự thân tư bản không thể sản xuất ra bất cứ thứ gì; nó chính là thứ được tạo ra bởi lao động. Chỉ có lao động của con người mới có thể gây nên trang trại và nhà máy, máy móc và máy tính. Và trong một xã hội có giai cấp, của cải do số đông tạo ra như vậy lại tích tụ vào tay một số ít người; những người này sau đó nhanh chóng chuyển hóa quyền lực kinh tế thành quyền lực chính trị và văn hóa nhằm củng cố tốt hơn trật tự xã hội bóc lột đang ưu ái họ.

Thuyết "thẩm thấu dần" [trickle down] hay cho rằng sự tích lũy của cải ở tầng lớp thượng lưu cuối cùng sẽ mang lại nhiều thịnh vượng hơn cho những người còn lại ở bên dưới; rằng "nước lên thuyền lên". Tôi cho rằng trong một xã hội có giai cấp, chính sự tích tụ của cải mới thúc đẩy sự lan rộng của nghèo đói. Một số ít người giàu có sống dựa trên công sức của đa số người nghèo khổ. Không đời nào có những chủ nô giàu sang sống trong nhàn hạ mà thiếu đi khối lượng nô lệ không xu dính túi để duy trì lối sống xa hoa của họ; không đời nào có những lãnh chúa phong kiến sống trong nhung lụa mà thiếu đi những nông nô nghèo khổ không có ruộng đất – là những người phải cày cấy trên đất của lãnh chúa từ bình minh đến tối mịt. Cũng như thế, dưới chủ nghĩa tư bản, không đời nào có những ông trùm tài chính và tài phiệt công nghiệp nếu không có hàng triệu nhân viên bị trả lương bèo bọt và làm việc quá sức.

Sự bóc lột không chỉ được đo lường qua đồng lương bèo bọt, mà còn qua sự chênh lệch giữa giá trị thặng dư do người lao động tạo ra và mức thù lao mà họ nhận được. Vì thế mà một số vận động viên chuyên nghiệp dù nhận mức lương cao hơn đáng kể so với đại đa số người dân, nhưng nếu đem so với nguồn lợi nhuận khổng lồ mà họ tạo ra cho các ông chủ, đồng thời tính đến sự khắc nghiệt của công việc cũng như tuổi nghề thật ngắn ngủi, rồi những chấn thương phải gánh chịu, đi cùng với việc không có các phúc lợi trọn đời, thì có thể nói rằng họ đang bị bóc lột với tỷ suất cao hơn nhiều so với hầu hết những người lao động khác.

Các nhà hệ tư tưởng bảo thủ thường bảo vệ chủ nghĩa tư bản như là hệ thống bảo tồn văn hóa, các giá trị truyền thống, gia đình và cộng đồng. Những người Mác-xít sẽ đối đáp lại rằng chủ nghĩa tư bản đã hủy hoại những giá trị đó nhiều hơn bất kỳ hệ thống nào khác trong lịch sử, qua những cuộc chiến tranh, quá trình thuộc địa hóa và cưỡng bức di cư, các hoạt động rào đất chiếm hữu, trục xuất, lương không đủ sống, lao động trẻ em, tình trạng vô gia cư, thiếu việc làm, tội phạm, tệ nạn ma túy và những khu ổ chuột.

Trên toàn thế giới, khái niệm cộng đồng theo nghĩa rộng hơn — tức là Gemeinschaft [các mối quan hệ cộng đồng bền chặt tiền tư bản chủ nghĩa theo học thuyết của Ferdinand Tonnies] với các mối quan hệ xã hội hữu cơ và sự gắn kết tương hỗ chặt chẽ dựa trên những cái chung và các mối quan hệ họ hàng — đang bị tư bản toàn cầu cưỡng chế biến thành các mối quan hệ của thị trường đại chúng bị tha hóa và thương mại hóa. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Marx và Engels đã đề cập đến cái động lực không ngơi nghỉ của chủ nghĩa tư bản trong việc thiết lập sự hiện diện "trên khắp bề mặt địa cầu", tạo ra "một thế giới theo hình ảnh của chính nó". Không một hệ thống nào trong lịch sử lại tàn nhẫn hơn [chủ nghĩa tư bản] trong việc giết chết những nền văn hóa cổ xưa và mong manh, nghiền nát những tập tục hàng thế kỷ chỉ trong vài năm, xâu xé tài nguyên của toàn bộ các vùng miền và đưa cái trải nghiệm phong phú của nhân sinh vào một khuôn khổ.

Đại Tư bản không có sứ mệnh nào khác ngoài việc tích lũy tư bản; nó không có lòng trung thành với bất kỳ quốc gia, nền văn hóa hay dân tộc nào. Nó vận hành một cách không khoan nhượng theo cái mệnh lệnh đến từ bên trong chính nó là phải tích lũy với tốc độ cao nhất có thể, mà nhắm mắt những tổn thất về con người và môi trường. Quy luật đầu tiên của thị trường là phải tạo ra lợi nhuận lớn nhất có thể từ lao động của người khác. Không phải là nhu cầu của con người, mà là khả năng sinh lời, mới là cái yếu tố quyết định cho những sự đầu tư tư nhân. Thế là quy luật đó hệ thống hóa được những nỗ lực của con người nhằm đi đến việc thực hiện một mục tiêu hết sức phi lý về mặt xã hội: “Tích lũy, tích lũy, tích lũy.”

Đúng nhiều hơn Sai

Những người bác bỏ Marx thường cho rằng các dự đoán của ông về cuộc cách mạng vô sản đã được chứng minh là sai lầm. Từ đó, họ kết luận rằng những phân tích của ông về bản chất của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc hẳn cũng đã sai rồi. Nhưng chúng ta nên phân biệt giữa một Marx với tư cách nhà tư tưởng vĩ đại, là người đã đưa ra những dự đoán lạc quan và lớn lao về sự tiến tới của số phận con người, và một Marx với tư cách nhà kinh tế học và khoa học xã hội, là người đã cung cấp cho chúng ta những hiểu biết căn bản về xã hội tư bản mà cho đến tận ngày nay chúng ta vẫn phải đau đớn mà công nhận là đúng. Vế sau về Marx thường xuyên bị các tác giả chống Marx bóp méo. Hãy xem xét các dự đoán sau đây:

Về Chu kỳ Kinh doanh và Xu hướng Suy thoái. Marx đã lưu ý rằng có một thứ gì đó lớn lao hơn cả lòng tham chi phối sự theo đuổi lợi nhuận không ngừng nghỉ của nhà tư bản. Do áp lực cạnh tranh và mức lương ngày càng tăng cao, các nhà tư bản buộc phải cải tiến công nghệ để tăng năng suất và giảm chi phí lao động. Điều này tự thân nó lại tạo ra những vấn đề mới. Càng cần nhiều tư bản bất biến (như máy móc, nhà xưởng, công nghệ, nhiên liệu) cho quá trình sản xuất, thì chi phí cố định càng cao và áp lực tăng năng suất để duy trì biên lợi nhuận càng lớn.

Theo quan điểm của Marx, do người lao động không được trả lương đủ để mua lại toàn bộ hàng hóa và dịch vụ mà chính họ sản xuất ra, nên luôn tồn tại sự bất tương xứng giữa hàng hóa được sản xuất hàng loạt và tổng cầu. Khi cầu giảm, các chủ xưởng sẽ cắt giảm sản xuất và đầu tư. Ngay cả trong điều kiện nhu cầu thị trường ở mức cao, họ vẫn có xu hướng tinh giản lao động và ngày càng tăng cường độ bóc lột đối với những người lao động còn sót lại, đồng thời lợi dụng mọi cơ hội để cắt giảm phúc lợi và tiền lương. Hệ quả là sức mua của lực lượng lao động sụt giảm, làm cho tổng cầu lại càng giảm sâu và gây ra các cuộc suy thoái kinh tế và quay về quật cho các ông chủ xưởng những cú đau điếng nhất.

Marx đã dự đoán trước được xu hướng rằng lợi nhuận sẽ ngày càng giảm, cũng như sự xuất hiện của các giai đoạn suy thoái kéo dài và tình trạng bất ổn kinh tế. Như cách nhà kinh tế học Robert Heilbroner đã nói thì đó quả là một sự dự đoán phi thường, bởi lẽ vào thời của Marx, các nhà kinh tế học còn chưa công nhận rằng chủ nghĩa tư bản tất yếu phải có những thời kì lên rồi xuống, thịnh rồi suy. Tuy nhiên, ngày nay chúng ta đều biết rằng suy thoái cũng chẳng khác gì một cái bệnh kinh niên vậy—đúng như Marx tiên đoán—suy thoái đã trở thành hiện tượng toàn cầu.

Về Sự tích lũy tư bản. Khi bản Tuyên ngôn Đảng Cộng sản xuất hiện lần đầu vào năm 1848, các doanh nghiệp quy mô lớn vẫn là cái hiếm hoi mới thấy một lần. Thế nhưng, Marx đã đoán biết trước rằng các doanh nghiệp lớn rồi sẽ loại các đối thủ nhỏ hơn ra khỏi cuộc chơi hoặc thâu tóm được các đối thủ nhỏ hơn của mình, để càng ngày càng tiến đến thống trị thế giới kinh doanh, khi mà tư bản càng ngày càng trở nên tập trung [vào tay một doanh nghiệp nào đó/một ai đó]. Lối suy nghĩ ấy, khi đó không thịnh hành chút nào và nghe cũng khó tin với những người nào có quan tâm về vấn đề. Nhưng thực tế lại chứng minh rằng nó đúng. Thật vậy, tần suất của việc sáp nhập và mua lại [các công ty] trong những năm 1980 và 1990 đã cao hơn bất kỳ giai đoạn nào khác trong lịch sử chủ nghĩa tư bản.

Về Sự phát triển của giai cấp vô sản. Một dự đoán khác của Marx là giai cấp vô sản (những người lao động không có tư liệu sản xuất riêng, phải làm việc để nhận lương bằng cách bán sức lao động cho người khác) sẽ chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong lực lượng lao động. Vào năm 1820, khoảng 75% người Mỹ tự lao động được trên các trang trại, trong các doanh nghiệp nhỏ hoặc các xưởng thủ công. Đến năm 1940, con số đó đã giảm xuống còn 21,6%. Ngày nay, chưa đến 10% lực lượng lao động là những người hoạt động tự doanh/lao động tự do.

Sự dịch chuyển tương tự trong lực lượng lao động cũng có thể được thấy ở các nước thuộc Thế giới thứ ba. Từ năm 1970 đến năm 1980, số lượng công nhân làm công ăn lương ở châu Á và châu Phi đã tăng gần hai phần ba lần, từ 72 triệu lên 120 triệu người. Xu hướng chung là sự phát triển ổn định của giai cấp công nhân, bao gồm cả lao động trong ngành công nghiệp lẫn dịch vụ, và—đúng như Marx đã đoán biết được—điều ấy đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu, ở mọi vùng đất mà chủ nghĩa tư bản đặt chân đến.

Về Cách mạng vô sản. Chủ nghĩa tư bản mà phát triển thì giai cấp vô sản cũng vậy, như Marx đã nhìn thấu. Chúng ta đã thấy điều đó hoàn toàn chính xác. Tuy nhiên, ông còn tiến thêm một bước nữa: với sự khốn cùng và phân hóa ngày càng sâu sắc, quần chúng nhân dân cuối cùng sẽ đứng lên lật đổ giai cấp tư sản và đưa tư liệu sản xuất về thành công hữu vì lợi ích chung của tất cả mọi người. Cách mạng được dự báo sẽ bùng nổ tại các nước tư bản có công nghiệp phát triển hơn, là những nơi có giai cấp công nhân đông đảo và trưởng thành.

Điều khiến Marx ấn tượng về giai cấp vô sản chính là trình độ tổ chức và ý thức giai cấp của họ. Khác với các giai cấp bị áp bức qua những đời trước, giai cấp vô sản, được tập trung đông đảo ở các khu vực đô thị, dường như có khả năng đạt đến một trình độ phát triển chính trị mà trước nay chưa từng thấy ở đâu được. Họ không chỉ nổi dậy chống lại bọn áp bức bóc lột như những nô lệ hay nông nô từng làm, mà còn tạo ra một trật tự xã hội bình đẳng, không còn sự bóc lột, là điều chưa từng có trong lịch sử. Sinh thời, Marx đã nhìn thấy mầm mống của một hệ thống thay thế đang trỗi dậy trong các câu lạc bộ, hội cứu tế, tổ chức chính trị và các mặt báo của giai cấp công nhân Anh đang lớn mạnh nhanh chóng. Lần đầu tiên trong lịch sử, dòng chảy thời đại sẽ được chủ động viết nên và khắc thành hình bởi quần chúng nhân dân tự giác. Những cuộc nổi dậy tự phát sẽ được thay thế bằng cuộc cách mạng có ý thức giai cấp. Thay vì đốt phá dinh cơ, công nhân sẽ sung công và đưa chúng vào sử dụng phục vụ cho lợi ích tập thể của nhân dân lao động, là những người đã chính tay xây dựng những dinh cơ ấy.

Nhưng cũng phải công nhận thực tế là những dự đoán của Marx về cách mạng đã không trở thành hiện thực. Chưa từng có một cuộc cách mạng vô sản thành công nào diễn ra trong lòng một xã hội tư bản tiên tiến. Khi giai cấp công nhân phát triển, nhà nước tư bản cũng phát triển theo, đi kèm với chức năng bảo vệ giai cấp tư sản thông qua các cơ chế trấn áp bằng cảnh sát cùng sự thống trị về thông tin và văn hóa.

Trong quá trình đấu tranh giai cấp, không có hứa hẹn gì về thắng lợi tất yếu của giai cấp vô sản hay về cuộc cách mạng vô sản cả. Tình cảnh bức bách, bất công trong xã hội có thể như tiếng kêu than mong chờ cách mạng, nhưng không có nghĩa là rồi thể nào cũng sớm có cách mạng. Đây là điểm mà một số những người cánh tả ngày nay vẫn chưa thấu suốt được. Trong những năm cuối đời, chính Marx cũng bắt đầu hoài nghi về tính tất yếu của một cuộc cách mạng công nhân thắng lợi. Cho đến nay, lực lượng chiếm ưu thế không phải là cách mạng mà là phản cách mạng, là sự hủy diệt tàn khốc mà các nhà nước tư bản trút xuống các cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân, với cái giá phải trả là sinh mạng của hàng triệu người.

Marx cũng đã đánh giá thấp khả năng của các nhà nước tư bản tiên tiến trong việc ném tiền bạc và dùng quyền uy của mình để tạo ra hằng hà sa số các thiết chế để làm xao nhãng và làm ngu đi cái ý thức của nhân dân, hoặc làm giảm nhẹ sự bất mãn thông qua các chương trình cải cách. Trái với kỳ vọng của ông, các cuộc cách mạng thành công lại diễn ra ở những xã hội kém phát triển hơn với thành phần chủ yếu là nông dân như Nga, Trung Quốc, Cuba và Việt Nam—mặc dù giai cấp vô sản ở những nước này cũng có tham gia và đôi khi, như trong trường hợp của Nga năm 1917, thì còn đóng vai trò tiên phong trong việc nổi dậy cách mạng.

Mặc dù những dự báo của Marx về cách mạng đã không thành hiện thực như viễn cảnh ông hình dung, nhưng trong những năm gần đây, nhiều ví dụ nổi bật cho việc giai cấp công nhân đấu tranh vũ trang đã xuất hiện ở Hàn Quốc, Nam Phi, Argentina, Ý, Pháp, Đức, Anh và hàng chục nước khác, thậm chí là cả ở Mỹ. Những cuộc đấu tranh quần chúng như vậy lại thường không được truyền thông chính thống đưa tin. Giai đoạn 1984-1985 tại Anh, một cuộc đình công quyết liệt kéo dài một năm đã khiến khoảng 10.500 thợ mỏ bị bắt, 6.500 người bị thương hoặc bị hành hung, và 11 thợ mỏ hy sinh. Đối với những thợ mỏ người Anh đứng trong cuộc xung đột đó, đấu tranh giai cấp chắc hẳn không thể chỉ là một khái niệm cũ kĩ, lỗi thời.

Điều tương tự cũng đã diễn ra ở nhiều nước khác. Tại Nicaragua, quần chúng đã nổi dậy lật đổ chế độ độc tài Somoza bị căm ghét. Tại Brazil giai đoạn 1980-1983, tình hình như Peter Worsley quan sát rằng: “Giai cấp công nhân Brazil... đã làm tròn vai được giao cho họ trong lý thuyết Mác-xít thế kỷ XIX, làm tê liệt Sao Paulo bằng một chuỗi các cuộc tổng bãi công quy mô lớn, bắt đầu từ các vấn đề liên quan đến dân sinh cơ bản, nhưng cuối cùng đã buộc chính quyền quân sự phải đưa ra những nhượng bộ chính trị quan trọng, đặc biệt là việc khôi phục một phần đời sống sinh hoạt chính trị-đảng phái.” Các cuộc cách mạng thực sự là điều hiếm hoi xảy ra, nhưng phong trào đấu tranh quần chúng lại là cái rất phổ biến và nổ ra không ngừng.

Kẻ ăn không hết, người lần chẳng ra

Marx tin rằng khi của cải ngày càng tập trung vào tay một số ít người, tình trạng nghèo đói sẽ trở nên phổ biến hơn và hoàn cảnh của những người lao động sẽ càng ngày càng bị bần cùng hóa. Theo những người chỉ trích Marx thì dự đoán này là sai lầm. Họ chỉ ra rằng ông sáng tác giữa thời kỳ công nghiệp hóa sơ khai, kỷ nguyên của các tướng cướp và ngày làm việc mười bốn giờ. Thông qua đấu tranh bền bỉ, giai cấp công nhân đã cải thiện được điều kiện sống của mình từ giữa thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX. Ngày nay, các nhà phát ngôn chính thống thường mô tả nước Mỹ như một xã hội trung lưu thịnh vượng vậy.

Nhưng người ta có quyền đặt câu hỏi về những điều ấy. Trong kỷ nguyên Reagan-Bush-Clinton, từ năm 1981 đến năm 1996, tỷ trọng thu nhập quốc gia dành cho những người lao động đã giảm hơn 12%. Ngược lại, cái phần dành cho những người sống bằng nguồn thu đầu tư đã tăng gần 35%. Chưa đầy 1% dân số nắm trong tay gần 50% tổng tài sản của quốc gia. Những gia đình giàu có nhất có khối tài sản gấp hàng trăm lần so với một hộ gia đình trung bình thuộc nhóm 90% dân số ở tầng lớp dưới. Khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ở Mỹ hiện nay lớn hơn bất kỳ thời điểm nào trong hơn nửa thế kỷ qua và nó vẫn đang ngày càng mở rộng. Thế nên ta mới thấy, trong giai đoạn từ 1977 đến 1989, nhóm 1% giàu nhất đã tăng thu nhập của họ đến hơn 100%, trong khi ba nhóm thu nhập thấp nhất phải chịu giảm thu nhập thực tế trung bình từ 3% đến 10%.

Báo The New York Times (số ra ngày 20/06/1996) đã đưa tin rằng sự chênh lệch thu nhập vào năm 1995 “đã ở mức cao nhất kể từ khi kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ hai”. Thu nhập trung bình của nhóm 20% dẫn đầu đã vọt lên tới 44%, từ 73.754 USD lên 105.945 USD trong giai đoạn từ năm 1968 đến 1994; trong khi đó, nhóm 20% nghèo nhất chỉ ghi nhận mức tăng 7%, từ 7.202 USD lên 7.762 USD—tức là chỉ tăng thêm vỏn vẹn 560 USD nếu tính theo giá trị đồng đô la không đổi. Tuy nhiên, những con số này vẫn chưa phản ánh hết mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Bài báo ấy dựa trên một nghiên cứu của Cục Điều tra Dân số vốn dĩ đã bỏ sót thu nhập của tầng lớp siêu giàu. Trong nhiều năm, giới hạn thu nhập cao nhất có thể báo cáo được quy định là 300.000 USD mỗi năm. Đến năm 1994, cơ quan này đã nâng giới hạn cho phép lên mức 1 triệu USD. Như thế thì vẫn bỏ ra ngoài nhóm 1% giàu nhất—hàng trăm tỷ phú và hàng nghìn triệu phú chục-trăm triệu đô la, những người có thu nhập cao gấp nhiều lần mức 1 triệu USD một năm. Những dòng tiền thực sự khổng lồ tập trung vào một bộ phận dân cư nhỏ bé đến mức thường bị coi là không có ý nghĩa về mặt thống kê. Nhưng dù số lượng ít ỏi, khối tài sản mà họ kiểm soát là vô cùng lớn và cho thấy một sự chênh lệch thu nhập lớn gấp hàng nghìn lần so với cái mà số liệu của Cục Điều tra Dân số cho phép hiển thị. Do đó, sự khác biệt giữa một đại tỷ phú có thể kiếm được 100 triệu USD trong một năm bất kỳ với một người lao công kiếm được 8.000 USD không phải là tỷ lệ 14 : 1 (biên độ thường được báo cáo giữa mức cao nhất và thấp nhất), mà là hơn 14.000 : 1. Thế nhưng, những mức thu nhập cao nhất này vẫn không được báo cáo và không được thống kê. Nói tóm lại, hầu hết các nghiên cứu dạng này không cho chúng ta thấy được thực tế về việc tầng lớp siêu giàu thực sự giàu có đến mức nào.

Số lượng người sống dưới mức nghèo khổ tại Hoa Kỳ đã tăng từ 24 triệu người vào năm 1977 lên hơn 35 triệu người vào năm 1995. Người dân rơi vào tình trạng nghèo đói sâu sắc hơn so với các thời kỳ trước và ngày càng gặp nhiều khó khăn để thoát khỏi hoàn cảnh này. Bên cạnh đó, các loại bệnh tật liên quan đến nạn đói và nghèo nàn cũng đang có xu hướng gia tăng.

Tồn tại xu hướng thoái hóa về độ phát triển của lực lượng lao động. Các hình thức việc làm ổn định đang dần bị thay thế bởi lao động hợp đồng hoặc việc làm thời vụ, dẫn đến việc mức lương thấp đi, kèm với phúc lợi rất hạn chế hoặc không có. Nhiều công đoàn đã bị giải thể hoặc suy yếu nghiêm trọng. Các quy định bảo hộ của chính phủ đang bị bỏ qua một bên hoặc không được thực thi nghiêm túc, cùng với đó là sự gia tăng của tình trạng thúc ép tiến độ, tai nạn lao động và các hình thức lạm dụng khác trong quá trình lao động.

Đến thập niên 1990, tình trạng bần cùng hóa ngày càng gia tăng của tầng lớp trung lưu và giai cấp công nhân, bao gồm cả những người sản xuất nhỏ lẻ, đã trở nên rõ rệt tại nhiều quốc gia. Trong vòng hai mươi năm, hơn một nửa số nông dân ở các nước công nghiệp, khoảng 22 triệu người, đã rơi vào cảnh phá sản. Trong khi đó, như đã được đề cập ở hai chương trước, các cuộc “cải cách” thị trường tự do đã dẫn đến sự gia tăng đột biến tình trạng nghèo đói, nạn đói, tội phạm và tình trạng sức khỏe suy giảm, đi kèm với đó là sự tích tụ những khối tài sản khổng lồ vào tay một nhóm thiểu số tại các nước từng theo thể chế cộng sản.

Các nước thuộc Thế giới thứ ba đã phải chịu đựng tình trạng bần cùng hóa ngày càng sâu sắc trong suốt nửa thế kỷ qua. Khi đầu tư nước ngoài gia tăng, nỗi khổ của những người dân thường bị đày đi khỏi chính mảnh đất của mình cũng tăng theo vậy. Những người may mắn tìm được việc làm tại các đô thị buộc phải lao động với mức lương chỉ đủ duy trì sự sống tối thiểu. Chúng ta như lại nhớ lại đến các đạo luật rào đất [enclosure acts] vào cuối thế kỷ XVIII tại Anh, vốn đã ngăn cắt các vùng đất công cộng và đẩy người nông dân vào những cái lò hỏa ngục công nghiệp tại Manchester và London, biến họ thành những kẻ ăn xin hoặc những công nhân nhà máy luôn trong tình trạng thiếu ăn. Quá trình rào đất này vẫn đang tiếp diễn trên khắp Thế giới thứ ba, khiến hàng chục triệu người buộc phải rời bỏ quê hương.

Tại các nước như Argentina, Venezuela và Peru, thu nhập bình quân đầu người vào năm 1990 thấp hơn so với mức của hai mươi năm trước đó. Tại Mexico, thu nhập của người lao động vào năm 1995 đã giảm 50% so với năm 1980. Một phần ba dân số Mỹ Latinh, tương đương khoảng 130 triệu người, đang sống trong cảnh nghèo khổ cùng cực, trong khi hàng chục triệu người khác cũng chỉ vừa đủ để sống lay lắt. Tại Brazil, sức mua của các nhóm dân cư có thu nhập thấp đã giảm 50% trong giai đoạn từ năm 1940 đến năm 1990, và ít nhất một nửa dân số bị suy dinh dưỡng ở các mức độ khác nhau.

Tại phần lớn các khu vực của châu Phi, tình cảnh khổ cực và nạn đói đã chạm đến những mức độ kinh hoàng. Ở Zaire, 80% dân số sống trong cảnh nghèo đói cùng cực. Tại châu Á và châu Phi, hơn 40% dân số đang sống quanh mức độ chết đói. Marx từng dự báo rằng hệ thống tư bản chủ nghĩa đang bành trướng sẽ mang lại của cải lớn hơn cho một nhóm thiểu số và nỗi khốn cùng ngày càng chồng chất thêm cho đa số quần chúng. Có chăng đó chính là những điều đang diễn ra, trên một quy mô toàn cầu.

Một môn khoa học toàn diện

Dù liên tục bị gạt bỏ như một “học thuyết” lỗi thời, chủ nghĩa Marx vẫn giữ nguyên giá trị đầy thuyết phục ở thời hiện đại, bởi lẽ nó không hẳn là một hệ thống các giáo điều cố định mà thực ra là một phương pháp luận giúp ta nhìn thấu những cái biểu hiện mặt ngoài, để ta nhận diện được nội dung và các động lực đằng sau các quan hệ xã hội và tiến trình lịch sử. Như Marx từng nói: “Mọi khoa học đều sẽ trở nên thừa thãi nếu vẻ bề ngoài và bản chất của sự vật trực tiếp trùng khớp với nhau.” Thật vậy, có lẽ lý do khiến rất nhiều ngành khoa học xã hội hiện đại có vẻ thừa thãi là vì những môn khoa học ấy chỉ dừng lại ở việc tìm kiếm những biểu hiện mặt ngoài một cách tẻ nhạt.

Để thấu hiểu chủ nghĩa tư bản, trước hết ta cần phải bóc tách những lớp vỏ bề ngoài được phô trương ra từ hệ tư tưởng của chính nó. Khác với hầu hết các nhà lý luận tư sản, Marx nhận ra rằng bản chất thực sự của chủ nghĩa tư bản hoàn toàn khác biệt so với những gì nó tự tuyên bố. Cái độc đáo của chủ nghĩa tư bản chính là sự chiếm đoạt lao động có hệ thống vì mục đích duy nhất là tích lũy. Tư bản thôn tính lao động sống để tích lũy thêm nhiều tư bản hơn nữa. Mục đích cuối cùng của việc lao động không phải là để cung cấp dịch vụ cho người tiêu dùng hay duy trì sự sống và xã hội, mà là để kiếm ngày càng nhiều tiền hơn cho bọn chủ đầu tư, bất chấp mọi tổn thất về con người và môi trường.

Một điểm không thể tách rời trong sự phân tích Mác-xít là việc cấu trúc xã hội và trật tự giai cấp định hình hành vi của chúng ta theo nhiều cách khác nhau. Chủ nghĩa tư bản thâm nhập vào mọi lĩnh vực lao động và đời sống cộng đồng, khai thác toàn bộ đời sống xã hội để phục vụ cho mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận. Nó biến thiên nhiên, lao động, khoa học, nghệ thuật, âm nhạc và y tế thành hàng hóa, rồi từ hàng hóa chuyển hóa thành tư bản. Nó biến đất đai thành bất động sản, văn hóa dân gian thành văn hóa đại chúng, biến người dân thành những người lao động và những người tiêu dùng luôn trong tình trạng nợ nần.

Những người Mác-xít thấu hiểu rằng một xã hội có giai cấp không chỉ đơn thuần là một xã hội bị phân chia, mà là một xã hội được điều hành bởi quyền lực giai cấp, trong đó nhà nước đóng vai trò then chốt để duy trì cấu trúc giai cấp hiện tồn. Chủ nghĩa Marx có thể được xem là một khoa học toàn diện vì nó nhận diện được mối liên kết giữa các thành phần khác nhau của hệ thống xã hội. Chủ nghĩa tư bản không chỉ là một hệ thống kinh tế mà còn là một hệ thống chính trị và văn hóa, là một trật tự xã hội toàn diện. Khi nghiên cứu bất kỳ thành phần nào của trật tự đó, dù là truyền thông tin tức hay giải trí, tư pháp hình sự, Quốc hội, chi tiêu quốc phòng, can thiệp quân sự vào nước ngoài, các cơ quan tình báo, tài chính tranh cử, khoa học và công nghệ, giáo dục, chăm sóc y tế, thuế khóa, giao thông, nhà ở hay bất cứ lĩnh vực nào khác, chúng ta đều sẽ thấy cách mà từng bộ phận cụ thể phản ánh bản chất của cả hệ thống. Động lực riêng biệt của chúng thường củng cố và bị định hình bởi hệ thống xã hội lớn hơn—đặc biệt là nhu cầu tối thượng của hệ thống trong việc duy trì các đặc quyền của giai cấp [đại tư sản] tập đoàn.

Nhằm thực hiện chức năng duy trì hệ thống, các phương tiện truyền thông chính thống thường trình bày hiện thực như là các mảnh vụn nhỏ tổng hợp các sự kiện và chủ đề mà bề ngoài có vẻ ít liên quan đến nhau hoặc ít liên quan đến một sự tập hợp lớn hơn của các quan hệ xã hội. Chúng ta cùng nhìn vào một hiện tượng cụ thể như phân biệt chủng tộc. Phân biệt chủng tộc thường được mô tả chủ yếu như một tập hợp các thái độ tiêu cực của những kẻ phân biệt chủng tộc. Có rất ít sự phân tích về việc tại sao thái độ như vậy lại thật cần thiết đối với [việc duy trì] một xã hội có giai cấp. Thay vào đó, sắc tộc và giai cấp bị đối xử như những khái niệm loại trừ lẫn nhau và cạnh tranh với nhau. Tuy nhiên, ai hiểu về quyền lực giai cấp đều biết rằng khi các mâu thuẫn giai cấp ngày càng sâu sắc và bộc lộ rõ rệt, vấn đề phân biệt chủng tộc không trở nên kém quan trọng mà trái lại, nó trở thành một yếu tố quan trọng hơn trong đấu tranh giai cấp. Nói tóm lại, cả vấn đề dân tộc và giai cấp đều có khả năng trở thành những đấu trường đấu tranh quyết định trong cùng một lúc

Những người Mác-xít khẳng định thêm rằng phân biệt chủng tộc không chỉ bao gồm thái độ cá nhân mà còn liên quan đến cấu trúc thể chế và quyền lực mang tính hệ thống. Họ chỉ ra rằng các tổ chức và tư tưởng phân biệt chủng tộc thường được truyền bá bởi các lực lượng phản động có nguồn lực tài chính dồi dào, nhằm mục đích chia rẽ quần chúng lao động, khiến họ tự mâu thuẫn lẫn nhau và phân mảnh thành các nhóm sắc tộc xung đột lẫn nhau.

Những người Mác-xít cũng chỉ ra rằng phân biệt chủng tộc được sử dụng như một cách để kìm hãm tiền lương bằng cách duy trì một phần của lực lượng lao động luôn trong tình trạng dễ phải chịu siêu bóc lột. Việc nhìn nhận hiện tượng phân biệt chủng tộc trong bối cảnh rộng lớn hơn của xã hội tập đoàn [tư bản chủ nghĩa] chính là bước chuyển từ những lời than phiền mang tính tự do tư sản sang một sự phân tích mang tính triệt để. Thay vì coi phân biệt chủng tộc là một sản phẩm phi lý của một hệ thống về cơ bản là hợp lý và không có gì sai, chúng ta nên nhìn nhận nó như một sản phẩm hợp lý của một hệ thống vốn dĩ phi lý và bất công. Ở đây, "hợp lý" của tôi ý chỉ rằng nó là cái hoàn toàn có mục đích và vai trò trong việc duy trì hệ thống đã nuôi dưỡng chính nó.

Do thiếu một cách tiếp cận toàn diện đối với xã hội, khoa học xã hội truyền thống có xu hướng chia tách các trải nghiệm xã hội thành những ngăn riêng biệt. Vì vậy, chúng ta thường được yêu cầu suy ngẫm liệu hiện tượng này hay hiện tượng kia mang tính văn hóa, kinh tế hay tâm lý, trong khi thực tế chúng thường là sự tổng hợp của tất cả các yếu tố đó. Chẳng hạn, một chiếc ô tô chắc hẳn phải là một tạo vật kinh tế, nhưng nó cũng mang các thành phần văn hóa và tâm lý, thậm chí là cả mặt thẩm mỹ. Chúng ta cần có một cảm quan sâu sắc hơn về việc làm thế nào mà những hiện tượng mà khi phân tích thì thuộc về những mặt khác biệt, lại thường có mối liên hệ hữu cơ ở ngoài đời thực, và thậm chí có thể tác động qua lại và định hình lẫn nhau.

Người Mác-xít không chấp nhận quan điểm phổ biến coi các thể chế chỉ đơn thuần là “nó chỉ tồn tại ở đấy thôi” vô tư như núi rừng — đặc biệt là đối với các thể chế chính thức có cấu trúc chặt chẽ như giáo hội, quân đội, cảnh sát, đại học, truyền thông, y tế và các tổ chức tương tự. Các thể chế này bị định hình mạnh mẽ bởi lợi ích giai cấp và quyền lực giai cấp. Thay vì là những thành lũy trung lập và độc lập, các thể chế lớn của xã hội đều có mối liên kết chặt chẽ với giai cấp đại tư sản. Các đại diện của tập đoàn thực thi quyền ra quyết định trực tiếp thông qua việc kiểm soát các hội đồng quản trị và các vị trí quản lý. Giới siêu giàu thường kiểm soát ngân sách và chính tài sản của các thể chế khác nhau, một sự kiểm soát được ghi vào giấy trắng mực đen trong các điều luật thông qua các điều lệ tập đoàn và được thực thi bởi quyền lực hành pháp của nhà nước. Quyền lực của họ kéo dài đến cả việc lựa chọn người quản lý, thiết lập các chính sách và giám sát hiệu quả làm việc của nhân viên.

Nếu để nói khoa học xã hội truyền thống tận tâm tận lực làm một điều gì đó nhất, thì hẳn phải là việc nó phớt lờ các mối liên kết giữa hành động xã hội và những yêu cầu mang tính hệ thống của chủ nghĩa tư bản, và cùng một lúc né tránh bất kỳ góc nhìn nào về quyền lực với thuộc tính giai cấp, hay bất kỳ quan điểm nào coi giai cấp như một mối quan hệ quyền lực. Đối với các nhà nghiên cứu truyền thống, quyền lực được nhìn nhận như một thứ gì đó không thống nhất và luôn biến đổi, còn giai cấp không gì hơn là một cách phân loại nghề nghiệp hay mức thu nhập để đem ra so với xu hướng bầu cử, phong cách tiêu dùng hay những cái tương tự. Họ không coi giai cấp là một mối quan hệ giữa những người có của và những người phải làm thuê cho những người đó.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Marx, không thể tồn tại một giai cấp mà tự bản thân nó tồn tại mà không cần dựa vào cái gì khác. Không thể có lãnh chúa nếu thiếu nông nô, không có chủ nô nếu thiếu nô lệ, và không có nhà tư bản nếu thiếu công nhân. Hơn cả là một cách phân chia trong xã hội học, giai cấp còn là mối quan hệ đối với tư liệu sản xuất, đối với quyền lực xã hội và quyền lực nhà nước. Ý tưởng này, đáng ra là nền tảng để hiểu về chính sách công, lại bị các nhà khoa học xã hội truyền thống làm gì cũng được miễn không phải nhìn vào thực tế về quyền lực giai cấp, né tránh.

Thực sự phải kinh ngạc khi thấy một số nhà khoa học chính trị đã nghiên cứu về thiết chế Tổng thống và Đại nghị trong nhiều thập kỷ mà không thốt ra một chữ về chủ nghĩa tư bản, hay thậm chí không thèm đoái hoài xem là những cái khách quan thiết yếu của hệ thống kinh tế chính trị tư bản chủ nghĩa đóng vai trò quan trọng như thế nào trong việc định hình những vấn đề chính trị. Khoa học xã hội ngày nay đầy rẫy những “nghiên cứu quyền lực cộng đồng” mà ngày ngày xem các cộng đồng và các vấn đề như là cái gì đó tồn tại độc lập khỏi xã hội. Những nghiên cứu như vậy thường bị giới hạn trong sự tương tác tức thời giữa các chủ thể chính sách, mà rất ít khi đề cập đến việc các vấn đề có mối liên quan đến những quan hệ lợi ích trong xã hội như thế nào.

Những định kiến tư tưởng bảo thủ thường xuyên gây ảnh hưởng đến các chiến lược nghiên cứu của hầu hết các nhà khoa học xã hội và các nhà phân tích chính sách. Ví dụ, trong khoa học chính trị:

(1) Mối quan hệ giữa các nước tư bản công nghiệp và các nước Thế giới thứ ba được mô tả là (a) "sự phụ thuộc" và "sự phụ thuộc lẫn nhau" và là việc thúc đẩy một sự phát triển đôi bên cùng có lợi, thay vì là (b) một dạng chủ nghĩa đế quốc bào mòn đất đai, lao động và tài nguyên của các quốc gia yếu thế vì lợi ích của các giai cấp có đặc quyền ở cả thế giới công nghiệp lẫn thế giới kém phát triển.

(2) Mỹ và các xã hội "dân chủ tư sản" khác được cho là được gắn kết với nhau bởi (a) các giá trị chung phản ánh lợi ích chung, chứ không phải bởi (b) quyền lực và sự thống trị giai cấp.

(3) Sự phân mảnh quyền lực trong hoạt động chính trị được cho là biểu hiện của (a) sự biến thiên không ngừng và dân chủ hóa của việc đa nguyên, nhiều nhóm lợi ích, thay vì là (b) sự thâu tóm và xây dựng quyền lực theo những cách vô trách nhiệm và phi dân chủ.

(4) Việc truyền bá rộng rãi những quan điểm chính trị truyền thống được diễn tả là (a) "xã hội hóa" chính trị và "giáo dục quyền công dân", và được coi là một điều gì đó đáng mong đợi, thay vì là (b) một sự nhồi sọ làm sai lệch dòng thông tin và bóp chết tư duy phản biện của quần chúng.

Trong mỗi trường hợp này, các học giả chính thống đưa ra phương án a không phải như một kết quả nghiên cứu mà như một giả định tiên nghiệm không cần đến sự phân tích phản biện, và từ đó các nghiên cứu tiếp theo được xây dựng dựa trên giả định này. Cùng với đó thì họ phớt lờ những bằng chứng và nghiên cứu ủng hộ phương án b.

Bằng cách lờ đi các điều kiện giai cấp thống trị tác động lên hành vi xã hội, khoa học xã hội truyền thống có thể dừng lại ở những sự thật mang tính bề mặt, trong lúc cố giải thích các hành động nhất thời bằng những thuật ngữ cũng nhất thời chẳng kém. Cách nhìn như thế ưu tiên diễn giải theo kiểu như chúng chỉ là cái phụ phẩm không có ý nghĩa gì và đều là những cái rất rất đặc thù, hay là theo kiểu dựa vào cái khác biệt của từng người và tình huống cụ thể. Điều thường xuyên bị bỏ qua trong việc nghiên cứu như vậy (cũng như trong các bản tin thời sự, các quan sát hàng ngày, và đôi khi ngay cả trong các cuộc đấu tranh chính trị của chúng ta) chính là cách mà những thế lực mà chẳng biết từ đâu đưa đến lại có thể định hình trước những trải nghiệm của chúng ta.

Học cách đặt câu hỏi Vì sao

Khi chúng ta tư duy mà thiếu đi nhãn quan của Marx, tức là không xem xét đến lợi ích giai cấp và quyền lực giai cấp, chúng ta hiếm khi tự hỏi vì sao những sự việc như thế này hay thế kia lại xảy ra. Có rất nhiều sự kiện được đưa tin nhưng lại có rất ít sự kiện được giải thích thỏa đáng. Người ta nói rất ít về cách thức trật tự xã hội được tổ chức và lợi ích của người nào đang thắng thế. Khi thiếu đi một hệ quy chiếu để giải thích lý do tại sao mọi thứ diễn ra, chúng ta bị đẩy vào tình cảnh phải nhìn thế giới theo cách của những chuyên gia trên truyền thông chính thống: như một dòng chảy của các sự kiện, những mảnh vỡ của các diễn biến khác nhau và những con người riêng lẻ không liên quan gì đến một tập hợp các quan hệ xã hội rộng lớn hơn – được thúc đẩy bởi sự ngẫu nhiên, hoàn cảnh, những ý định mơ hồ hay tham vọng cá nhân, chứ không bao giờ là do cái quyền lực của lợi ích giai cấp - ấy vậy mà, lúc nào lúc nấy cái góc nhìn ấy cũng đều tạo ra những thành quả phục vụ cho những lợi ích ấy.

Thế là chúng ta thất bại trong việc liên kết các vấn đề xã hội với những lực lượng kinh tế - xã hội đã tạo ra chúng, và chúng ta học cách tự cắt xén tư duy phản biện của chính mình. Hãy thử tưởng tượng nếu chúng ta nỗ lực thực hiện một điều gì đó khác; ví dụ, nếu chúng ta cố gắng giải thích rằng sự giàu có và nghèo đói cùng tồn tại không phải do một sự sắp đặt tình cờ, mà bởi vì sự giàu có gây ra nghèo đói, là một kết quả tất yếu của sự bóc lột kinh tế cả ở trong nước và nước ngoài. Làm thế nào để một sự phân tích như thế có thể có tiếng tăm trên truyền thông tư bản hay trong đời sống chính trị chính thống?

Giả sử chúng ta bắt đầu bằng một câu chuyện cụ thể về việc lao động trẻ em ở Indonesia được các tập đoàn đa quốc gia thuê với mức lương gần như chết đói. Thông tin như thế chắc sẽ không được đăng trên các báo cánh hữu, nhưng vào năm 1996, nó đã xuất hiện trên báo chí chính thống trung lập sau nhiều thập kỷ nỗ lực của các nhà hoạt động. Điều gì sẽ xảy ra nếu sau đó chúng ta tiến thêm một bước nữa và nói rằng cái quan hệ chủ - thợ bóc lột này được hậu thuẫn bởi toàn bộ sức mạnh của chính quyền quân sự Indonesia? Số trang tin đăng tải bài báo như thế sẽ còn ít hơn nữa, nhưng nó vẫn có thể được nhắc đến ở một trang trong của tờ New York Times hay Washington Post.

Tiếp đến, ta thử giả sử chúng ta lại tiến thêm bước nữa và nói rằng những sự sắp đặt đàn áp này sẽ không thể tồn tại nếu không có viện trợ quân sự hào phóng từ Mỹ, và rằng trong gần ba mươi năm qua, lực lượng quân đội uống máu đồng bào của Indonesia đã được tài trợ, trang bị vũ khí, tư vấn và huấn luyện bởi bộ máy an ninh quốc gia Mỹ. Một câu chuyện như vậy thậm chí còn ít có khả năng xuất hiện trên báo chí tự do tư sản hơn, nhưng vì nó vẫn là một vấn đề cụ thể và nằm trong vùng an toàn khi chưa đưa ra một sự phân tích giai cấp tổng thể, nên nó vẫn có thể len lỏi vào các báo xã luận thiên tả, thiên tự do tư sản như tờ Nation hay Progressive.

Bây giờ, hãy giả sử chúng ta chỉ ra rằng những điều kiện tồn tại ở Indonesia—sự bóc lột kinh tế tàn nhẫn, sự đàn áp quân sự dã man và sự hỗ trợ hào phóng từ phía Mỹ—cũng đang hiện hữu tại hàng chục quốc gia khác. Giả sử chúng ta bước qua ranh giới nghiêm trọng nhất: thay vì chỉ than vãn về thực tế này, chúng ta đặt câu hỏi tại sao các chính quyền Mỹ kế tiếp nhau lại dấn thân vào những hoạt động xấu xa như vậy trên khắp thế giới. Và điều gì sẽ xảy ra nếu sau đó chúng ta cố gắng giải thích rằng toàn bộ hiện tượng này nhất quán với tôn chỉ của Mỹ trong việc biến thế giới thành nơi an toàn cho thị trường tự do và các tập đoàn đa quốc gia khổng lồ, và rằng các mục tiêu của nó là (a) tối đa hóa cơ hội tích lũy tiền tài bằng cách kéo mức lương của người lao động trên toàn thế giới đi xuống và ngăn cản họ tổ chức đấu tranh vì lợi ích của chính mình, và (b) bảo vệ hệ thống tích lũy tư bản tự do toàn cầu.

Sau đó, điều gì sẽ xảy ra nếu từ tất cả những điều này, chúng ta kết luận rằng chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ không hề nhu nhược như phe bảo thủ vẫn nói, cũng chẳng hề dốt nát như phe cấp tiến vẫn nhận định, mà trái lại, nó đã thành công rực rỡ trong việc đẩy lùi hầu hết các chính phủ và các phong trào xã hội có ý định phục vụ nhu cầu của nhân dân thay vì phục vụ lòng tham của các tập đoàn tư nhân.

Một sự phân tích như vậy, dù mới chỉ là nói qua qua ở đây, sẽ cần nhiều nỗ lực để trình bày chi tiết và nó sẽ chính là một sự phê phán theo quan điểm Mác-xít—một sự phê phán đúng đắn—về chủ nghĩa tư bản đế quốc. Mặc dù không chỉ các nhà Mác-xít mới có thể đi đến kết luận này, nhưng gần như chắc chắn nó sẽ không được xuất bản ở bất cứ đâu ngoại trừ trong một ấn phẩm Mác-xít. Chúng ta đi quá xa rồi. Bởi vì chúng ta đã cố gắng giải thích một tình huống cụ thể (lao động trẻ em) dưới góc độ của một tập hợp các quan hệ xã hội rộng lớn hơn (quyền lực giai cấp tập đoàn), bài trình bày của chúng ta sẽ bị bác bỏ ngay lập tức và bị coi là “tuyên truyền ý thức hệ”. Những điều cấm kỵ trong nhận thức do các quyền lực thống trị áp đặt đã dạy con người ta tránh tư duy phản biện về chính các quyền lực đó. Ngược lại, chủ nghĩa Marx giúp chúng ta rèn luyện thói quen đặt câu hỏi vì sao, và cả thói quen nhìn ra mối liên kết giữa các sự kiện chính trị với quyền lực giai cấp.

Một phương pháp phổ biến để hạ thấp giá trị của chủ nghĩa Marx là bóp méo những gì nó thực sự nói và sau đó tấn công vào sự bóp méo đó. Điều này khá thường xuyên xảy ra vì hầu hết các nhà phê bình chống Marx và những người theo dõi họ đâu có hiểu biết mấy về các tác phẩm Mác-xít, nên họ phải dựa vào những sự châm biếm do chính họ nghĩ ra. Vì thế mà Thư mục vụ của Giáo hội Công giáo La Mã về Chủ nghĩa Cộng sản Mác-xít đã bác bỏ tuyên bố rằng “cuộc cách mạng cấu trúc [ý là, giai cấp] có thể chữa khỏi hoàn toàn một căn bệnh mang tên chính con người” hay nó có thể đưa ra “giải pháp cho mọi nỗi đau khổ của nhân loại”. Nhưng ai lại đi tuyên bố như thế? Không thể phủ nhận rằng cách mạng không chữa khỏi hoàn toàn mọi nỗi đau khổ của con người. Nhưng tại sao nhận định ấy lại được sử dụng như một lời bác bỏ chủ nghĩa Marx? Hầu hết những người Mác-xít không phải là những kẻ tin vào ngàn năm thái bình hay những kẻ không tưởng. Họ không mơ về một xã hội hoàn hảo mà về một cuộc sống tốt đẹp hơn, công bằng hơn. Họ không tuyên bố sẽ xóa bỏ mọi đau khổ, và nhận ra rằng ngay cả trong những xã hội tốt đẹp nhất cũng có sự xuất hiện không thể tránh khỏi của bất hạnh, cái chết và những đau thương khác của cuộc sống. Và chắc chắn trong bất kỳ xã hội nào cũng có một số người, vì lý do này hay lý do khác, có xu hướng thực hiện các hành vi sai trái và tham nhũng trục lợi cá nhân. Bản chất con người đầy rẫy sự khiếm khuyết lẽ ra phải càng làm chúng ta quyết tâm hơn trong việc không để quyền lực và của cải tích tụ vào tay một số ít người vô trách nhiệm, vốn là cái cốt lõi của chủ nghĩa tư bản.

Chủ nghĩa tư bản và các thiết chế khác nhau của nó ảnh hưởng đến những mặt cá nhân nhất của cuộc sống hàng ngày theo những cách không dễ mà thấy được. Phương pháp luận Mác-xít giúp chúng ta nhận thức được những mối liên kết mà trước đây chúng ta mù mờ, giúp liên kết những hệ quả với các nguyên nhân, và thay thế những cái tùy tiện và bí ẩn bằng cái quy luật và tất yếu. Nhãn quan Mác-xít giúp chúng ta thấy sự bất công bắt nguồn từ các nguyên nhân mang tính hệ thống vượt ra ngoài lựa chọn cá nhân, và nhìn nhận những diễn biến quan trọng không như những sự kiện trung lập mà là những hệ quả có chủ đích của quyền lực và lợi ích giai cấp. Chủ nghĩa Marx cũng chỉ ra cách mà ngay cả những hệ quả không đoán trước được cũng có thể được lợi dụng bởi những bọn có quyền uy để phục vụ cho lợi ích của chúng.

Ngày nay chủ nghĩa Marx có còn giá trị không? Có đấy, nếu bạn muốn biết tại sao truyền thông lại bóp méo tin tức theo một chiều hướng chủ lưu áp đảo; tại sao ngày càng nhiều người ở trong nước và nước ngoài phải đối mặt với nghịch cảnh về kinh tế trong khi tiền của cứ tiếp tục tích tụ vào tay một số ít người; tại sao lại có quá nhiều sự giàu sang cá nhân đi kèm với sự nghèo nàn trong cộng động ở đất nước này và những nơi khác; tại sao quân đội Mỹ lại thấy cần thiết phải can thiệp vào rất nhiều khu vực trên thế giới; tại sao một nền kinh tế giàu có và năng suất lại có những đợt suy thoái kinh niên, tình trạng thiếu việc làm và sự thờ ơ đối với các nhu cầu xã hội; và tại sao nhiều quan chức chính trị không sẵn lòng hoặc không thể phục vụ lợi ích cộng đồng.

Một số nhà lý luận Mác-xít đã lỡ bay cao lên chín tầng mây cực lạc của tư duy trừu tượng đến mức họ hiếm khi chạm tới những thực tế chính trị dưới mặt đất. Họ dành thời gian để trò chuyện với nhau bằng những mật mã tự nghĩ ra, một cái lễ nghi mà Doug Dowd đã mô tả là “Có bao nhiêu nhà Mác-xít có thể nhảy múa trên đầu một giá trị thặng dư”. May mắn thay, vẫn có những người khác không chỉ nói cho chúng ta biết về lý thuyết Mác-xít mà còn chứng minh sự hữu dụng của nó bằng cách áp dụng vào những thực tế chính trị. Họ biết cách vạch ra những mối liên kết giữa trải nghiệm tức thời và những cấu trúc lớn hơn vốn định hình nên trải nghiệm đó. Họ bước qua cái lằn ranh cấm kỵ và nói ra về quyền lực giai cấp.

Đây chính là lý do tại sao, mặc cho mọi sự bóp méo và đàn áp, nền học thuật Mác-xít vẫn tồn tại. Dù không có mọi câu trả lời trên đời, nó vẫn sở hữu một khả năng giải thích ưu việt, cho chúng ta biết điều gì đó về thực tại mà học thuật tư sản luôn từ chối giải thích. Chủ nghĩa Marx mang đến những sự thật tai hại, thứ gây ra sự sợ hãi và làm run rẩy những kẻ cao sang quyền quý, những kẻ đang sống trên đỉnh của một ngọn núi chồng chất những lời dối trá.