Chương 6: Thiên đường thị trường tự do tiến về phương Đông (Phần 1)
Sự phục hồi của chủ nghĩa tư bản ở các quốc gia XHCN cũ được thực hiện bởi nhiều cách thức khác nhau. Ở Đông Âu và Liên Xô, nó bao gồm việc lật đổ các chính phủ cộng sản. Ở Trung Quốc, nó được tiến hành trong khuôn khổ của hệ thống cộng sản chủ nghĩa - điều dường như cũng xảy ra ở Việt Nam, và có lẽ sẽ xảy ra ở Triều Tiên và Cuba. Trong khi chính phủ Trung Quốc tiếp tục dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản trên danh nghĩa, quá trình thâm nhập của tư bản tư nhân diễn ra ngày càng sâu rộng và không bị cản trở.
Đàn áp Cánh tả
Những kẻ chống cộng nắm quyền ở Đông Âu và Liên Xô giai đoạn 1989-91 muốn áp đặt sự thống trị của giai cấp tư sản lên các lĩnh vực chính trị và đời sống văn hóa, loại bỏ dấu ấn của chủ nghĩa Cộng sản ra khỏi chính phủ, truyền thông, các trường đại học, các nghề nghiệp, và các tòa án. Trong khi tự cho mình là những nhà cải cách dân chủ, họ sớm trở nên mất kiên nhẫn với cách các hình thức kháng cự dân chủ của nhân dân đã hạn chế nỗ lực của họ trong việc thiết lập một chủ nghĩa tư bản thị trường tự do không bị kiểm soát.
Ở Nga, những cộng sự của tổng thống Boris Yeltsin đã nói về “sự nguy hiểm của dân chủ” và phàn nàn rằng “đa số những đại biểu đã trở thành chướng ngại cho sự cải cách [thị trường].” (Nation, 12/2/91 và 5/4/92). Rõ ràng, thị trường tự do, như trình bày bởi những “nhà cải cách”, là nền tảng cốt lõi của nền chính trị dân chủ, đã không thể được giới thiệu qua các phương tiện dân chủ. Năm 1992, tổng thống Ba Lan, Tiệp Khắc và Nga, đã yêu cầu đình chỉ các hoạt động của Quốc hội và cho phép họ cai trị bằng sắc lệnh của Tổng thống, kèm theo các biện pháp đàn áp đối với những người “cứng đầu” và “tàn dư” chống lại các cuộc “cải cách” thị trường tự do. Mục tiêu của họ không phải là quyền lực về tay nhân dân, mà là lợi nhuận cho tầng lớp đặc quyền.
Quá trình dân chủ hóa bằng đàn áp đã bắt đầu từ trước sự sụp đổ của chế độ Cộng sản. Năm 1991, Tổng thống Liên Xô, Mikhail Gorbachev, bị thúc giục bởi Tổng thống Nga Yeltsin, đã thông báo rằng Đảng Cộng sản Liên Xô đã không còn hợp pháp. Quỹ của Đảng và các công trình bị tịch thu. Người lao động bị cấm tham gia các hoạt động chính trị ở nơi làm việc. Sáu tờ báo cánh tả đã bị đàn áp, trong khi tất cả các ấn phẩm khác, nhiều trong số đó công khai theo khuynh hướng phản động, vẫn được phát hành không gián đoạn. Truyền thông Mỹ, và rất nhiều người thuộc cánh tả Mỹ, đã ca ngợi những hành động đàn áp này là “bước tiến trong cải cách dân chủ.”
Gorbachev sau đó đã yêu cầu Đại hội Đại biểu Nhân dân Liên Xô phải tự giải tán. Nó vẫn quá kháng cự để thay đổi. Thực ra Đại hội không chống lại việc tranh luận dân chủ và bầu cử đa đảng; những việc này thực tế đã diễn ra rồi. Nó chống lại chủ nghĩa tư bản thị trường tự do không kiểm soát, và vì lý do đó, nó phải biến mất. Gorbachev liên tục ngắt lời giữa những cuộc tranh luận và đe dọa sẽ tự mình giải tán Đại hội bằng một sắc lệnh khẩn cấp. Những biện pháp mạnh tay được ghi nhận bởi báo chí Mỹ với không một bình luận chỉ trích nào.
Thứ đã đưa cho Gorbachev và Yeltsin nguyên cớ để theo đuổi những hành động đàn áp là sự việc xảy ra vào tháng 8 năm 1991, khi một nhóm những nhà lãnh đạo lo lắng, nói những câu mơ hồ về sự xuống cấp của đời sống ở Liên Xô, đã cố tổ chức một cuộc “đảo chính” một cách kỳ lạ chống lại chính phủ của Gorbachev, cuộc đảo chính đã thất bại trước cả khi nó bắt đầu. Vài tuần sau, tờ Washington Post (9/6/91) vui vẻ ghi rằng sự thất bại của cuộc đảo chính là một chiến thắng cho tầng lớp tinh hoa của Liên Xô. Trong số những người phản đổi cuộc đảo chính có các doanh nhân và hàng ngàn thành viên của sàn giao dịch chứng khoán Nga, những người thường xuyên kiếm được gấp hai mươi lần mức lương trung bình của người dân Liên Xô bình thường. “Họ đã xuống đường ở Moscow để bảo vệ quyền kinh doanh và giao dịch của mình. Cuộc đảo chính sụp đổ, dân chủ đã chiến thắng... Các doanh nhân tư nhân đóng góp hơn 15 triệu rúp để mua lương thực và trang bị cho những người phòng thủ.” Một người môi giới đã rất ngạc nhiên khi thấy có rất ít công nhân hưởng ứng lời kêu gọi của Yeltsin về việc bảo vệ nền dân chủ.
Sự táo bạo của lớp nhà đầu tư này khi đối mặt với một cuộc đảo chính vũ trang có thể được giải thích theo một cách khác. Là một nhà phê bình xã hội chủ nghĩa về chủ nghĩa cộng sản, Boris Kagarlitsky lập luận, “Trên thực tế, hoàn toàn không có cuộc đảo chính nào cả.” Các binh lính không có vũ khí và hoang mang, các xe tăng được điều động nhưng không có chỉ đạo cụ thể, “và những người lãnh đạo của cái gọi là cuộc đảo chính thậm chí chưa bao giờ thực sự cố gắng nắm quyền.” Cuộc đảo chính thật sự, theo Kagarlitsky, diễn ra sau đó khi Boris Yeltsin sử dụng sự việc này để vượt qua quyền hạn hiến pháp của mình và phá đổ Liên Xô, hấp thụ toàn bộ quyền lực của nó vào Cộng hòa Nga của ông ta. Trong khi tuyên bố đang xóa bỏ “chế độ cũ,” Yeltsin đã lật đổ chính phủ dân chủ mới của Liên Xô giai đoạn 1989-1991.
Cuối năm 1993, đối mặt với sự kháng cự của quần chúng về chính sách thị trường tự do hà khắc, Yeltsin tiến xa hơn. Ông ta ép giải tán quốc hội và các đại biểu đã được bầu cử trong toàn quốc, kể cả các hội đồng thành phố và khu vực. Ông ta bãi bỏ tòa án Hiến pháp Nga và thực hiện tấn công vũ trang vào tòa nhà quốc hội, sát hại 2000 người chống đối và biểu tình. Hàng ngàn người bị tống giam mà không qua xét xử, và hàng trăm quan chức được bầu cử bị đặt dưới sự điều tra.
Yeltsin cấm các công đoàn khỏi tất cả hoạt động chính trị, trấn áp hàng tá cuộc biểu tình, nắm quyền kiểm soát độc quyền tất cả các kênh truyền thông, và loại 15 đảng chính trị ra ngoài vòng pháp luật vĩnh viễn. Ông ta đơn phương bãi bỏ hiến pháp và đưa ra trước công chúng một hiến pháp mới, trao cho tổng thống quyền lực gần như tuyệt đối trong việc hoạch định chính sách, đồng thời làm suy yếu gần như hoàn toàn quyền lực của quốc hội được bầu cử dân chủ. Vì những tội ác này, ông ta lại được các nhà lãnh đạo và truyền thông Mỹ ca ngợi là người bảo vệ nền dân chủ. Điều họ thích nhất ở Yeltsin là ông ta "không bao giờ dao động trong việc ủng hộ tư nhân hóa" (San Franicsco Chronicle, 7/6/94).
Yeltsin, một “nhà dân chủ”, đã 2 lần đình bản tờ báo Cộng sản Pravda. Ông ta tính tiền thuê cắt cổ cho việc sử dụng cơ sở vật chất của tờ báo. Sau đó, vào tháng 3 năm 1992, ông ta tịch thu tòa nhà mười hai tầng và máy in của tờ báo, đồng thời chuyển giao toàn bộ quyền sở hữu cho Russiskaye Gazetay, một tờ báo của chính phủ (ủng hộ Yeltsin).
Lực lượng Omon "tinh nhuệ" của Yeltsin đã nhiều lần tấn công những người biểu tình và người tuần hành cánh tả ở Moscow và các thành phố khác của Nga. Nghị sĩ Andrei Aidzerdzis, một người độc lập, và nghị sĩ Valentin Martemyanov, một người Cộng sản, cả hai đều kịch liệt phản đối chính phủ Yeltsin, đã trở thành nạn nhân của các vụ ám sát chính trị. Năm 1994, nhà báo Dmitri Kholodov, người đang điều tra tham nhũng ở cấp cao, cũng bị ám sát.
Năm 1996, Yeltsin tái đắc cử tổng thống, đánh bại đối thủ cộng sản đầy thách thức. Chiến dịch tranh cử của ông được hỗ trợ bởi các nhóm cố vấn bầu cử của Mỹ, những người đã sử dụng các kỹ thuật thăm dò dư luận và nhóm thảo luận tinh vi. Yeltsin cũng được hưởng lợi từ các khoản quyên góp hàng triệu đô la từ các nguồn của Mỹ và gói viện trợ 10 tỷ đô la từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới. Quan trọng không kém đối với chiến thắng là việc kiểm phiếu gian lận (như đã được đưa tin sơ lược trong một bản tin tối muộn của ABC vào tháng 7 năm 1996).
Yeltsin nắm quyền kiểm soát độc quyền mạng lưới truyền hình của Nga, được hưởng lợi từ việc đưa tin chiến dịch tranh cử với tần suất gần như bằng các chiến dịch quảng cáo không ngừng nghỉ. Ngược lại, các ứng cử viên đối lập bị hạ thấp xuống mức không được chú ý, chỉ được xuất hiện thoáng qua, nếu có. Việc Yeltsin tái đắc cử được phương Tây ca ngợi là một chiến thắng cho nền dân chủ; trên thực tế, đó là một chiến thắng cho tư bản tư nhân và truyền thông độc quyền, điều không đồng nghĩa với dân chủ, mặc dù thường được các nhà lãnh đạo và những người tạo dư luận của Mỹ coi như vậy.
Cam kết của Yeltsin là với chủ nghĩa tư bản chứ không phải dân chủ. Vào tháng 3 năm 1996, vài tháng trước cuộc bầu cử, khi các cuộc thăm dò cho thấy ông đang thua ứng cử viên Cộng sản, Gennadi Zyuganov, Yeltsin đã ra lệnh soạn thảo các sắc lệnh “nhằm hủy bỏ cuộc bầu cử, đóng cửa quốc hội và cấm Đảng Cộng sản” (New York Times, 2/7/1996). Nhưng ông đã bị các cố vấn thuyết phục từ bỏ vì lo ngại các biện pháp này có thể gây ra quá nhiều sự phản kháng. Mặc dù ông quyết định không hủy bỏ cuộc bầu cử, “Yeltsin chưa bao giờ cam kết chuyển giao chính phủ cho một người Cộng sản nếu ông thua cuộc” (San Francisco Chronicle, 26/7/1996).
Trong chiến dịch tranh cử năm 1996, Yeltsin và các cộng sự của ông liên tục tuyên bố rằng chiến thắng của phe cộng sản sẽ dẫn đến “nội chiến”. Trên thực tế, họ đang bày tỏ sự sẵn sàng từ bỏ nền dân chủ và sử dụng vũ lực và bạo lực nếu kết quả bầu cử không như ý muốn. Và đây không phải là lời đe dọa suông. Có thời điểm, các cuộc khảo sát cho thấy "khoảng một nửa dân số tin rằng nội chiến sẽ xảy ra nếu phe Cộng sản thắng cử" (Sacramento Bee, 7/9/96).
Xuyên suốt quá trình này, Yeltsin nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ Nhà Trắng và giới truyền thông Hoa Kỳ. Một bài xã luận trên tờ Nation (17/6/1996) đã đặt câu hỏi: Điều gì sẽ xảy ra nếu một tổng thống cộng sản được dân bầu ở Nga theo đuổi các chính sách tư hữu hóa hà khắc của Yeltsin, đẩy đất nước vào cảnh nghèo đói, giao phần lớn tài sản giàu có nhất cho một nhóm nhỏ các quan chức cộng sản trước đây, đàn áp các phần tử bất đồng chính kiến, sử dụng xe tăng để giải tán một quốc hội được dân bầu phản đối các chính sách của ông ta, viết lại hiến pháp để trao cho mình quyền lực gần như độc tài, và làm tất cả những điều khác mà Yeltsin đã làm? Liệu các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ có nhiệt tình ủng hộ việc tái đắc cử của vị tổng thống “cộng sản” này và gần như im lặng về những hành vi sai trái của ông ta?
Câu hỏi được đặt ra một cách tu từ; bài xã luận của tờ Nation giả định rằng câu trả lời là không. Trên thực tế, tôi sẽ trả lời: Có, tất nhiên rồi. Các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ sẽ không gặp khó khăn gì trong việc ủng hộ vị tổng thống “cộng sản” này, bởi vì ông ta chỉ là cộng sản trên danh nghĩa. Trên thực tế, ông ta sẽ là một người tận tụy phục hồi chủ nghĩa tư bản. Người ta chỉ cần nhìn vào cách các chính quyền liên tiếp ở Washington đã vun đắp mối quan hệ thân thiện với các nhà lãnh đạo cộng sản hiện tại ở Trung Quốc, bỏ qua và thậm chí bào chữa cho những hành vi sai trái của họ. Khi các nhà lãnh đạo Trung Quốc mở cửa đất nước cho đầu tư tư nhân và sự bất bình đẳng kinh tế ngày càng tăng, họ cung cấp một lực lượng lao động bị tước đoạt sẵn sàng làm việc hàng chục giờ với mức lương tối thiểu – mang lại lợi nhuận khổng lồ cho các tập đoàn đa quốc gia. Các nhà lãnh đạo chính trị-kinh tế Hoa Kỳ biết họ đang làm gì, ngay cả khi một số nhà viết xã luận ở đất nước này không biết. Mắt họ chỉ nhìn vào tiền, chứ không phải màu sắc của chiếc bình đựng tiền.
Kể từ khi chế độ cộng sản bị lật đổ, các lực lượng cánh hữu ủng hộ thị trường tự do ở các nước Đông Âu khác nhau đã nhận được sự hỗ trợ đáng kể về tài chính và tổ chức từ các cơ quan do Hoa Kỳ tài trợ, chẳng hạn như Quỹ Quốc gia vì Dân chủ, Viện Công đoàn Tự do của AFL-CIO (một nhóm có liên hệ mật thiết với CIA) và Quỹ Quốc hội Tự do, một tổ chức có hệ tư tưởng chống cộng sản và bảo thủ về tôn giáo.
Những người cộng sản và những người theo chủ nghĩa Mác khác đã phải chịu đựng sự đàn áp chính trị trên khắp Đông Âu. Tại Đông Đức, Đảng Xã hội Dân chủ đã bị tịch thu tài sản và văn phòng, do các đảng viên đóng góp, nhằm mục đích làm phá sản đảng này. Tại Latvia, nhà hoạt động cộng sản Alfreds Rubies, người phản đối sự bất công của “cải cách” thị trường tự do, đã bị giam giữ nhiều năm mà không được xét xử. Tại Litva, các lãnh đạo cộng sản đã bị tra tấn và sau đó bị bỏ tù trong thời gian dài. Tổng thống chống cộng của Georgia, Zviad Gamsakhurdia, đã bỏ tù những người đối lập từ khoảng bảy mươi nhóm chính trị mà không cho họ cơ hội xét xử (San Francisco Chronicle, 17/4/1991).
Estonia đã tổ chức “cuộc bầu cử tự do” trong đó 42% dân số bị cấm bỏ phiếu vì nguồn gốc Nga, Ukraina hoặc Belarus của họ. Người Nga và các dân tộc thiểu số khác bị loại trừ khỏi nhiều công việc và phải đối mặt với sự phân biệt đối xử trong nhà ở và trường học. Latvia cũng tước quyền bầu cử của người Nga và các công dân nước ngoài khác, nhiều người trong số họ đã sống ở nước này gần nửa thế kỷ. Thật đáng thất vọng về sự nở rộ của nền dân chủ.
Nền dân chủ một chiều
Quan trọng hơn cả chế độ dân chủ là “cải cách” thị trường tự do, một từ ngữ ám chỉ việc khôi phục chủ nghĩa tư bản. Chừng nào dân chủ còn có thể được sử dụng để làm suy yếu chế độ cộng sản độc đảng, thì nó sẽ được các thế lực phản động ủng hộ. Nhưng khi dân chủ chống lại việc khôi phục thị trường tự do, thì kết quả sẽ ít được chấp nhận hơn.
Năm 1990, tại Bulgaria, việc khôi phục chủ nghĩa tư bản đã không diễn ra theo kế hoạch. Mặc dù nhận được sự hỗ trợ tài chính và tổ chức hào phóng từ các nguồn của Mỹ, bao gồm cả Quỹ Quốc hội Tự do, phe bảo thủ Bulgaria cuối cùng chỉ đứng thứ hai sau phe cộng sản, trong một cuộc bầu cử mà các nhà quan sát Tây Âu đánh giá là công bằng và cởi mở. Tiếp theo đó là một loạt các cuộc đình công, biểu tình, gây áp lực kinh tế, các hành động phá hoại và các hành động gây rối khác được phối hợp, gợi nhớ đến các chiến dịch do CIA dàn dựng chống lại các chính phủ cánh tả ở Chile, Jamaica, Nicaragua và Guyana thuộc Anh. Trong vòng năm tháng, phe đối lập ủng hộ thị trường tự do đã buộc chính phủ cộng sản được bầu cử dân chủ phải từ chức. Những người cộng sản Bulgaria “phàn nàn rằng Mỹ đã vi phạm các nguyên tắc dân chủ khi hành động chống lại các quan chức được bầu cử tự do.”
Tình hình tương tự cũng xảy ra ở Albania, nơi chính phủ cộng sản được bầu cử dân chủ đã giành chiến thắng áp đảo trong cuộc bầu cử, nhưng sau đó phải đối mặt với các cuộc biểu tình, tổng đình công, áp lực kinh tế từ nước ngoài và các chiến dịch gây rối được tài trợ bởi Quỹ Quốc gia vì Dân chủ và các nguồn khác của Hoa Kỳ. Sau hai tháng, chính phủ cộng sản sụp đổ. Khi phe cánh hữu lên nắm quyền, một đạo luật mới đã được thông qua, tước bỏ quyền bầu cử hoặc tham gia các hoạt động chính trị của những người cộng sản Albania và những người phản đối việc khôi phục chủ nghĩa tư bản. Để tưởng thưởng cho việc mở rộng các quyền dân chủ cho tất cả công dân, những người cộng sản Albania cùng tất cả các cựu công chức nhà nước và thẩm phán đã bị tước bỏ các quyền công dân của họ.
Trong cuộc bầu cử Albania năm 1996, đảng Xã hội và các đảng đối lập khác—những đảng được dự đoán sẽ giành được nhiều phiếu—đã rút khỏi cuộc bầu cử vài giờ trước khi các điểm bỏ phiếu đóng cửa để phản đối việc bỏ phiếu bị “gian lận trắng trợn”. Các quan sát viên bầu cử từ Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ cho biết họ đã chứng kiến nhiều trường hợp cảnh sát đe dọa và nhét thêm phiếu vào thùng phiếu. Đảng Xã hội đã bị cấm tổ chức cuộc mít tinh vận động tranh cử cuối cùng và một số lãnh đạo nổi bật bị cấm tranh cử vì quá khứ có liên hệ với chủ nghĩa cộng sản (New York Times, 28/5/1996). Khi đảng Xã hội và các đồng minh cố gắng tổ chức các cuộc biểu tình, họ đã bị lực lượng an ninh Albania tấn công, đánh đập và làm bị thương nặng hàng chục người biểu tình (Peoples Weekly World, 11/5/1996 và 1/6/1996).
Các nhóm bài Do Thái công khai, các đảng phái phát xít ngầm và các chiến dịch thù hận nổi lên ở Nga, Ba Lan, Hungary, Ukraina, Belarus, Tiệp Khắc và Romania. Các bảo tàng tưởng niệm cuộc kháng chiến chống phát xít anh hùng đã bị đóng cửa và các tượng đài tưởng niệm cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa Quốc xã đã bị phá bỏ. Ở các quốc gia như Litva, các tội phạm chiến tranh Đức Quốc xã trước đây đã được tha bổng, một số thậm chí còn được bồi thường cho những năm họ đã ngồi tù. Các nghĩa trang Do Thái bị xúc phạm và các cuộc tấn công bài ngoại nhằm vào người nước ngoài có màu da sẫm hơn gia tăng. Với việc chế độ cộng sản không còn tồn tại, người Do Thái và người nước ngoài bị đổ lỗi cho giá nông sản thấp, lạm phát, tội phạm và các tệ nạn xã hội khác.
Vào ngày 11 tháng 6 năm 1995, cha xứ riêng của Lech Walesa, Cha Henryk Jankowski, đã tuyên bố trong một thánh lễ ở Warsaw rằng “Ngôi sao David có liên quan đến chữ thập ngoặc cũng như búa liềm” và rằng “sự hung hăng ma quỷ của người Do Thái là nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của chủ nghĩa cộng sản” và Chiến tranh Thế giới thứ hai. Vị linh mục nói thêm rằng người Ba Lan không nên dung thứ cho các chính phủ được tạo thành từ những người có liên hệ với tiền của người Do Thái. Walesa, người có mặt trong bài giảng, tuyên bố rằng bạn của ông, Jankowski, không phải là người bài Do Thái mà chỉ đơn giản là “hiểu sai”. Thay vì rút lại những bình luận của mình, Jankowski đã phun ra những lời lẽ cay độc tương tự trong một cuộc phỏng vấn truyền hình sau đó. Khoảng thời gian đó, những tấm biển có dòng chữ “Đưa người Do Thái vào phòng hơi ngạt” và “Đả đảo âm mưu Do Thái-Cộng sản” xuất hiện tại một cuộc biểu tình của 10.000 người thuộc phong trào Đoàn kết Ba Lan ở Warsaw—nhưng không hề bị chính quyền nhà thờ hay nhà nước lên án (Nation, 8/7/95).
Các chính sách kinh tế của chế độ phát xít Pinochet ở Chile đã được chính phủ tư bản mới thành lập ở Hungary công khai ngưỡng mộ. Năm 1991, các nhân vật chính trị và nhà kinh tế hàng đầu từ Liên Xô (sắp bị xóa bỏ) đã tham dự một hội thảo về kinh tế Chile tại Santiago và có cuộc gặp gỡ thân mật với tên sát nhân hàng loạt, tướng Pinochet. Nhà độc tài Chile cũng được dành một cuộc phỏng vấn thân thiện trên tờ Literaturnaya Gazeta, một ấn phẩm lớn của Nga. Cựu trưởng bộ phận an ninh của Yeltsin, Aleksandr Lebed, là một người ngưỡng mộ Pinochet.
Thay vì được chuyển đổi thành các quốc gia tư bản, một số quốc gia cộng sản đã bị xóa sổ hoàn toàn về mặt chính trị. Bên cạnh ví dụ rõ ràng về Liên Xô, còn có Cộng hòa Dân chủ Đức, hay Đông Đức, đã bị sáp nhập vào Cộng hòa Liên bang Đức. Nam Yemen bị Bắc Yemen tấn công quân sự và đánh bại. Ethiopia bị lực lượng Tigrean và Eritrea chiếm đóng, giam giữ một số lượng lớn người Ethiopia mà không xét xử; tịch thu tài sản của người Ethiopia; đàn áp giáo dục, kinh doanh và truyền thông của Ethiopia; và áp đặt “việc thực thi có hệ thống chủ nghĩa bộ lạc trong tổ chức chính trị và giáo dục” (Tilahun Yilma, thư từ, New York Times, 24/4/1996).
Việc thực thi có hệ thống tổ chức chính trị theo kiểu bộ lạc có thể mô tả chính xác số phận của Nam Tư, một quốc gia bị chia cắt bằng vũ lực thành nhiều nước cộng hòa nhỏ, bảo thủ dưới sự thống trị của các cường quốc phương Tây. Cùng với sự chia cắt đó là hàng loạt cuộc chiến tranh, đàn áp và tội ác do tất cả các bên tham chiến gây ra.
Một trong những nước cộng hòa ly khai đầu tiên của Nam Tư là Croatia, quốc gia mà vào năm 1990 đã bị một nhóm cánh hữu nắm quyền, bao gồm một số cựu cộng tác viên của Đức Quốc xã, được hậu thuẫn bởi sức mạnh vũ trang của Lực lượng Vệ binh Quốc gia tiền phát xít, theo một hiến pháp coi người Serbia, người Do Thái, người Di-gan và người Hồi giáo là công dân hạng hai. Người Serbia bị đuổi khỏi các cơ quan công chức và cảnh sát, bị đuổi khỏi nhà cửa, bị tịch thu doanh nghiệp và phải chịu thuế tài sản đặc biệt. Các tờ báo Serbia ở Croatia bị đàn áp. Nhiều người Serbia bị buộc phải rời bỏ vùng đất mà họ đã sinh sống trong ba thế kỷ. Tuy nhiên, Croatia vẫn được những người ủng hộ phương Tây ca ngợi như một nền dân chủ mới ra đời.
Năm 1996, tổng thống Belarus Alexander Lukashenko, người tự nhận là người ngưỡng mộ kỹ năng tổ chức của Adolf Hitler, đã đóng cửa các tờ báo và đài phát thanh độc lập và ra sắc lệnh giải tán quốc hội đối lập. Lukashenko được trao quyền tuyệt đối trong một cuộc trưng cầu dân ý mà người ta cho rằng tỷ lệ cử tri tham gia đã bị thổi phồng, không ai biết có bao nhiêu phiếu bầu được in ra hoặc chúng được kiểm đếm như thế nào. Một số lãnh đạo phe đối lập đã phải bỏ trốn để cứu mạng. "Từng là một nước cộng hòa Xô Viết giàu có, sản xuất máy kéo và TV, Belarus giờ đây là một quốc gia suy yếu trầm trọng" với một phần ba dân số sống "trong cảnh nghèo đói cùng cực" (San Francisco Bay Guardian, 12/4/96).
Chúng ta có nên ngưỡng mộ Vaclav Havel?
Trong số những người theo chủ nghĩa phục hồi tư bản ở phương Đông, không nhân vật nào nhận được nhiều sự ngưỡng mộ từ các quan chức, chuyên gia truyền thông và học giả Hoa Kỳ hơn Vaclav Havel, một nhà viết kịch, người đã trở thành tổng thống đầu tiên của Tiệp Khắc hậu cộng sản và sau đó là tổng thống của Cộng hòa Séc. Nhiều người cánh tả cũng ngưỡng mộ Havel dường như đã bỏ qua một số điều về ông: chủ nghĩa bảo thủ tôn giáo phản động, sự đàn áp phi dân chủ đối với các đối thủ cánh tả, và sự tận tâm sâu sắc của ông đối với bất bình đẳng kinh tế và chủ nghĩa tư bản thị trường tự do không bị ràng buộc.
Được nuôi dưỡng bởi những gia sư và tài xế riêng trong một gia đình giàu có và cực kỳ chống cộng sản, Havel đã lên án "sự sùng bái tính khách quan và mức trung bình thống kê" của nền dân chủ, cùng ý tưởng rằng những nỗ lực xã hội mang tính tập thể, hợp lý nên được áp dụng để giải quyết khủng hoảng môi trường. Ông kêu gọi một thế hệ lãnh đạo chính trị mới, những người sẽ ít dựa vào “tư duy nhận thức, lý trí", thể hiện "sự khiêm nhường trước trật tự thần bí của Hiện sinh” và “tin tưởng vào chủ thể của chính mình như là mối liên hệ chính với chủ thể của thế giới”. Rõ ràng, thế hệ lãnh đạo mới này sẽ là một nhà tư tưởng ưu tú, không khác gì kiểu vua triết gia của Plato, được phú cho “ý thức trách nhiệm siêu việt” và “trí tuệ nguyên mẫu”. Havel chưa bao giờ giải thích làm thế nào trí tuệ nguyên mẫu siêu việt này sẽ được chuyển hóa thành các quyết định chính sách thực tế, và vì lợi ích của ai, với chi phí của ai.
Havel kêu gọi nỗ lực bảo tồn gia đình Kitô giáo trong quốc gia Kitô giáo. Tự xưng là người yêu chuộng hòa bình và tuyên bố sẽ không bao giờ bán vũ khí cho các chế độ độc tài, ông lại bán vũ khí cho Philippines và chế độ phát xít ở Thái Lan. Tháng 6 năm 1994, tướng Pinochet, người đã tàn sát nền dân chủ Chile, được cho là đang mua vũ khí ở Tiệp Khắc – mà không hề có bất kỳ sự phản đối nào từ Havel.
Havel hoàn toàn ủng hộ cuộc Chiến tranh vùng Vịnh của George Bush, một cuộc chiến đã cướp đi sinh mạng của hơn 100.000 thường dân Iraq. Năm 1991, cùng với các nhà lãnh đạo thân tư bản khác ở Đông Âu, Havel đã bỏ phiếu cùng với Hoa Kỳ để lên án các vi phạm nhân quyền ở Cuba. Nhưng ông chưa bao giờ lên tiếng lên án các vi phạm nhân quyền ở El Salvador, Colombia, Indonesia, hay bất kỳ quốc gia nào khác là đồng minh của Hoa Kỳ.
Năm 1992, khi đang là tổng thống Tiệp Khắc, Havel, nhà dân chủ vĩ đại, đã yêu cầu đình chỉ quốc hội và cho phép ông cai trị bằng sắc lệnh, để dễ dàng thúc đẩy các cuộc "cải cách" theo chủ nghĩa thị trường tự do. Cùng năm đó, ông đã ký một đạo luật coi việc ủng hộ chủ nghĩa cộng sản là tội hình sự với mức án lên đến tám năm tù. Ông tuyên bố hiến pháp Tiệp Khắc yêu cầu ông phải ký đạo luật này. Trên thực tế, như ông đã biết, đạo luật này vi phạm Hiến chương Nhân quyền được ghi trong hiến pháp Tiệp Khắc. Dù sao đi nữa, nó cũng không cần chữ ký của ông để trở thành luật. Năm 1995, ông ủng hộ và ký một đạo luật phi dân chủ khác cấm những người cộng sản và cựu cộng sản làm việc trong các cơ quan nhà nước.
Việc truyền bá chủ nghĩa chống cộng vẫn là ưu tiên hàng đầu của Havel. Ông đã lãnh đạo “một chiến dịch quốc tế điên cuồng” (San Francisco Chronicle, 17/2/1995) để duy trì hoạt động của hai đài phát thanh thời Chiến tranh Lạnh do Mỹ tài trợ, Radio Free Europe và Radio Liberty, để chúng có thể tiếp tục phủ sóng Đông Âu bằng tuyên truyền chống cộng sản của mình.
Dưới chính quyền Havel, một đạo luật đã được thông qua, quy định việc truyền bá hận thù dân tộc, tôn giáo và giai cấp là tội phạm. Trên thực tế, những lời chỉ trích đối với các thế lực giàu có giờ đây bị coi là bất hợp pháp, bị đánh đồng một cách vô lý với sự cố chấp về sắc tộc và tôn giáo. Chính phủ Havel cảnh báo các công đoàn lao động không được can thiệp vào chính trị. Một số công đoàn quyết liệt đã bị tịch thu tài sản và giao cho các công đoàn công ty dễ bảo.
Năm 1995, Havel tuyên bố rằng “cuộc cách mạng” chống chủ nghĩa cộng sản sẽ không hoàn thành cho đến khi mọi thứ được tư hữu hóa. Chính phủ của Havel đã thanh lý tài sản của Liên đoàn Thanh niên Xã hội chủ nghĩa—bao gồm các khu cắm trại, nhà thi đấu giải trí và các cơ sở văn hóa và khoa học dành cho trẻ em—giao các tài sản này cho năm công ty cổ phần quản lý, gây thiệt hại cho những thanh niên bị bỏ mặc lang thang trên đường phố.
Theo các chương trình tư hữu hóa và “phục hồi” của Séc, các nhà máy, cửa hàng, điền trang, nhà cửa và phần lớn đất công đã được bán với giá rẻ mạt cho các nhà tư bản trong và ngoài nước. Tại Cộng hòa Séc và Slovakia, các quý tộc cũ hoặc người thừa kế của họ được trả lại tất cả đất đai mà gia đình họ nắm giữ trước năm 1918 dưới thời Đế quốc Áo-Hung, tước đoạt tài sản của những người chiếm hữu trước đó và đẩy nhiều người trong số họ vào cảnh nghèo khó. Bản thân Havel đã chiếm hữu cá nhân các tài sản công thuộc về gia đình ông bốn mươi năm trước đó. Trong khi tự xưng là người tận tâm làm điều tốt cho người khác, ông cũng làm giàu cho bản thân. Vì những lý do này, một số người trong chúng ta không có thiện cảm với Vaclav Havel.
Thuộc địa hóa phương Đông
Một khi những người theo chủ nghĩa phục hồi tư bản ở Đông Âu và Liên Xô cũ nắm quyền lực nhà nước, họ đã nỗ lực hết sức để đảm bảo rằng trật tự mới của sự bóc lột doanh nghiệp, lòng tham cá nhân, tiền lương thấp, văn hóa đại chúng vô tri và nền dân chủ bầu cử hạn chế sẽ được thiết lập vững chắc. Họ bắt đầu phá bỏ quyền sở hữu công đối với sản xuất và toàn bộ mạng lưới các chương trình xã hội từng phục vụ công chúng. Họ sáp nhập các quốc gia cộng sản trước đây vào hệ thống tư bản toàn cầu bằng cách tước đoạt đất đai, lao động, tài nguyên thiên nhiên và thị trường của họ, nhanh chóng biến chúng thành các quốc gia nghèo thuộc Thế giới thứ ba. Tất cả những điều này được báo chí do các tập đoàn sở hữu của Hoa Kỳ ca ngợi như một bước tiến lớn cho nhân loại.
Các quốc gia cộng sản cũ đang bị tái chiếm thuộc địa bởi tư bản phương Tây. Phần lớn thương mại quốc tế của họ hiện nay do các tập đoàn đa quốc gia kiểm soát. Giống như các nước thuộc Thế giới thứ ba, họ ngày càng bị tước đoạt thị trường của nhau. Hoạt động thương mại sôi nổi và cùng có lợi giữa họ trước đây đã giảm xuống mức thấp nhất, khi nền kinh tế của họ bị ràng buộc vào nhu cầu đầu tư và khai thác của chủ nghĩa tư bản toàn cầu. Thay vì phát triển cùng nhau, họ hiện đang trải qua sự phát triển kém hiệu quả do tư bản độc quyền toàn cầu áp đặt.
Các tập đoàn đa quốc gia đang đổ vào Nga để khai thác các mỏ dầu khí khổng lồ và các mỏ khoáng sản giàu có, thu lợi nhuận khổng lồ cho chính họ mà người dân Nga hầu như không được hưởng lợi. Bất chấp sự phản đối của các nhà bảo vệ môi trường Mỹ và Nga, các tập đoàn khai thác gỗ của Mỹ, với sự hỗ trợ tài chính từ một quỹ đầu tư mạo hiểm do Lầu Năm Góc tài trợ, đang chuẩn bị chặt phá rừng hoang dã Siberia, một khu vực chiếm một phần năm diện tích rừng của hành tinh và là môi trường sống của nhiều loài quý hiếm (New York Times, 30/1/1996).
Tất cả viện trợ cho các nước cộng sản cũ đều được chuyển vào khu vực tư nhân. Như tờ Guardian (19/11/1994) đã lưu ý, “Hàng trăm triệu đô la thu được từ các chương trình viện trợ của phương Tây chủ yếu mang lại lợi ích cho các công ty phương Tây đổ xô về phía đông để hưởng lợi từ viện trợ.” Khi Rumani khánh thành một thị trường giao dịch cổ phiếu tư nhân hóa, 20 triệu đô la chi phí “khởi nghiệp” phần lớn được Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) chi trả. (Wall St Journal 17/9/1996).
Năm 1996, Quỹ Tiền tệ Quốc tế đã cho Nga vay 10,2 tỷ đô la, với các điều khoản yêu cầu tư nhân hóa nông nghiệp và các tài sản nhà nước khác, cũng như loại bỏ trợ cấp dịch vụ nhân sinh và nhiên liệu. Viện trợ của Mỹ được sử dụng để giúp các nhà đầu tư tư nhân mua tài sản công và khai thác nguyên liệu thô thuộc sở hữu công từ các nước Đông Âu với điều kiện đầu tư thuận lợi nhất.
Với sự xuất hiện của đầu tư tư nhân ở phương Đông, sản xuất đã không tăng trưởng như đã hứa mà giảm mạnh. Hàng trăm doanh nghiệp nhà nước hấp dẫn và có khả năng thanh toán tốt đã được tư nhân hóa, thường được bán với giá tượng trưng cho các nhà đầu tư nước ngoài, trong khi các doanh nghiệp nhà nước khác bị giải thể hoặc phá sản. Từ năm 1989 đến năm 1995, tại nước Cộng hòa Séc ngày nay, gần 80% tổng số doanh nghiệp đã được tư nhân hóa - và sản lượng công nghiệp giảm hai phần ba. Tư nhân hóa ở Ba Lan khiến sản lượng giảm một phần ba từ năm 1989 đến năm 1992. Các nhà máy điện và các khu phức hợp công nghệ cao khổng lồ ở Đông Đức, sử dụng hàng chục nghìn công nhân, đã bị các công ty khổng lồ của Tây Đức tiếp quản và sau đó đóng cửa. Dưới chế độ tư nhân hóa, phần lớn cơ sở hạ tầng khoa học và kỹ thuật của Liên Xô cũ đang tan rã, cùng với các nhà máy vật chất của nó.
Kể từ khi chuyển sang tư nhân, ZiL, nhà máy khổng lồ ở Moscow, đã chứng kiến sản lượng xe tải giảm mạnh từ 150.000 xuống còn 13.000 chiếc mỗi năm, với gần 40% lực lượng lao động bị sa thải. Vào tháng 4 năm 1996, những công nhân còn lại đã kiến nghị chính phủ Nga giành lại quyền kiểm soát ZiL. Trước đây, công nhân ZiL và người thân của họ “có công việc ổn định” tại nhà máy. Họ sống trong các căn hộ và theo học tại các trường do ZiL cung cấp. Khi còn nhỏ, họ dành cả ngày ở trung tâm chăm sóc trẻ em của ZiL, và khi ốm, họ được các bác sĩ của ZiL chăm sóc. “Tôi lớn lên ở một đất nước quan tâm đến người lao động của mình”, một thợ máy nói, người giờ đây hối hận vì đã phản đối hệ thống đó (New York Times, 5/8/94).
Tại Macedonia, một trong những nước cộng hòa ly khai của Nam Tư, một đại diện công đoàn nhận xét: “Tư nhân hóa dường như đồng nghĩa với sự hủy diệt các công ty của chúng tôi.” Người Macedonia dường như lo lắng hơn về những khó khăn kinh tế của thị trường tự do hơn là về những mâu thuẫn sắc tộc được công khai rộng rãi. Họ phàn nàn về việc công việc đã chiếm hết cuộc sống của họ: “Không có thời gian để quan tâm đến người khác; thậm chí không có thời gian cho bản thân - chỉ có thời gian để kiếm tiền” (Báo cáo của PBS-TV, 16/1/1995).
Sản lượng nông nghiệp gồm ngũ cốc, ngô, gia súc và các sản phẩm khác đã giảm mạnh ở các nước cộng sản cũ, khi hàng ngàn trang trại hợp tác xã bị giải thể một cách cưỡng bức. Những nông dân tư nhân mới có diện tích đất nhỏ, thường không thể vay vốn, mua hạt giống, phân bón hoặc máy móc, và đang nhanh chóng mất đất đai hoặc quay trở lại canh tác tự cung tự cấp. Các hợp tác xã nông nghiệp của Hungary từng là một trong những lĩnh vực hoạt động tốt trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Nhưng với việc tư nhân hóa, sản lượng nông nghiệp đã giảm 40% vào năm 1993 (Los Angeles Times, 29/1/1994).
Sản lượng nông nghiệp ở Bulgaria, quốc gia từng được coi là vựa lúa mì của Đông Âu, đã suy giảm nghiêm trọng, do sự thiếu hụt. Bulgaria cũng đang phải chịu đựng tỷ lệ lạm phát hàng tháng lên tới 20% và rơi vào vòng xoáy nợ nước ngoài quen thuộc: cắt giảm dịch vụ để đủ điều kiện vay vốn từ IMF, vay mượn để trả nợ cũ. “Chính phủ [Bulgaria] phải áp dụng thêm các biện pháp thắt lưng buộc bụng theo cơ chế thị trường tự do để có được các khoản vay quốc tế thiết yếu nhằm trả một phần khoản nợ nước ngoài 9,4 tỷ đô la” (San Francisco Chronicle, 18/7/1996).
Năm 1992, chính phủ Litva ban hành sắc lệnh cho phép các chủ sở hữu cũ và con cháu của họ đòi lại tài sản bị tịch thu trong thời kỳ xã hội chủ nghĩa. Kết quả là, hàng chục nghìn gia đình nông dân, chiếm khoảng 70% dân số nông thôn, đã bị đuổi khỏi mảnh đất mà họ đã canh tác hơn nửa thế kỷ, phá hủy nền tảng nông nghiệp của đất nước.
Phần lớn hoạt động sản xuất ở Đông Đức đã bị giải thể để ngăn chặn sự cạnh tranh với các công ty Tây Đức. Điều này đặc biệt rõ ràng khi nền nông nghiệp tập thể bị giải tán để bảo vệ các trang trại tư nhân được trợ cấp mạnh và kém hiệu quả hơn ở Tây Đức. Mà không bồi thường, các nhà tư bản Tây Đức đã chiếm đoạt gần như toàn bộ tài sản xã hội hóa ở CHDC Đức, bao gồm các nhà máy, xưởng, trang trại, căn hộ và các bất động sản khác, cũng như hệ thống chăm sóc y tế — tài sản trị giá khoảng 2 nghìn tỷ đô la — trong một vụ việc được coi là vụ tước đoạt tài sản công lớn nhất bởi tư bản tư nhân trong lịch sử châu Âu.
Kết quả cuối cùng của quá trình tư nhân hóa theo thị trường tự do ở Đông Đức là tiền thuê nhà, vốn từng chỉ chiếm 5% thu nhập, đã tăng vọt lên tới hai phần ba; tương tự, chi phí đi lại, chăm sóc trẻ em, chăm sóc sức khỏe và giáo dục đại học cũng tăng cao vượt quá khả năng chi trả của nhiều người.
Người dân Đông Đức thuộc nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau có một số lời phàn nàn: (a) Dòng tiền ròng chảy từ Đông sang Tây, điều này tương đương với việc thuộc địa hóa phía Đông, (b) Thị trường tự do là một huyền thoại; nền kinh tế Tây Đức được trợ cấp mạnh mẽ và được điều tiết hoàn toàn, nhưng lại đi ngược lại lợi ích của phía Đông, (c) Cảnh sát Tây Đức tàn bạo hơn nhiều so với cảnh sát Đông Đức, (d) Nếu Tây Đức phi phát xít hóa triệt để như cách họ buộc phía Đông phải phi xã hội hóa, thì đó sẽ là một quốc gia hoàn toàn khác (Tạp chí Z, 7/92).
Về điểm cuối cùng này, cần lưu ý rằng các quan chức Đức đang truy tố hình sự những người đã "hợp tác" với CHDC Đức (Đông Đức) dưới bất kỳ cương vị chính thức nào, kể cả giáo viên và các nhà quản lý cấp thấp.
Những người di cư từ các nước Cộng sản kinh ngạc trước mức độ quan liêu mà họ gặp phải ở phương Tây. Hai người nhập cư Liên Xô sang Canada đã phàn nàn, một cách độc lập với nhau, rằng “quan liêu ở đây thậm chí còn tệ hơn ở quê nhà” (Monthly Review, 5/88). Người Đông Đức sống ở phương Tây choáng váng trước hàng loạt các mẫu đơn phức tạp mà họ phải điền cho thuế, bảo hiểm y tế, bảo hiểm nhân thọ, trợ cấp thất nghiệp, đào tạo lại nghề nghiệp, trợ cấp thuê nhà và tài khoản ngân hàng. Hơn nữa, “vì loại thông tin cá nhân mà họ phải cung cấp, họ cảm thấy bị theo dõi và do thám nhiều hơn cả khi bị Stasi [cảnh sát an ninh Cộng hòa Dân chủ Đức] theo dõi” (Z Magazine, 7/92).
Những người Do Thái Liên Xô di cư đến Israel trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh đã trải qua sự vỡ mộng tương tự với những khó khăn trong cuộc sống và sự thiếu lý tưởng. Những bức thư chán nản họ gửi về nhà được coi là một yếu tố quan trọng dẫn đến sự sụt giảm lượng người nhập cư từ Liên Xô sang Israel.
Với sự phục hồi mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản, người dân của các quốc gia cộng sản cũ có nhiều cơ hội để tìm hiểu cuộc sống ở thiên đường thị trường tự do. Kinh nghiệm của họ được trình bày chi tiết trong chương tiếp theo.