Chương 4: Chủ nghĩa Cộng sản ở Xứ sở Thần tiên
Các quốc gia cộng sản khác nhau đã phải gánh chịu những khiếm khuyết mang tính hệ thống nghiêm trọng. Mặc dù các vấn đề nội tại này trở nên trầm trọng hơn bởi sự chống phá và mối đe dọa quân sự từ các cường quốc tư bản phương Tây, nhưng vẫn tồn tại một số khó khăn dường như vốn dĩ đã nằm sẵn trong chính hệ thống đó.
Trợ cấp sự kém hiệu quả
Tất cả các quốc gia cộng sản đều phải gánh chịu gánh nặng từ hệ thống mệnh lệnh kinh tế cứng nhắc. Cơ chế kế hoạch hóa tập trung vốn dĩ hữu ích, và thậm chí là cần thiết, trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội trong vòng vây để sản xuất thép, lúa mì và xe tăng nhằm xây dựng nền tảng công nghiệp và chống lại sự tấn công dữ dội của phát xít Đức. Tuy nhiên, về lâu dài, nó đã cản trở sự phát triển và tăng trưởng công nghệ, đồng thời cho thấy sự yếu kém trong việc cung ứng đầy đủ các loại hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ. Không một hệ thống máy tính nào có thể được thiết lập để mô phỏng chính xác một nền kinh tế rộng lớn và phức tạp như vậy. Không một hệ thống nào có thể thu thập và xử lý khối lượng thông tin chi tiết khổng lồ cần thiết để đưa ra các quyết định chính xác cho hàng triệu nhiệm vụ sản xuất.
Lối quy hoạch từ trên xuống đã triệt tiêu sự chủ động trong toàn bộ hệ thống. Sự trì trệ lộ rõ qua việc bộ máy công nghiệp Xô-viết thất bại trong việc ứng dụng các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật những năm 1970 và 1980, bao gồm cả việc sử dụng công nghệ máy tính. Dù Liên Xô là nơi đào tạo ra nhiều nhà toán học, vật lý học và các nhà khoa học hàng đầu thế giới, nhưng rất ít công trình của họ được đưa vào ứng dụng thực tiễn. Như Mikhail Gorbachev đã từng than phiền trước Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ 28 vào năm 1990: “Chúng ta không thể tiếp tục chấp nhận một hệ thống quản lý khước từ tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, một hệ thống bị ràng buộc với sự kém hiệu quả về chi phí, đồng thời gây ra sự hoang phí và thất thoát”.
Chỉ trích sự yếu kém thôi là chưa đủ, người ta còn phải cố gắng giải thích tại sao nó vẫn tồn tại bất chấp những lời kêu gọi lặp đi lặp lại từ các cấp lãnh đạo—ngay từ thời Stalin, người từng rất giận dữ về những viên quan chức quan liêu chỉ biết an phận thủ thường. Lời giải thích cho sự thất bại của hệ thống quản lý có thể được tìm thấy ngay trong chính hệ thống đó, nơi đã tạo ra những rào cản đối với sự đổi mới:
1. Các nhà quản lý ít có thiên hướng theo đuổi các lộ trình công nghệ có thể dẫn đến việc chính họ bị đào thải. Nhiều người trong số họ không đủ năng lực để tiếp cận công nghệ mới và đáng lẽ ra phải bị thay thế.
2. Các nhà quản lý không nhận được phần thưởng nào cho việc chấp nhận rủi ro. Họ giữ vững vị trí của mình bất kể công nghệ đổi mới có được phát triển hay không, và điều này cũng đúng với cả cấp trên của họ lẫn những người lập kế hoạch trung ương.
3. Các nguồn lực cần thiết cho sự thay đổi công nghệ không có sẵn. Vì các yếu tố đầu vào đã bị cố định theo kế hoạch, và mọi vật tư cũng như nhân lực đều đã được huy động hết, nên rất khó để chuyển hướng nguồn lực sang đổi mới sản xuất. Ngoài ra, những nỗ lực cải tiến thử nghiệm còn làm tăng rủi ro không hoàn thành chỉ tiêu đã đề ra.
4. Hệ thống thiếu vắng động lực thúc đẩy việc cải tiến thiết bị cho các doanh nghiệp khác, vì lợi ích không chảy về túi đơn vị sản xuất. Ngược lại, dưới áp lực về chỉ tiêu sản lượng, các giám đốc thường sẵn sàng hy sinh chất lượng để đổi lấy số lượng.
5. Tình trạng khan hiếm linh kiện thay thế xảy ra ở cả lĩnh vực sản xuất công nghiệp lẫn mặt hàng tiêu dùng lâu bền. Vì những người lập kế hoạch cấp cao ấn định mức giá thấp một cách khiên cưỡng cho các linh kiện phụ tùng, nên các nhà máy hiếm khi thấy việc sản xuất chúng mang lại hiệu quả kinh tế.
6. Vì bên sản xuất không phải trả mức giá đúng với giá trị thực của nguyên liệu thô, nhiên liệu và những thứ khác, nên các doanh nghiệp thường sử dụng chúng một cách kém hiệu quả.
7. Năng lực sản xuất chưa được tận dụng triệt để, đi kèm với tình trạng tồn kho quá mức do những vấn đề trong phân phối. Việc cung ứng không ổn định đã hình thành thói quen tích trữ nảy sinh xu hướng tích trữ nhiều hơn mức có thể đưa vào sản xuất, điều này càng làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu hụt.
8. Việc cải thiện sản xuất chỉ dẫn đến kết quả duy nhất là bị tăng chỉ tiêu. Trên thực tế, những nhà máy vận hành tốt lại bị "trừng phạt" bằng khối lượng công việc lớn hơn. Ngược lại, những đơn vị yếu kém lại được "thưởng" bằng mức chỉ tiêu thấp hơn và được nhận trợ cấp từ nhà nước.
Sự thiếu trách nhiệm trong quản lý không chỉ là vấn đề của công nghiệp mà còn cả trong nông nghiệp. Nhận định của một người tổ chức nông trường tại Việt Nam có thể khái quát tình trạng ở hầu hết các quốc gia cộng sản khác: “Cái giá đau đớn của việc hợp tác hóa [nông nghiệp] là bộ máy quản lý không có động lực để thành công hay sản xuất.” Thậm chí, ban quản lý nông trường thường có xu hướng tạo ra những sản phẩm kém chất lượng. Chẳng hạn, vì các đơn vị thu mua thịt của nhà nước chỉ chú trọng đến số lượng thay vì chất lượng, các nông dân trong hợp tác xã đã tối đa hóa lợi nhuận bằng cách nuôi những con vật béo mỡ nhất có thể. Người tiêu dùng có thể chẳng mặn mà gì với thịt toàn mỡ, nhưng đó là việc của họ. Chỉ có những nông dân khờ khạo hoặc có tâm hồn thánh thiện mới làm việc chăm chỉ hơn để tạo ra loại thịt chất lượng tốt hơn chỉ để đổi lấy đặc quyền được trả ít tiền hơn.
Giống như ở mọi quốc gia khác, bộ máy quan liêu có xu hướng trở thành một “con quái thú tự vỗ béo”. Nhân sự hành chính tăng trưởng với tốc độ nhanh hơn nhiều so với lực lượng lao động trực tiếp sản xuất. Một nhà máy với 11.000 công nhân sản xuất có thể sở hữu đội ngũ hành chính lên tới 5.000 người, một gánh nặng đáng kể lên năng suất lao động. Tại một số doanh nghiệp, nhân sự hành chính thậm chí chiếm tới một nửa tổng số công nhân viên.
Lối vận hành nặng tính quan liêu đã không cho phép các phản biện và tự điều chỉnh. Nhìn chung, sự thiếu vắng những cuộc tranh luận công khai đã khiến các nhà lập kế hoạch và quản lý không phải chịu trách nhiệm trước công chúng. Số phận của những người dám lên tiếng ở các quốc gia cộng sản cũng chẳng khác gì ở quốc gia của chúng ta. Những người vạch trần sự hoang phí, kém cỏi và tham nhũng thường đối mặt với rủi ro nhiều hơn là nhận được sự khen thưởng.
Cha chung không ai khóc
Chúng ta thường được dạy rằng những người sống dưới chế độ cộng sản phải chịu đựng “sự kiểm soát toàn trị đối với mọi khía cạnh của cuộc sống”, như tạp chí Time (số ra ngày 27/5/96) vẫn thường rêu rao. Tuy nhiên, khi trò chuyện với chính những người dân ở đó, người ta nhận thấy họ phàn nàn về sự thiếu vắng một sự quản lý có trách nhiệm nhiều hơn là về sự kiểm soát quá mức. Nhân viên bảo trì không thực hiện các sửa chữa cần thiết. Cư dân trong một dự án nhà ở mới có thể từ chối trả tiền thuê nhà mà cũng chẳng ai buồn đến thu. Do quản lý lỏng lẻo trong khâu thu hoạch, lưu kho và vận chuyển, có tới 30% sản lượng nông sản bị thất thoát khi đưa từ đồng ruộng đến cửa hàng, hàng ngàn tấn thịt bị để cho hư hỏng. Người dân than phiền về bồn cầu hỏng, mái nhà dột, mậu dịch viên hách dịch, hàng hóa kém chất lượng, tàu chậm chuyến, dịch vụ bệnh viện thiếu thốn, cùng những viên chức quan liêu tham nhũng và vô cảm.
Tham nhũng và đặc quyền đặc lợi là chuyện thường tình. Có những nhà quản lý thường xuyên biển thủ công quỹ, những công nhân lấy cắp thực phẩm và hàng hóa từ các cửa hàng nhà nước hoặc vật tư từ nhà máy để đi làm tư nhằm trục lợi cá nhân. Có những nông dân trong các trang trại tập thể đã tháo dỡ phụ tùng máy kéo để bán ở chợ đen, những giám đốc nhận hối lộ để đưa tên người khác lên đầu danh sách chờ mua xe hơi, và những nông dân tích trữ gia súc để bán cho người dân thành thị với giá cao gấp ba lần giá thu mua thấp kỷ lục của chính phủ. Tất cả những hành vi này khó có thể là biểu hiện của những con người đang run rẩy dưới một sự cai trị toàn trị đầy khiếp sợ.
Chính hệ thống này đã dung dưỡng cho thói né tránh và sự vô kỷ luật. Theo đó, một nông trường tập thể vận hành càng kém thì mức trợ cấp nhận được càng lớn, trong khi định mức công việc bị yêu cầu lại càng ít đi. Những thợ sửa ống nước hay thợ cơ khí làm việc càng tệ thì họ càng ít bị làm phiền bởi các yêu cầu hay chỉ tiêu. Dịch vụ nhà hàng càng nghèo nàn thì càng ít khách đến, đồng nghĩa với việc càng có nhiều đồ ăn thừa để mang về nhà hoặc bán ở chợ đen. Điều cuối cùng mà nhân viên nhà hàng mong muốn chính là những khách hàng hài lòng—những người sẽ quay lại ăn lần sau với mức giá ấn định thấp.
Không ngạc nhiên khi kỷ luật lao động còn rất nhiều điều đáng bàn. Có những mậu dịch viên thản nhiên buôn chuyện điện thoại với bạn bè trong khi dòng người xếp hàng chờ đợi đầy phẫn nộ, có những cặp công nhân mất tới ba ngày để sơn một bức tường khách sạn vốn chỉ cần vài giờ; và rất nhiều người tự ý bỏ việc giữa giờ để đi mua sắm. Chính sự yếu kém này đã góp phần làm giảm năng suất và tạo ra một vòng xoáy khan hiếm. Năm 1979, nhà lãnh đạo Cuba Raul Castro đã liệt kê một danh sách các hành vi sai phạm:
[Đó là] sự thiếu kỷ luật lao động, vắng mặt không lý do, cố tình làm chậm để không vượt định mức—vốn đã thấp và được áp dụng một cách lỏng lẻo—nhằm tránh việc định mức bị điều chỉnh tăng lên... Trái ngược với chủ nghĩa tư bản, nơi người nông dân phải làm việc kiệt sức 12 giờ mỗi ngày hoặc hơn, thì nay có rất nhiều trường hợp, đặc biệt là trong nông nghiệp, người ta chỉ làm việc không quá 4 đến 6 giờ... Chúng ta biết rằng trong nhiều trường hợp, các đội trưởng và tổ trưởng đã thỏa thuận với công nhân để hoàn thành định mức chỉ trong nửa ngày, sau đó dành nửa ngày còn lại để đi làm thuê cho các hộ nông dân [tư nhân] gần đó [để kiếm thêm thu nhập]; hoặc làm thong thả cho đủ định mức trong 7-8 giờ; hoặc dồn sức làm xong 2-3 định mức trong một ngày nhưng lại báo cáo rải rác sang các ngày khác để những ngày đó họ không cần phải đi làm…
Tất cả những “mánh khóe nghề nghiệp” này trong nông nghiệp cũng đều có thể tìm thấy trong công nghiệp, dịch vụ vận tải, các xưởng sửa chữa và nhiều nơi khác—những nơi mà tình trạng “chủ nghĩa bao che” đang tràn lan, cùng những trường hợp “có qua có lại” và nạn ăn cắp vặt để kiếm thêm bên ngoài. (Cuba Update, 3/80)
Nếu bị sa thải, một cá nhân vẫn có quyền hiến định được đảm bảo một công việc khác và hiếm khi gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nó. Thị trường lao động khi đó là thị trường của người bán (người lao động nắm thế chủ động). Công nhân không sợ mất việc, nhưng các nhà quản lý lại sợ mất đi những nhân công giỏi nhất và đôi khi phải trả lương quá cao để giữ chân họ. Tuy nhiên, thường thì cả phần thưởng hiện kim lẫn bản thân việc làm đều không gắn liền với hiệu suất. Một nhân viên tận tụy thường không kiếm được nhiều hơn một kẻ thiếu trách nhiệm. Những kẻ lười biếng và trộm cắp vặt đã tác động làm nản lòng những người thực sự muốn nghiêm túc làm việc.
Tình trạng toàn dụng nhân công đạt được bằng cách nhồi nhét vào lực lượng lao động những người vốn có rất ít việc để làm. Điều này làm trầm trọng thêm tình trạng khan hiếm lao động, năng suất thấp, thiếu kỷ luật lao động và thất bại trong việc triển khai các công nghệ tiết kiệm sức lao động nhằm tối đa hóa sản lượng.
Những người cộng sản vận hành dựa trên giả định rằng một khi chủ nghĩa tư bản và những hệ lụy kinh tế của nó bị loại bỏ, một khi sản xuất xã hội được tập thể hóa và người dân được hưởng một mức độ an ninh và thịnh vượng nhất định, họ sẽ tự nguyện đóng góp phần việc công bằng của mình. Thực tế thường chứng minh điều ngược lại.
Các nền kinh tế cộng sản có một đặc điểm kiểu “Xứ sở Thần tiên”, đó là giá cả hiếm khi liên quan đến chi phí hoặc giá trị thực tế. Nhiều dịch vụ đắt đỏ được cung cấp gần như miễn phí, chẳng hạn như giáo dục, chăm sóc y tế và hầu hết các sự kiện giải trí, thể thao, văn hóa. Nhà ở, giao thông, tiện ích và thực phẩm thiết yếu được bao cấp hết mức. Nhiều người có tiền nhưng lại không có nhiều thứ để mua. Những hàng hóa chất lượng giá cao và mặt hàng xa xỉ rất khó tìm. Tất cả những điều này quay trở lại ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc. Tại sao phải làm việc chăm chỉ để kiếm nhiều tiền hơn khi chẳng có mấy thứ để mua?
Việc tăng lương—vốn nhằm thu hút nhân công vào các công việc nặng nhọc, ít được coi trọng hoặc để khuyến khích sản xuất—chỉ làm trầm trọng thêm sự chênh lệch giữa sức mua và nguồn cung hàng hóa. Giá cả được giữ ở mức thấp một cách khiên cưỡng, trước hết là vì sự tận hiến cho các nguyên tắc bình quân, nhưng cũng vì những nỗ lực điều chỉnh giá đã từng châm ngòi cho các cuộc biểu tình của công nhân tại Ba Lan, Đông Đức và Liên Xô. Do đó, tại Liên Xô và Ba Lan, nhà nước đã từ chối tăng giá bánh mì—loại thực phẩm vốn chỉ có giá vài xu một ổ, dù nó còn rẻ hơn cả thức ăn chăn nuôi. Hệ quả là: Nông dân ở cả hai nước đã mua bánh mì để cho lợn ăn. Việc kiểm soát giá quá nghiêm ngặt đã dẫn đến lạm phát ẩn, thị trường chợ đen nở rộ và những dòng người xếp hàng dài chờ đợi.
Người dân được kỳ vọng sẽ tuân thủ luật chơi và không trục lợi từ hệ thống, ngay cả khi chính hệ thống đó lại vô tình mời gọi những hành vi sai trái. Họ được kỳ vọng sẽ từ bỏ lối hành xử vị kỷ, trong khi thực tế việc làm đó không mang lại phần thưởng nào, thậm chí còn chịu thiệt thòi. Cái gọi là “chế độ toàn trị tàn bạo” thực chất là một cái nồi khổng lồ mà từ đó nhiều người ra sức vơ vét bất cứ thứ gì họ có thể.
Sự phẫn nộ về tình trạng khan hiếm hàng tiêu dùng ngày càng gay gắt: những dòng người xếp hàng vô tận, mười năm chờ đợi để mua một chiếc ô tô mới, tình trạng thiếu nhà ở buộc những người độc thân phải sống cùng cha mẹ hoặc phải kết hôn chỉ để đủ điều kiện xét duyệt một căn hộ riêng, rồi lại phải chờ thêm năm năm nữa mới có căn hộ đó. Sự chật chội và sự phụ thuộc tài chính vào cha mẹ thường dẫn đến những vụ ly hôn sớm. Những vấn đề này và nhiều rắc rối tương tự đã làm xói mòn niềm tin của người dân vào chủ nghĩa xã hội.
Muốn có tất cả
Tôi đã nghe một người bạn Đông Đức phàn nàn về dịch vụ yếu kém và sản phẩm kém chất lượng; anh ta kết luận rằng hệ thống này không hiệu quả. Thế nhưng, tôi hỏi lại, còn vô số phúc lợi xã hội mà phần lớn thế giới đang thiếu hụt thì sao, chẳng lẽ chúng không có giá trị gì? Câu trả lời của anh ấy thật đáng suy ngẫm: "Ồ, chẳng ai thèm nói về những thứ đó cả." Người ta mặc nhiên coi những dịch vụ nhân sinh và quyền lợi mà họ đang có là điều hiển nhiên, trong khi luôn khao khát những hàng hóa tiêu dùng vẫn đang lấp lửng trong trí tưởng tượng của mình.
Không nên đánh giá thấp sự bất mãn của con người. Con người không thể chỉ sống dựa vào đồng lương phúc lợi xã hội. Một khi các nhu cầu cơ bản được thỏa mãn, những mong muốn của chúng ta có xu hướng leo thang, và khi đó, “muốn” lại trở thành “cần”. Sự nâng cao trong tiêu chuẩn sống thậm chí thường kích thích sự gia tăng kỳ vọng còn lớn hơn. Khi con người được đối xử tốt hơn, họ lại muốn có nhiều thứ tốt đẹp hơn và không nhất thiết phải biết ơn những gì mình đang có. Những chuyên gia hàng đầu, những người đã đạt được mức sống tương đối tốt, lại muốn được ăn mặc đẹp hơn, được đi du lịch nước ngoài và tận hưởng những lối sống phong phú hơn như những người giàu có ở thế giới tư bản.
Chính khao khát về một sự sung túc hơn, chứ không phải cuộc tìm kiếm tự do chính trị, mới là động lực thúc đẩy hầu hết những người di cư sang phương Tây. Các nhu cầu về vật chất được nhắc đến thường xuyên hơn nhiều so với sự thiếu vắng dân chủ. Những người di cư rời bỏ Việt Nam vào năm 1989 không phải là những nhà bất đồng chính kiến bị đàn áp chính trị. Thông thường, họ là những thợ thủ công tương đối khá giả, những tiểu chủ, các kỹ sư được đào tạo bài bản, kiến trúc sư và trí thức đang tìm kiếm những cơ hội lớn hơn. Trích lời một người trong số đó: “Tôi không nghĩ cuộc sống của mình ở Việt Nam là quá tệ. Thực tế, tôi khá sung túc. Nhưng bản chất con người là luôn muốn thứ gì đó tốt hơn.” Một người khác làm chứng: “Chúng tôi có hai cửa hàng và thu nhập ổn định, nhưng chúng tôi muốn một cuộc sống tốt hơn.” Và một người khác nữa: “Họ ra đi vì cùng lý do như chúng tôi thôi. Họ muốn giàu có hơn, giống như chúng tôi vậy.” Ngày nay, cơn sốt “làm giàu” đang lan rộng khắp Việt Nam khi quốc gia này chuyển mình mạnh mẽ sang nền kinh tế thị trường (New York Times, 5/4/96).
Tương tự, nhu cầu lớn nhất ở Cộng hòa Dân chủ Đức (GDR) là được đi du lịch, có các thiết bị gia dụng mới và những căn hộ lớn hơn (Washington Post, 28/8/89). Tờ New York Times (13/3/90) đã mô tả Đông Đức là một “quốc gia với 16 triệu dân [những người] dường như chỉ bị mê hoặc bởi một vấn đề duy nhất: Bao lâu nữa thì họ có thể thịnh vượng như Tây Đức?” Một cuộc thăm dò quốc gia được thực hiện tại Trung Quốc cho biết 68% người dân đã chọn mục tiêu của họ là “sống tốt và trở nên giàu có” (Báo cáo PBS-TV, 6/96).
Năm 1989, tôi đã hỏi đại sứ Cộng hòa Dân chủ Đức tại Washington, D.C. rằng tại sao đất nước ông lại sản xuất những chiếc xe hơi động cơ hai thì tồi tàn đến vậy. Ông ấy nói mục tiêu là phát triển hệ thống giao thông công cộng tốt và hạn chế việc sử dụng các phương tiện cá nhân tốn kém. Nhưng khi được chọn giữa một hệ thống giao thông công cộng hợp lý, hiệu quả, kinh tế và thân thiện với môi trường với một chiếc ô tô mang lại sự cơ động tức thời, vị thế đặc biệt, sự riêng tư và quyền lực cá nhân, người dân Đông Đức đã chọn cái sau, cũng giống như hầu hết mọi người trên thế giới. Vị đại sứ ngậm ngùi thêm vào: “Chúng tôi đã nghĩ rằng việc xây dựng một xã hội tốt đẹp sẽ tạo ra những con người tốt đẹp. Điều đó không phải lúc nào cũng đúng.” Dù đó có phải là một xã hội tốt đẹp hay không, ít nhất ông ấy cũng đã muộn màng nhận ra sự cách biệt giữa ý thức chung và ham muốn riêng tư.
Tại Cuba ngày nay, nhiều thanh niên không còn thấy giá trị của việc gia nhập Đảng Cộng sản và nghĩ rằng Fidel Castro đã hết thời và nên rút lui. Những thành tựu cách mạng trong giáo dục và chăm sóc y tế là thứ mà họ coi là hiển nhiên và không thể khiến họ cảm thấy hào hứng. Nhìn chung, họ quan tâm đến tương lai cá nhân hơn là chủ nghĩa xã hội. Các khóa học đại học về chủ nghĩa Marx và Cách mạng Cuba, từng một thời quá tải, nay lại thưa thớt người học, trong khi đó, sinh viên lại chen chúc vào các lớp học về thị trường toàn cầu và luật tài sản (Newsday, 4/12/96).
Với sự cấm vận của Mỹ và mất đi viện trợ từ Liên Xô, lời hứa về sự sung túc tại Cuba đã lùi xa khỏi tầm mắt, và “mật ngọt sung túc” từ phương Bắc ngày càng trở nên lôi cuốn. Nhiều thanh niên Cuba lý tưởng hóa cuộc sống ở Mỹ và khao khát những phong cách thời trang và âm nhạc mới nhất của nó. Giống như người Đông Âu, họ nghĩ rằng chủ nghĩa tư bản sẽ mang lại những thứ tốt đẹp mà không phải trả cái giá đặc biệt nào. Khi được biết rằng giới trẻ ở Mỹ phải đối mặt với những rào cản nghiêm trọng, họ đáp lại với tất cả sự chắc chắn của những người thiếu thực tế: “Chúng tôi biết rằng ở Mỹ có nhiều người nghèo và cũng có nhiều người giàu. Tuy nhiên, nếu bạn làm việc chăm chỉ, bạn có thể thành công. Đó là vùng đất của cơ hội.” (Monthly Review, 4/96).
Đến thế hệ thứ hai hoặc thứ ba, còn tương đối ít người còn sống để có thể so sánh một cách tích cực cuộc sống dưới chủ nghĩa xã hội với những khó khăn và bất công lớn lao của những ngày trước cách mạng. Như một thanh niên Cuba, người không có ký ức về cuộc sống trước cách mạng, đã nói: “Chúng tôi mệt mỏi với những khẩu hiệu rồi. Điều đó có thể đúng với cha mẹ chúng tôi, nhưng cách mạng đã là lịch sử rồi”.
Trong một xã hội mà những kỳ vọng tăng nhanh chóng mặt—và đôi khi là phi thực tế—những người làm việc không hiệu quả, những người không tìm được công việc tương xứng với trình độ đào tạo, hoặc những người bị kẹt trong những công việc lao dịch nặng nhọc, là những người đặc biệt khao khát sự thay đổi. Ngay cả trong những xã hội tốt đẹp nhất, nhiều công việc lao động chỉ có giá trị như một công cụ chứ không mang lại sự hài lòng tự thân. Một nhiệm vụ tẻ nhạt vừa hoàn thành xong thì lại có một nhiệm vụ khác ập đến, vậy thì việc gì phải dốc sức làm cho kiệt quệ? Nếu việc “xây dựng cách mạng” và “chiến thắng trên mặt trận sản xuất” chỉ đồng nghĩa với việc thực hiện những công việc thiết yếu nhưng lặp đi lặp lại một cách đơn điệu trong suốt quãng đời còn lại, thì sức hấp dẫn của cách mạng bị phai nhạt đi là điều dễ hiểu. Thường thì không có đủ những công việc thú vị và sáng tạo để đáp ứng cho tất cả những người tự coi mình là những cá nhân thú vị và sáng tạo.
Theo thời gian, cuộc cách mạng phải chịu đựng sự tầm thường hóa những hào quang (charisma). Những con người bình thường không thể mỗi ngày liên tục để nhiệt tình cống hiến cho những lý tưởng trừu tượng, dù chúng có đẹp đẽ đến đâu. Tại sao phải đấu tranh cho một cuộc sống tốt đẹp hơn nếu nó không thể đạt được ngay lúc này? Và nếu nó có thể được tận hưởng ngay bây giờ, thì hãy quên đi sự hy sinh cách mạng.
Tư tưởng phản động lộ diện
Trong nhiều năm, tôi đã nghe kể về những màn thao túng tuyên truyền cộng sản xảo quyệt đến mức quỷ quyệt. Nhưng về sau, tôi ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng các phương tiện truyền thông ở những quốc gia này thường thiếu sức sống và chậm chạp. Các quốc gia tư bản phương Tây chìm đắm trong một nền văn hóa quảng cáo, với hàng tỷ đô la chi cho tiếp thị và thao túng hình ảnh. Các nước cộng sản không có gì tương xứng như vậy. Các bản tin của họ nhìn chung chỉ bao gồm những chuyến thăm nghi thức tẻ nhạt và những tuyên bố chính thức, cùng với những báo cáo rạng rỡ về kinh tế và xã hội—rạng rỡ đến mức người dân phải than phiền rằng họ không biết chuyện gì đang thực sự xảy ra ngay tại đất nước mình. Họ có thể đọc về tình trạng lạm quyền, tai nạn công nghiệp, biểu tình của công nhân và động đất xảy ra ở bất kỳ quốc gia nào trừ nước mình. Và ngay cả khi báo chí phanh phui những sai phạm trong nước, chúng thường cũng không được sửa chữa.
Các báo cáo truyền thông đôi khi mâu thuẫn với trải nghiệm hàng ngày đến mức báo chí chính thống không còn được tin tưởng ngay cả khi họ nói sự thật—chẳng hạn như khi họ đưa tin về tình trạng nghèo đói và đàn áp ở thế giới tư bản. Thậm chí, nhiều trí thức ở các quốc gia cộng sản còn mang cái nhìn hoàn toàn “mộng mơ” về thế giới tư bản và không sẵn lòng nhìn vào mặt tối của nó. Với thái độ phản đối quyết liệt hệ thống xã hội chủ nghĩa, họ trở nên chống cộng đến mức trở thành những kẻ sùng bái nhiệt thành sự phản động của phương Tây. Một quan điểm càng mang tính “phản động thời thượng” cực đoan bao nhiêu, thì nó lại càng có sức hấp dẫn bấy nhiêu đối với giới trí thức.
Với một sự tôn thờ nhiệt thành, giới trí thức khẳng định rằng phương Tây tư bản, đặc biệt là Hoa Kỳ, là một thiên đường thị trường tự do với sự dư dật tột độ và cơ hội gần như vô hạn. Họ cũng chẳng tin vào bất kỳ điều gì ngược lại. Với một sự chắc chắn tuyệt đối, những trí thức Moscow được ăn học tử tế, tốt nghiệp đại học, ngồi trong những căn hộ khiêm tốn nhưng tiện nghi của mình, sẽ nói với những du khách Mỹ rằng: “Những người nghèo nhất trong số các bạn còn sống tốt hơn chúng tôi.”
David Brooks, một biên tập viên phó bảo thủ của tờ Wall Street Journal, đã đưa ra bản phác họa sau đây về trí thức Moscow:
Anh ta là kẻ thượng đẳng đầy ngạo mạn, và cảm thấy mình đang sống trong một thế giới được điều hành bởi những kẻ ngu xuẩn. Anh ta không hề do dự hay phải đi tìm câu trả lời đúng. Những câu trả lời tức thời đã quá rõ ràng—dân chủ và chủ nghĩa tư bản. Nhiệm vụ tự thân của anh ta là đập tan những kẻ ngốc ngáng đường.... Anh ta không có những cử chỉ cầu kỳ như giới trí thức của chúng ta, mà coi trọng sự thẳng thừng, thô lỗ và ngạo mạn... [Những] trí thức dân chủ [này] yêu Ronald Reagan, thuốc lá Marlboro, và phe miền Nam trong cuộc Nội chiến Mỹ. (National Review, 3/2/92)
Hãy xem xét trường hợp của Andrei Sakharov, người con cưng của báo giới Hoa Kỳ, người thường xuyên ca ngợi tập đoàn tư bản chủ nghĩa trong khi hạ thấp những tiến bộ mà nhân dân Liên xô đã đạt được. Ông đã đả kích phong trào hòa bình tại Mỹ vì sự phản đối của họ đối với Chiến tranh Việt Nam, đồng thời cáo buộc Liên Xô là những kẻ bành trướng quân sự và là thủ phạm duy nhất đằng sau cuộc chạy đua vũ trang. Sakharov ủng hộ mọi cuộc can thiệp vũ trang của Mỹ ở nước ngoài như một cách để bảo vệ dân chủ, và mô tả các hệ thống vũ khí mới của Mỹ như bom neutron “có tính chất phòng thủ là chính”. Được các nhà lãnh đạo và truyền thông Mỹ tôn vinh là “người bảo vệ nhân quyền”, nhưng ông chưa bao giờ có một lời chỉ trích nào đối với những vi phạm nhân quyền do các chế độ phát xít của các quốc gia chư hầu trung thành với Mỹ gây ra, bao gồm cả Chile thời Pinochet và Indonesia thời Suharto, thậm chí ông còn buông những lời mỉa mai nhắm vào những ai làm điều đó. Ông thường xuyên tấn công những người ở phương Tây có ý kiến bất đồng với quan điểm chống cộng chính thống và những người phản đối chủ nghĩa can thiệp của Mỹ ở nước ngoài. Giống như nhiều trí thức Đông Âu khác, sự ủng hộ của Sakharov đối với quyền được bất đồng ý kiến đã không mở rộng tới những quan điểm lệch về phía cánh tả so với quan điểm của chính ông.
Sự dung dưỡng đối với chủ nghĩa đế quốc phương Tây thậm chí còn lan tới tận những tầng lớp cao nhất của chính phủ Liên Xô, được phản ánh qua nhận định vào năm 1989 của một quan chức cấp cao thuộc Bộ Ngoại giao Liên Xô, Andrey Kozyrev. Ông ta tuyên bố rằng các quốc gia thuộc Thế giới thứ ba “không phải chịu khổ vì chủ nghĩa tư bản hơn so với việc sự thiếu vắng nó”. Dù là do cố ý hay vì sự ngu ngốc, ông ta đã nhầm lẫn giữa vốn [capital] (thứ mà các quốc gia đó đang thiếu) với chủ nghĩa tư bản [capitalism] (thứ mà họ đã có quá đủ để biến họ thành nạn nhân). Ông ta cũng khẳng định rằng “không có nhóm [tư sản] chính yếu nào ở Mỹ có liên quan đến chủ nghĩa quân phiệt”. Việc coi họ là những kẻ đế quốc đi cướp bóc các quốc gia Thế giới thứ ba chỉ là một “ý niệm rập khuôn” cần được loại bỏ.
Là một hệ thống phân tích chủ yếu quan tâm đến chủ nghĩa tư bản đang tồn tại, chủ nghĩa Marx có tương đối ít điều để nói về sự phát triển của các xã hội xã hội chủ nghĩa. Tại các quốc gia cộng sản, chủ nghĩa Marx được phân phát như những lời giáo lý khô khan. Sự phê phán của nó đối với chủ nghĩa tư bản không còn sức sống hay ý nghĩa đối với những người đang sống trong một xã hội phi tư bản. Thay vào đó, hầu hết giới trí thức tìm thấy sự phấn khích trong “trái cấm” là hệ tư tưởng tư sản phương Tây. Khi nhìn về phương Tây, họ không quan tâm đến việc mở rộng phổ hệ tư tưởng—một mục tiêu đáng mong đợi—mà là thay thế quan điểm thống trị bằng một quan điểm chính thống chống cộng cánh hữu. Họ không muốn chấm dứt ý thức hệ, mà muốn thay thế ý thức hệ này bằng một ý thức hệ khác. Không chút do dự, họ góp giọng vào dàn đồng ca ca ngợi vinh quang của thiên đường thị trường tự do.
Được trợ cấp mạnh mẽ từ các nguồn phương Tây, giới trí thức cánh hữu đã tạo ra các ấn phẩm như Moscow News và Argumentyi Fakty, đưa ra những thông điệp ủng hộ chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc một cách quyết liệt. Một ấn phẩm như vậy, tờ Literaturnaya Gazeta (tháng 3/1990), đã ca ngợi Reagan và Bush là những “chính trị gia lỗi lạc” và “kiến trúc sư của hòa bình”. Nó đặt dấu hỏi về sự cần thiết của Bộ Văn hóa ở Liên Xô, ngay cả khi bộ này đang được điều hành bởi một người chống cộng: “Chẳng có bộ nào như vậy ở Hoa Kỳ cả, vậy mà dường như văn hóa Mỹ chẳng có vấn đề gì cả”. Ai nói người Nga không có khiếu hài hước nào?
Cùng với việc cộng sản suy yếu quyền lực ở Đông Âu, những thành phần chính trị cặn bã nhất bắt đầu nổi lên bề mặt, từ những cảm tình viên quốc xã đến các nhóm thù ghét đủ mọi loại, mặc dù họ không phải là những kẻ duy nhất gieo rắc sự kỳ thị. Vào năm 1990, không ai khác chính lãnh đạo Công đoàn Đoàn kết Ba Lan Lech Walesa đã tuyên bố rằng “một băng nhóm người Do Thái đã nắm lấy máng ăn và quyết tâm tiêu diệt chúng ta”. Sau đó, ông duy trì lập luận rằng nhận xét đó không áp dụng cho tất cả người Do Thái mà chỉ những kẻ “chỉ biết lo cho bản thân mà chẳng hề quan tâm đến ai khác” (Nation, 9/10/90). Năm sau đó, trong cuộc bầu cử tổng thống hậu cộng sản ở Ba Lan, các ứng cử viên khác nhau (bao gồm cả Walesa) đã cạnh tranh nhau bằng những ám chỉ bài Do Thái. Năm 1996, tại một buổi lễ quốc gia, thủ lĩnh Công đoàn Đoàn kết Zygmunt Wrzodak đã sử dụng những lời chửi bới bài Do Thái trong khi đả kích chế độ cộng sản trước đó (New York Times, 7/9/96).
Lãng mạn hóa chủ nghĩa tư bản
Vào năm 1990, tại Washington, D.C., đại sứ Hungary đã tổ chức một cuộc họp báo để thông báo rằng đất nước của ông đang từ bỏ hệ thống xã hội chủ nghĩa vì nó không hoạt động hiệu quả. Khi tôi hỏi tại sao nó không hiệu quả, ông ta trả lời: “Tôi không biết.” Đây là một người tự thú nhận rằng mình chẳng hiểu gì về những thiếu sót trong quá trình kinh tế - xã hội của đất nước mình, dù ông ta là một trong những người chịu trách nhiệm điều hành quá trình đó. Những nhà lãnh đạo chỉ trò chuyện với nhau thì sẽ sớm trở nên xa rời thực tế.
Các nhà hoạch định chính sách của các quốc gia cộng sản này đã cho thấy một cách hiểu về những vấn đề họ đang đối mặt một cách phi Mác-xít đến ngạc nhiên. Có vô số những lời chỉ trích và cảnh báo, nhưng lại có rất ít sự phân tích mang tính hệ thống về lý do tại sao và làm thế nào mà mọi thứ lại rơi vào bế tắc như vậy. Thay vào đó là rất nhiều sự ngưỡng mộ đối với cái được cho là bí quyết của tư bản phương Tây, và sự hiểu biết ít ỏi đến đáng kinh ngạc về mặt tối nhơ nhuốc của chủ nghĩa tư bản cũng như cách nó tác động đến thế giới.
Tại Liên Xô, glasnost (việc sử dụng thảo luận phê bình để khuyến khích đổi mới và cải cách) đã mở cửa truyền thông Xô-viết cho sự thâm nhập của phương Tây, và đẩy nhanh chính sự bất mãn mà nó vốn định khắc phục. Các nhà lãnh đạo ở Ba Lan và Hungary, và cuối cùng là Liên Xô cùng các quốc gia cộng sản châu Âu khác, đã quyết định mở cửa nền kinh tế cho đầu tư phương Tây vào cuối những năm 1980. Người ta dự đoán rằng sở hữu nhà nước sẽ tồn tại bình đẳng với các hợp tác xã, nhà đầu tư nước ngoài và các doanh nhân tư nhân trong nước (Washington Post, 4/17/89). Thực tế là, toàn bộ nền kinh tế nhà nước đã bị đặt vào vòng nguy hiểm và cuối cùng là bị phá hủy. Các nhà lãnh đạo cộng sản thậm chí còn hiểu biết về hệ thống tư bản ít hơn cả hệ thống của chính mình.
Hầu hết những người sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa có rất ít hiểu biết về thực tiễn của chủ nghĩa tư bản. Các công nhân được phỏng vấn ở Ba Lan tin rằng nếu nhà máy của họ bị đóng cửa trong quá trình chuyển đổi sang thị trường tự do, “nhà nước sẽ tìm cho chúng tôi một công việc khác”. Họ nghĩ rằng họ sẽ có được cả hai. Ở Liên Xô, nhiều người ủng hộ tư hữu hóa cũng đồng thời mong đợi chính phủ tiếp tục cung cấp cho họ các phúc lợi tập thể và trợ cấp. Một người nông dân đầy hoài nghi đã nhận xét rất đúng rằng: “Một số người muốn trở thành nhà tư bản cho riêng mình, nhưng lại mong đợi chủ nghĩa xã hội tiếp tục phục vụ họ.” (Guardian, 10/23/91).
Thực tế đôi khi giáng một đòn đau. Vào năm 1990, trong thời kỳ glasnost, khi chính phủ Liên Xô thông báo rằng giá giấy in báo sẽ tăng 300% để phù hợp với chi phí thực tế, các ấn phẩm mới theo khuynh hướng ủng hộ tư bản đã phàn nàn cay đắng. Họ tức giận vì chủ nghĩa xã hội nhà nước sẽ không còn trợ cấp cho chính những bài viết bài trừ chủ nghĩa xã hội nhà nước của họ nữa. Họ đang phải chịu đựng đúng những thực tế của thị trường tự do mà họ đã nhiệt thành cổ xúy cho mọi người khác, và họ chẳng hề thích điều đó chút nào.
Không phải ai cũng lãng mạn hóa chủ nghĩa tư bản. Nhiều người di cư từ Liên Xô và Đông Âu sang Hoa Kỳ trong những năm 1970 và 1980 đã phàn nàn về dịch vụ xã hội nghèo nàn, tình trạng tội phạm, điều kiện làm việc khắc nghiệt, sự thiếu vắng tinh thần cộng đồng, các chiến dịch bầu cử tầm thường, tiêu chuẩn giáo dục thấp kém và sự thiếu hiểu biết kinh ngạc của người Mỹ về lịch sử.
Họ khám phá ra rằng mình không còn có thể rời công việc ban ngày để đi mua sắm, rằng chủ lao động không cung cấp bác sĩ riêng của công ty khi họ đổ bệnh tại nơi làm việc, rằng họ phải chịu những lời khiển trách nặng nề khi đi làm muộn, rằng họ không thể đi dạo trên đường phố hay công viên vào đêm muộn mà không thấy sợ hãi, rằng họ có thể không đủ khả năng chi trả dịch vụ y tế cho gia đình hay học phí đại học cho con cái, và rằng họ không được đảm bảo về việc làm và có thể trải qua tình trạng thất nghiệp bất cứ lúc nào.
Trong số những người chưa từng di cư, cũng có những người không hề nuôi dưỡng ảo tưởng về chủ nghĩa tư bản. Trên thực tế, nhiều công nhân, nông dân và người già đã lo sợ về những thay đổi sắp tới và không hoàn toàn tin vào huyền thoại thị trường tự do. Một cuộc khảo sát năm 1989 tại Tiệp Khắc cho thấy 47% muốn nền kinh tế của họ tiếp tục do nhà nước kiểm soát, trong khi 43% muốn một nền kinh tế hỗn hợp, và chỉ có 3% cho biết họ ủng hộ chủ nghĩa tư bản (New York Times, 12/1/89). Vào tháng 5 năm 1991, một cuộc khảo sát người Nga của một tổ chức thăm dư luận Mỹ cho thấy 54% chọn một hình thức xã hội chủ nghĩa nào đó và chỉ 20% muốn một nền kinh tế thị trường tự do như ở Hoa Kỳ hoặc Đức. 27% khác lựa chọn 'một hình thức chủ nghĩa tư bản sửa đổi như ở Thụy Điển" (Monthly Review, 12/94).
Tuy vậy, một số lượng đáng kể, đặc biệt là trong giới trí thức và thanh niên—hai nhóm người luôn nghĩ mình biết tất cả—đã lựa chọn thiên đường thị trường tự do mà không có một chút khái niệm nào về cái giá xã hội của nó. Đối mặt với trí tưởng tượng bị thổi phồng, thực tế trở nên thật nghèo nàn. So với hình ảnh rạng rỡ về sự dư dật của phương Tây, những trải nghiệm thường nhật đầy rẫy sự khan hiếm và thường xuyên gây bực bội của xã hội cộng sản đã không có một cơ hội nào để cạnh tranh.
Dường như chủ nghĩa cộng sản đã tạo ra một động lực biện chứng tự hủy diệt chính mình. Nó đã tiếp nhận những quốc gia bán phong kiến, bị tàn phá và kém phát triển, rồi công nghiệp hóa chúng thành công, mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho đa số người dân. Nhưng chính quá trình hiện đại hóa và nâng cao đời sống này cũng tạo ra những kỳ vọng không thể được lấp đầy. Nhiều người mong đợi giữ lại tất cả những sự đảm bảo của chủ nghĩa xã hội, nhưng lại muốn được phủ lên trên đó sự tiêu dùng kiểu tư bản. Như chúng ta sẽ thấy trong các chương tiếp theo, họ chuẩn bị đón nhận những bất ngờ đau đớn.
Một lý do khiến chủ nghĩa xã hội trong vòng vây không thể chuyển mình sang chủ nghĩa xã hội tiêu dùng là bởi tình trạng bị bao vây chưa bao giờ được dỡ bỏ. Như đã lưu ý ở chương trước, chính những thiếu sót nội tại rất thực tế trong các hệ thống cộng sản đã bị trầm trọng hóa bởi những cuộc tấn công và đe dọa không ngừng nghỉ từ các cường quốc phương Tây. Sinh ra trong một thế giới tư bản đầy thù địch, các quốc gia cộng sản đã phải gánh chịu những cuộc chiến tranh, xâm lược và một cuộc chạy đua vũ trang làm kiệt quệ năng lực sản xuất và kìm hãm sự phát triển của họ. Quyết định của các nhà lãnh đạo Xô-viết nhằm đạt được sự cân bằng quân sự với Hoa Kỳ—trong khi xuất phát từ một nền tảng công nghiệp nhỏ hơn nhiều—đã đặt một áp lực nặng nề lên toàn bộ nền kinh tế Liên Xô.
Chính cái chủ nghĩa xã hội trong vòng vây từng giúp Liên Xô tồn tại đã khiến quốc gia này khó lòng phát triển phồn vinh. Perestroika (cuộc cải tổ các hoạt động kinh tế - xã hội nhằm cải thiện năng suất) được dự định để mở cửa và hồi sinh sản xuất. Nhưng thay vào đó, nó lại dẫn đến sự tan rã của toàn bộ cấu trúc xã hội chủ nghĩa nhà nước. Do đó, các phương tiện truyền thông đa nguyên vốn định thay thế sự độc quyền truyền thông cộng sản, cuối cùng lại biến tướng thành một sự độc quyền tư tưởng ủng hộ tư bản. Điều tương tự cũng xảy ra với các định chế xã hội chủ nghĩa khác. Ý định ban đầu là dùng một liều thuốc tư bản để củng cố chủ nghĩa xã hội; nhưng thực chất, chủ nghĩa xã hội đã bị lợi dụng để bao cấp và đặt nền móng cho một hệ thống tư bản khắc nghiệt.