Chương 3: Chủ nghĩa chống Cộng cánh tả

 


Sự phục tùng với giáo điều chính thống

Ở Hoa Kỳ trong suốt hơn một trăm năm, giai cấp thống trị tuyên truyền quần chúng chủ nghĩa chống cộng một cách không ngừng nghỉ, biến nó thành một nghi thức tôn giáo chính thống hơn là phân tích chính trị. Xuyên suốt thời kỳ chiến tranh Lạnh, một khung tư tưởng chống cộng có thể biến bất kể động thái của các nhà nước cộng sản đang tồn tại thành bằng chứng thù địch. Nếu nhà nước Xô-viết từ chối đàm phán một điểm nào đó tức là họ là những kẻ không khoan nhượng và hiếu chiến; nếu họ đề xuất sự nhượng bộ, đó là một mánh khóe khéo léo để làm chúng ta mất cảnh giác. Bằng cách chống lại các kiểm soát vũ trang, họ sẽ phơi bày ý định xâm lược; nhưng trong thực tế khi họ ủng hộ phần lớn các thỏa thuận vũ trang là bởi vì chúng đều sai sự thật và gian manh. Nếu các nhà thờ ở Liên bang Xô-viết trống rỗng, điều đó cho thấy tôn giáo bị đàn áp; nhưng nếu nhà thờ đông kín người, nó lại cho thấy người dân chống lại tư tưởng vô thần của chế độ. Nếu công nhân đình công (như đã xảy ra một số lần), đó là bằng chứng của sự xa rời hệ thống tập thể; nếu công nhân không đình công, bởi vì họ đã bị đe dọa và thiếu tự do. Sự khan hiếm hàng hóa tiêu dùng cho thấy sự yếu kém của hệ thống kinh tế; một sự cải thiện trong sản xuất tiêu dùng nghĩa là các lãnh đạo đang cố xoa dịu bộ phận người dân bất mãn và củng cố vững chắc vị trí của họ.

Nếu những người cộng sản ở Hoa Kỳ đóng vai trò quan trọng trong đấu tranh cho quyền của công nhân, người nghèo, người Mỹ gốc Phi, phụ nữ, và những tầng lớp khác, đó chỉ là cách lừa dối duy nhất để giành ảnh hưởng ở những nhóm yếu thế và lấy được quyền lực cho chúng. Làm cách nào một người có thể giành quyền lực bằng cách đấu tranh cho những nhóm người yếu thế chưa bao giờ được lý giải. Thứ mà chúng ta đang phải đối mặt là một thứ chính thống giáo điều không thể bị bác bỏ, được giai cấp thống trị quảng bá một cách hết sức kiên trì, đến mức nó ảnh hưởng đến con người trên toàn bộ phổ chính trị.

Sự phục tùng với giáo điều chính thống

Nhiều nhà cánh tả Mỹ đã thể hiện sự công kích Liên Xô và kích động chống cộng không khác gì lực lượng cánh hữu về mức độ thù địch và thô thiển. Hãy nghe Noam Chomsky phát biểu về “những tri thức cánh tả” cố gắng “leo lên chỉ đạo các phong trào quần chúng” rồi “sau đó đàn áp nhân dân để buộc họ phục tùng… Bạn khởi đầu cơ bản là Leninist người mà sẽ trở thành một phần của chế độ quan liêu Đỏ. Về sau bạn nhận ra quyền lực không nằm ở đó, và bạn nhanh chóng trở thành một nhà tư tưởng của cánh hữu… Chúng ta đang thấy điều đó ở Liên Xô (cũ). Những kẻ trước đây từng là tay sai của cộng sản cách đây hai năm, bây giờ đang vận hành những ngân hàng và ủng hộ nhiệt thành thị trường tự do, ca ngời người Mỹ” (Z Magazine, 10/95).

Hình ảnh mà Chomsky sử dụng chịu ảnh hưởng nặng nề từ chính văn hóa chính trị doanh nghiệp của Hoa Kỳ - thứ mà ông thường xuyên chỉ trích ở những vấn đề khác. Theo cách nhìn của ông, cuộc cách mạng đã bị phản bội bởi bọn “cộng sản côn đồ” khát quyền lực hơn muốn quyền lực để chấm dứt nghèo đói. Trên thực tế, những người cộng sản không thần tốc chuyển thành cánh hữu mà đã đấu tranh trong bối cảnh một cuộc tấn công quy mô lớn nhằm bảo vệ nền xã hội chủ nghĩa Xô-viết tồn tại suốt hơn bảy mươi năm. Quả thực, vào những ngày cuối cùng của Liên Xô, một số người – như Boris Yeltsin – đã chuyển sang hàng ngũ tư bản chủ nghĩa; nhưng những người khác vẫn tiếp tục chống lại sự xâm nhập của thị trường tự do với cái giá rất đắt, nhiều người trong số đó đã thiệt mạng trong cuộc đàn áp bạo lực của Yeltsin đối với quốc hội Nga năm 1993.

Một số nhà cánh tả và người khác rơi vào định kiến cũ về những người Đỏ khát quyền lực mà theo đuổi quyền lực vì chính nó mà không quan tâm đến các mục tiêu xã hội thực tế. Nếu điêu đó là đúng, thì một người sẽ thắc mắc vì sao, từ quốc gia này đến quốc gia khác, những “kẻ Đỏ” ấy lại đứng về phía người nghèo và những người không có quyền lực, thường chịu rủi ro và hy sinh lớn cho bản thân, thay vì hưởng lợi từ việc phục vụ những kẻ có địa vị.

Trong nhiều thập kỷ, nhiều nhà văn và diễn giả thiên tả ở Hoa Kỳ cảm thấy buộc phải khẳng định uy tín của mình bằng cách chìm đắm vào các chủ đề chống chủ nghĩa cộng sản và chống Liên Xô, dường như không thể phát biểu, viết bài hay phê bình sách bất kỳ chủ đề chính trị nào mà không nhét vào các quan điểm chống cộng. Mục đích cho đến này là tách biệt họ khỏi những người cánh tả Mác-xít – Leninist.

Adam Hochschild, một nhà văn theo chủ nghĩa tự do và nhà xuất bản, đã cảnh báo những người cánh tả có thể lơ là trong việc lên án các xã hội cộng sản còn tồn tại rằng họ “làm suy yếu uy tín chính mình” (Guardian, 23/5/1984). Nói một cách khác, để trở thành những người phản đối Chiến tranh Lạnh đáng tin cậy, chúng ta trước tiên phải tham gia vào việc lên án các xã hội cộng sản trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Ronald Radosh thì kêu gọi phong trào hòa bình phải tự thanh lọc những người cộng sản để phong trào đấy không bị xét là trở thành cộng sản (Guardian, 16/3/1983). Nếu tôi hiểu lời của Radosh: Để cứu lấy chính mình khỏi cuộc “thanh trừng” chống cộng, chính chúng ta phải tự biến mình thành những kẻ thanh trừng.

Việc thanh lọc những người cộng sản khỏi cánh tả đã trở thành một thực tiễn kéo dài, gây ra những tác động tiêu cực đối với nhiều phong trào tiến bộ. Chẳng hạn, vào năm 1949, khoảng mười hai công đoàn đã bị trục xuất khỏi Đại hội các Tổ chức Công nghiệp (Congress of Industrial Organizations - CIO) bởi vì họ có những người phe Đỏ trong ban lãnh đạo. Cuộc thanh trừng đã giảm thành viên CIO khoảng 1.7 triệu người và làm suy yếu đáng kể các nỗ lực tuyển dụng cũng như ảnh hưởng chính trị của tổ chức này. Cuối những năm 1940, để tránh bị bôi nhọ là cộng sản, tổ chức Người Mỹ vì Hành động Dân chủ (Americans for Democratic Action - ADA), một nhóm được xem là tiến bộ, đã trở thành một trong những tổ chức chống cộng sản mạnh mẽ nhất.

Chiến lược này lại trở nên không hiệu quả. ADA và những tổ chức cánh tả khác vẫn bị tấn công vì được xem là cộng sản hoặc mềm dẻo với chủ nghĩa cộng sản bởi những người bên cánh hữu. Từ trước đến nay, nhiều người thuộc cánh tả vẫn không nhận ra rằng những người đấu tranh thay đổi xã hội vì lợi ích của những nhóm yếu thế sẽ bị giới tinh hoa bảo thủ vu cáo là cộng sản, bất kể họ có phải là người cộng sản hay không. Với giai cấp thống trị, việc tài sản và quyền lực của họ bị thách thức bởi “những kẻ lật đổ cộng sản” hay “những người tự do trung thành của Mỹ” hầu như không tạo ra sự khác biệt. Tất cả đều bị gộp chung lại và bị coi là đáng ghê tởm như nhau.

Ngay cả khi tấn công phe cánh hữu, các nhà phê bình cánh tả cũng không thể bỏ lỡ cơ hội phô trương lập trường chống cộng của mình. Vì vậy, Mark Green đã viết trong một bài phê phán Tổng thống Ronald Reagan rẳng “khi đối mặt với một tình huống thách thức sự giáo điều bảo thủ của mình, giống như một người Mác-xít-Leninst cứng rắn, [Reagan] sẽ không thay đổi suy nghĩ đã xem là chân lý.” Trong khi tuyên bố cam kết chống chủ nghĩa giáo điều của “cả cánh hữu lẫn cánh tả”, những cá nhân thực hiện những hành động nhượng bộ theo kiểu mẫu như vậy lại củng cố thứ giáo điều chống cộng. Những người cánh tả bài cộng sản đã góp phần tạo nên bầu không khí thù địch cho phép các nhà lãnh đạo Mỹ tự do tiến hành các cuộc chiến tranh nóng và lạnh chống lại các nước cộng sản và thậm chí cả ngày nay điều đó vẫn khiến một chương trình nghị sự tiến bộ hay tự do khó có thể được thúc đẩy.

George Orwell là một ví dụ điển hình của kẻ bài cộng sản nhưng tự xem mình là cánh tả. Giữa Thế chiến II, khi Liên Xô đang chiến đấu chống lại lực lượng phát xít xâm lược tại Stalingrad, Orwell tuyên bố rằng “sự sẵn lòng chỉ trích nước Nga và Stalin là thước đo của sự trung thực trí tuệ. Đó là điều duy nhất mà từ quan điểm của một trí thức văn chương thực sự nguy hiểm” (Monthly Review, 5/83). Ẩn mình an toàn trong một xã hội chống cộng, Orwell (với tư duy hai mặt kiểu Orwell) đã mô tả việc lên án chủ nghĩa cộng sản như một hành động phản kháng dũng cảm đơn độc. Ngày nay, những người kế thừa tư tưởng của ông vẫn tiếp tục con đường đó, tự xưng là những nhà phê bình tả khuynh gan dạ, tiến hành một cuộc đấu tranh quả cảm chống lại thế lực Mác-xít-Leninst-Stalinist tưởng tượng.

Điều thiếu sót trầm trọng trong giới cánh tả Mỹ là bất kỳ sự đánh giá hợp lý nào về Liên Xô, một quốc gia đã trải qua cuộc nội chiến kéo dài và cuộc xâm lược của nhiều nước ngay trong những năm đầu thành lập, và hai thập kỷ sau đó đã đẩy lùi và tiêu diệt con thú phát xít với cái giá phải trả vô cùng đắt. Trong ba thập kỷ sau cuộc cách mạng Bolshevik, Liên Xô đã đạt được những tiến bộ công nghiệp ngang bằng với những gì chủ nghĩa tư bản phải mất cả thế kỷ mới đạt được – trong khi nuôi dưỡng và giáo dục con em họ thay vì bắt làm việc 14 tiếng/ ngày như các nhà tư bản công nghiệp đã và vẫn đang làm ở nhiều nơi trên thế giới. Và Liên Xô, cùng với Bulgaria, Cộng hòa Dân chủ Đức, và Cuba đã cung cấp sự hỗ trợ thiết yếu cho các phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, bao gồm cả Đại hội Dân tộc Phi của Nelson Mandela ở Nam Phi.

Những người chống cộng cánh tả vẫn tỏ ra không mấy ấn tượng trước những thành tựu to lớn mà tầng lớp nghèo khổ trước đây đã đạt được dưới chế độ cộng sản. Tôi nhớ lại vào năm 1971, ở Burlington, Vermont, nhà hoạt động vô chính phủ chống cộng khét tiếng, Murray Bookchin, đã chế giễu sự quan tâm của tôi với “những đứa trẻ tội nghiệp được nuôi dưỡng dưới chế độ cộng sản” (theo lời của ông ta).

Dán nhãn để chỉ trích

Những người như chúng tôi từ chối tham gia công kích Liên Xô được những nhà cánh tả chống cộng dán mác “ những kẻ biện hộ cho Liên Xô” và “Stalinist”, bất chấp cả khi chúng tôi không thích Stalin và chế độ chuyên quyền của ông và tin rằng xã hội Liên Xô hiện tại có nhiều vấn đề nghiêm trọng. Tội lỗi thật sự của chúng ta là, trái ngược với nhiều người cánh tả, chúng ta đã không chấp nhận tiêu thụ một cách không phê phán những tuyên truyền của truyền thông Hoa Kỳ về các xã hội cộng sản. Thay vào đó, chúng tôi cho rằng, bên cạnh những thiếu sót và bất công đã được công bố rộng rãi, vẫn tồn tại những đặc điểm tích cực trong các hệ thống cộng sản hiện hữu đáng được duy trì – nhưng yếu tố đã cải thiện đời sống của hàng trăm triệu người theo những cách có ý nghĩa và mang tính nhân văn. Lập luận này đã gây ra sự khó chịu rõ rệt đối với những người chống cộng trong phe cánh tả, những người mà bản thân họ không thể thốt ra một lời tích cực nào về bất kỳ xã hội cộng sản nào (ngoại trừ có thể là Cuba), và cũng không thể lắng nghe một cách khoan dung, thậm chí lịch sự, bất kỳ ai làm điều đó.

Bị bão hòa với chủ nghĩa chống cộng chính thống, hầu hết cánh tả Mỹ đã thực hiện một chủ nghĩa McCarthy cánh tả chống lại những người có thái độ tích cực khi nói về chủ nghĩa cộng sản đang tồn tại, loại bỏ họ khỏi tham gia các hội nghị, các hội đồng tư vấn, các cuộc ủng hộ chính trị và các ấn phẩm cánh tả. Giống như những nhà bảo thủ, những người cánh tả chống cộng không chấp nhận gì khác việc lên án toàn diện Liên Xô như sự cuồng bạo của chủ nghĩa Stalin và sự lệch chuẩn đạo đức mang tính Leninist.

Việc nhiều người cánh tả ở Hoa Kỳ hầu như không quen thuộc với các tác phẩm và hoạt động chính trị của Lenin cũng không ngăn họ tùy tiện gán nhãn “Leninist”. Noam Chomsky – một nguồn gần như vô tận của những biếm họa chống cộng – đưa ra nhận xét sau về chủ nghĩa Lenin: “Các trí thức phương Tây và cả Thế giới thứ ba bị thu hút bởi các cuộc phản cách mạng Bolshevik [nguyên văn] vì chủ nghĩa Lenin, rốt cục là một học thuyết cho rằng giới trí thức cấp tiến có quyền giành lấy quyền lực nhà nước và điều hành đất nước bằng vũ lực – và đó là một ý tưởng khá hấp dẫn đối với giới trí thức.” Ở đây Chomsky đã xây dựng hình ảnh những trí thức khao khát quyền lực để phụ họa cho hình ảnh biếm họa của ông về những người Leninist – những kẻ phản diện không tìm kiếm các phương tiện cách mạng để chống lại bất công, mà chỉ theo đuổi quyền lực vì chính nó. Khi nói đến việc công kích “phe Đỏ”, một số người ưu tú nhất của cánh tả đôi khi cũng không khá hơn những người tệ nhất ở cánh hữu.

Vào thời điểm sự kiện khủng bố đánh bom ở thành phố Oklahoma năm 1996, tôi nghe một phát thanh viên nói như sau: “Lenin đã nói rằng mục tiêu của khủng bố là để gây ra khủng bố”. Các bình luận viên truyền thông Mỹ đã liên tục trích dẫn Lenin theo cách gây hiểu lầm như vậy. Trên thực tế, phát biểu của ông mang tính phê phán đối với chủ nghĩa khủng bố. Ông đã phản biện chống lại những hoạt động khủng bố đơn lẻ - những hành động không làm gì khác ngoài gieo rắc nỗi sợ trong quần chúng, tạo cớ cho đàn áp, và cô lập phong trào cách mạng khỏi quần chúng. Tách biệt khỏi trở thành một nhà toàn trị hay âm mưu bí mật nào đó, Lenin kêu gọi xây dựng các liên minh rộng rãi và các tổ chức quần chúng, bao gồm những người ở nhiều mức độ phát triển chính trị khác nhau. Ông chủ trương sử dụng nhiều phương thức đa dạng cần thiết để đẩy mạnh đấu tranh giai cấp, bao gồm cả việc tham gia bầu cử nghị viện và các công đoàn hiện có. Dĩ nhiên, giai cấp công nhân – như bất kỳ lực lượng quần chúng nào – cần có tổ chức và sự lãnh đạo để tiến hành một cuộc đấu tranh cách mạng thành công, và đó là vai trò của một đảng tiên phong nhưng điều đó không có nghĩa là cuộc cách mạng vô sản có thể được tiến hành và giành thắng lợi bởi những kẻ đảo chính hoặc khủng bố.

Lenin thường xuyên đối mặt với vấn đề tránh hai thái cực như chủ nghĩa cơ hội tự do tư sản và chủ nghĩa phiêu lưu cực tả. Tuy nhiên, chính ông lại nhiều lần bị các nhà báo chính thống và một số người thuộc phe tả xem là một kẻ lật mặt cực tả. Liệu cách tiếp cận cách mạng của Lenin có còn đáng mong chờ hay thậm chí còn phù hợp trong thời đại ngày nay hay không vẫn là một câu hỏi mà cần được xem xét kỹ lưỡng. Nhưng một đánh giá hữu ích khó có thể đến từ những người xuyên tạc lý thuyết và thực tiễn của ông. 

Những người chống cộng trong cánh tả xem bất kỳ sự liên hệ nào với các tổ chức cộng sản là không thể chấp nhận về mặt đạo đức vì “những tội ác của chủ nghĩa cộng sản”. Thế nhưng nhiều người trong số họ lại gắn bó với Đảng Dân Chủ ở Hoa Kỳ với tư cách là cử tri hoặc thành viên – dường như không mấy bận tâm đến những tội ác chính trị không thể chấp nhận về mặt đạo đức do các lãnh đạo của tổ chức đó gây ra. Dưới các chính quyền thuộc Đảng Dân chủ khác nhau, 120.000 người Mỹ gốc Nhật đã bị tách khỏi nhà cửa và sinh kế rồi bị đưa vào các trại giam giữ; bom nguyên tử đã được ném xuống Hiroshima và Nagasaki, gây tổn thất khổng lồ về sinh mạng vô tội; Cơ quan điều tra Liên bang FBI được trao quyền thâm nhập các nhóm chính trị; đạo luật Smith được sử dụng để bỏ tù các lãnh đạo của Đảng Công nhân Xã hội chủ nghĩa theo đường lối Trotskyist và sau đó là các lãnh đạo của Đảng Cộng sản chỉ vì niềm tin chính trị của họ; các trại giam giữ được thiết lập để tập trung những người bất đồng chính kiến trong trường hợp “tình trạng khẩn cấp quốc gia”; vào cuối những năm 1940 và 1950, tám nghìn công chức liên bang bị thanh trừng khỏi chính phủ vì quan điểm và liên hệ chính trị của họ, trong khi hàng nghìn người khác trong nhiều lĩnh vực nghề nghiệp bị săn lùng và hủy hoại sự nghiệp; đạo luật Trung lập được dùng để áp đặt lệnh cấm vận đối với nền Cộng hòa Tây Ban Nha, qua đó có lợi cho các đạo quân phát xít của Francisco Franco; các chương trình chống nổi dậy mang tính sát hại được khởi động ở nhiều nước thuộc Thế giới thứ ba; và chiến tranh Việt Nam đã được tiếp tục rồi leo thang. Ngoài ra, trong phần lớn một thế kỷ, ban lãnh đạo Quốc hội của Đảng Dân chủ đã bảo vệ chế độ phân biệt chủng tộc và cản trở mọi dự luật chống hành hình linsơ cũng như các dự luật về việc làm công bằng. Tuy nhiên, tất cả những tội ác ấy – gây ra sự tàn phá và cái chết cho vô số người – vẫn không khiến những người tự do, các nhà dân chủ xã hội và những người chống cộng mang danh “dân chủ xã hội chủ nghĩa” liên tục đòi hỏi chúng ta phải lên án toàn diện Đảng Dân chủ hoặc hệ thống chính trị đã sản sinh ra nó, chắc chắn không với sự cuồng nhiệt thiếu khoan dung như thứ đã được hướng vào chủ nghĩa cộng sản hiện hữu.

Chủ nghĩa xã hội thuần túy vs. Chủ nghĩa xã hội trong vòng vây

Theo một số người cánh tả ở Hoa Kỳ, những biến động ở Đông Âu không cấu thành một thất bại của chủ nghĩa xã hội, bởi chủ nghĩa xã hội chưa từng tồn tại ở những quốc gia đó. Họ cho rằng các nhà nước cộng sản chỉ là “chủ nghĩa tư bản nhà nước” quan liêu, độc đảng không hơn không kém. Việc chúng ta có gọi các quốc gia cộng sản trước đây là “xã hội chủ nghĩa” hay không thực chất là vấn đề định nghĩa. Chỉ cần nói rằng chúng cấu thành một cái gì đó khác với những gì tồn tại trong thế giới tư bản vận hành theo lợi nhuận – điều mà chính những người tư bản cũng nhanh chóng nhận ra.

Trước hết, ở các quốc gia cộng sản, sự bất bình đẳng kinh tế thấp hơn dưới chủ nghĩa tư bản. Những đặc quyền mà giới tinh hoa đảng và nhà nước hưởng thụ khá khiêm tốn nếu so với tiêu chuẩn của các CEO doanh nghiệp phương Tây, cũng như thu nhập cá nhân và lối sống của họ. Các lãnh đạo Liên Xô như Yuri Andropov và Leonid Brezhnev không sống trong những dinh thự xa hoa như Nhà Trắng, mà trong những căn hộ tương đối lớn thuộc một khu nhà ở gần Điện Kremlin dành riêng cho lãnh đạo chính phủ. Họ có xe limousine phục vụ (giống như phần lớn nguyên thủ quốc gia khác) và được sử dụng các biệt thự nghỉ dưỡng lớn để tiếp đón khách ngoại giao. Nhưng họ không sở hữu khối tài sản cá nhân khổng lồ như phần lớn giới lãnh đạo Hoa Kỳ.

“Cuộc sống xa hoa” mà các lãnh đạo đảng ở Đông Đức được cho là hưởng thụ như báo chí Hoa Kỳ đưa tin rộng rãi – bao gồm khoản trợ cấp hằng năm trị giá 725 đô la bằng ngoại tệ mạnh, cùng nhà ở trong một khu dân cư biệt lập ở ngoại ô Berlin có phòng xông hơi, hồ bơi trong nhà và trung tâm thể hình dùng chung cho toàn bộ cư dân. Họ cũng có thể mua sắm tại các cửa hàng bán hàng hóa phương Tây như chuối, quần jeans và đồ điện tử Nhật Bản. Tuy nhiên, báo chí Hoa Kỳ không bao giờ chỉ ra rằng người dân Đông Đức bình thường cũng có thể sử dụng các hồ bơi công cộng và phòng tập thể dục, đồng thời có thể mua quần jeans và đồ điện tử (dù thường không phải hàng nhập khẩu). Cũng không hề có sự so sánh giữa mức tiêu dùng “xa hoa” của các lãnh đạo Đông Đức với lối sống thực sự xa xỉ của tầng lớp tài phiệt phương Tây.

Thứ hai, ở các quốc gia cộng sản, lực lượng sản xuất không được tổ chức nhằm mục đích tích lũy tư bản và làm giàu tư nhân; sở hữu công cộng đối với tư liệu sản xuất đã thay thế sở hữu tư nhân. Các cá nhân không thể thuê người khác làm việc cho mình và tích lũy khối tài sản cá nhân khổng lồ từ lao động của họ. Một lần nữa, nếu so với tiêu chuẩn phương Tây, sự chênh lệch về thu nhập và tài sản tiết kiệm giữa người dân nhìn chung là khá nhỏ. Khoảng cách thu nhập giữa người có thu nhập cao nhất và thấp nhất ở Liên Xô vào khoảng năm trên một. Trong khi đó tại Hoa Kỳ, khoảng cách thu nhập hằng năm giữa các tỷ phú hàng đầu và tầng lớp lao động nghèo gần như ở mức 10.000 trên 1.

Thứ ba, ưu tiên được đặt vào các dịch vụ dành cho con người. Dù cuộc sống dưới chủ nghĩa cộng sản còn nhiều điều chưa thỏa đáng và bản thân các dịch vụ hiếm khi đạt chất lượng tốt nhất, các quốc gia cộng sản vẫn bảo đảm cho công dân của mình một mức tối thiểu về sinh tồn và an sinh kinh tế, bao gồm giáo dục, việc làm, nhà ở và hỗ trợ y tế được bảo đảm.

Thứ tư, các quốc gia cộng sản không theo đuổi việc thâm nhập tư bản vào các nước khác. Vì không lấy động cơ lợi nhuận làm động lực vận hành, và do đó không có nhu cầu liên tục tìm kiếm các cơ hội đầu tư mới, họ không tước đoạt đất đai, lao động, thị trường và tài nguyên thiên nhiên của các quốc gia yếu hơn – nói cách khác, họ không thực hành chủ nghĩa đế quốc về kinh tế. Liên Xô đã tiến hành các quan hệ thương mại và viện trợ theo những điều kiện nhìn chung có lợi cho các quốc gia Đông Âu, cũng như Mông Cổ, Cuba và Ấn Độ.

Tất cả những điều trên đều là các nguyên tắc tổ chức tồn tại trong mọi hệ thống cộng sản ở mức độ này hay mức độ khác. Không điều nào trong số đó áp dụng cho các quốc gia thị trường tự do như Honduras, Guatemala, Thailand, Hàn Quốc, Chile, Indonesia, Zaire, Đức hay Hoa Kỳ.

Nhưng người ta lập luận rằng một chủ nghĩa xã hội “đích thực” phải được kiểm soát bởi chính người lao động thông qua sự tham gia trực tiếp, thay vì bị điều hành bởi những người Leninist, Stalinist, Castroite hay các bè phái quan liêu độc ác, khao khát quyền lực và phản cách mạng. Đáng tiếc là quan điểm về “chủ nghĩa xã hội thuần túy” này mang tính phi lịch sử và không thể kiểm chứng; nó không thể được thử nghiệm bằng các thực tế của lịch sử. Nó đem so sánh một lý tưởng với một thực tại không hoàn hảo, và thực tại tất yếu trở nên lép vế. Nó tưởng tượng chủ nghĩa xã hội sẽ như thế nào trong một thế giới tốt đẹp hơn nhiều so với thế giới hiện tại – nơi không cần một cấu trúc nhà nước mạnh hay lực lượng an ninh, nơi không cần trưng thu bất kỳ phần giá trị nào do người lao động tạo ra để tái thiết xã hội và bảo vệ nó trước xâm lược cũng như phá hoại từ bên trong.

Những dự đoán mang tính ý thức hệ của các “nhà xã hội chủ nghĩa thuần túy” vẫn không bị vấy bẩn bởi thực tiễn hiện tồn. Họ không giải thích được các chức năng đa dạng của một xã hội cách mạng sẽ được tổ chức ra sao, làm thế nào để chống lại các cuộc tấn công từ bên ngoài và phá hoại nội bộ, làm sao tránh quan liêu, phân bổ nguồn lực khan hiếm, giải quyết bất đồng chính sách, xác lập ưu tiên, hay tiến hành sản xuất và phân phối. Thay vào đó, họ đưa ra những tuyên bố mơ hồ rằng chính người lao động sẽ trực tiếp sở hữu và kiểm soát tư liệu sản xuất, rồi thông qua “đấu tranh sáng tạo” để tìm ra giải pháp của riêng mình. Vì thế, không có gì đáng ngạc nhiên khi các “nhà xã hội chủ nghĩa thuần túy” ủng hộ mọi cuộc cách mạng – ngoại trừ những cuộc cách mạng thành công.

Các “nhà xã hội chủ nghĩa thuần túy” mang trong mình một viễn tưởng về một xã hội mới – một xã hội sẽ tạo ra và đồng thời được tạo ra bởi những con người mới, một xã hội được chuyển hóa tận gốc đến mức hầu như không còn cơ hội cho những hành vi sai trái, tham nhũng hay lạm dụng quyền lực nhà nước mang tính tội phạm. Sẽ không có quan liêu hay các nhóm lợi ích vị kỷ, không có những xung đột tàn nhẫn hay các quyết định gây tổn hại. Khi thực tế cho thấy mọi thứ khác biệt và khó khăn hơn nhiều, một số người cánh tả liền quay sang lên án hiện thực đó và tuyên bố rằng họ “cảm thấy bị phản bội” bởi cuộc cách mạng này hay cuộc cách mạng kia.

Các “nhà xã hội chủ nghĩa thuần túy” xem chủ nghĩa xã hội như một lý tưởng đã bị hoen ố bởi sự tham lam, giả dối và khát vọng quyền lực của những người cộng sản. Họ phản đối mô hình Xô-viết nhưng lại đưa ra rất ít bằng chứng để chứng minh rằng những con đường khác đã có thể được lựa chọn, rằng những mô hình xã hội chủ nghĩa khác – không phải do trí tưởng tượng tạo ra mà được phát triển từ kinh nghiệm lịch sử thực tế – đã có thể hình thành và vận hành tốt hơn. Liệu một chủ nghĩa xã hội cởi mở, đa nguyên và dân chủ có thực sự khả thi trong bối cảnh lịch sử đó hay không? Bằng chứng lịch sử dường như cho thấy là không. Như nhà triết học chính trị Carl Shames đã lập luận:

“Làm sao [những nhà phê bình cánh tả] biết rằng vấn đề cơ bản nằm ở “bản chất” của các đảng cầm quyền [cách mạng], chứ không phải, chẳng hạn, ở sự tập trung tư bản mang tính toàn cầu – thứ đang phá hủy mọi nền kinh tế độc lập và chấm dứt chủ quyền quốc gia ở khắp nơi? Và nếu quả thực là do “bản chất” ấy, thì bản chất đó đến từ đâu? Liệu “bản chất” đó có tồn tại một cách tách rời, không liên hệ với chính kết cấu của xã hội, với những quan hệ xã hội đang tác động lên nó hay không?... Có thể tìm thấy hàng nghìn ví dụ cho thấy việc tập trung quyền lực là một lựa chọn cần thiết để bảo vệ và duy trì các quan hệ xã hội chủ nghĩa. Theo quan sát của tôi [về các xã hội cộng sản hiện tồn], mặt tích cực của “chủ nghĩa xã hội” và mặt tiêu cực của “quan liêu, chủ nghĩa độc đoán và bạo quyền” đan xen với nhau trong hầu như mọi lĩnh vực của đời sống.” (Carl Shames, thư gửi tác giả, 15/1/1992.)

Các “nhà xã hội chủ nghĩa thuần túy” thường xuyên đổ lỗi cho chính cánh tả về mọi thất bại mà họ phải gánh chịu. Việc “hậu kiểm” của họ dường như không bao giờ kết thúc. Vì thế, người ta nghe rằng các cuộc đấu tranh cách mạng thất bại vì lãnh đạo của chúng chờ đợi quá lâu hoặc hành động quá sớm, quá nhút nhát hoặc quá bốc đồng, quá cứng đầu hoặc quá dễ dao động. Người ta nói rằng các lãnh đạo cách mạng thì hoặc quá thỏa hiệp, hoặc quá phiêu lưu; hoặc quá quan liêu, hoặc quá cơ hội; hoặc tổ chức quá cứng nhắc, hoặc tổ chức chưa đủ chặt chẽ; hoặc thiếu dân chủ, hoặc không cung cấp được sự lãnh đạo mạnh mẽ. Nhưng cuối cùng, các lãnh đạo luôn bị quy trách nhiệm vì họ không đặt niềm tin vào “hành động trực tiếp” của giai cấp công nhân – những người mà dường như, theo các nhà phê phán ấy, sẽ vượt qua mọi nghịch cảnh nếu chỉ được dẫn dắt bởi kiểu lãnh đạo đến từ chính nhóm nhỏ của các nhà phê bình cánh tả đó. Đáng tiếc là chính các nhà phê phán này lại dường như không thể áp dụng cái “thiên tài lãnh đạo” của mình để tạo ra một phong trào cách mạng thành công ngay tại đất nước của họ.

Tony Febbo đã đặt nghi vấn về hội chứng đổ lỗi cho lãnh đạo này của các “nhà xã hội chủ nghĩa thuần túy”:

 “Điều khiến tôi suy nghĩ là khi những con người thông minh, khác biệt, tận tụy và quả cảm như Vladimir Lenin, Mao Trạch Đông, Fidel Castro, Daniel Ortega, Hồ Chí Minh và Robert Mugabe – cùng hàng triệu con người anh hùng đã đi theo và chiến đấu cùng họ – rốt cuộc đều đi đến ít nhiều cùng một kết cục, thì chắc hẳn có điều gì đó lớn hơn đang vận hành, chứ không chỉ là ai đã đưa ra quyết định gì trong cuộc họp nào. Hay thậm chí là những ngôi nhà lớn cỡ nào mà họ trở về sau cuộc họp…

Những lãnh đạo ấy không tồn tại trong chân không. Họ ở trong một cơn lốc xoáy. Và lực hút, sức mạnh, quyền lực đã cuốn họ xoay vòng chính là thứ đã làm thế giới này tan nát trong hơn 900 năm. Việc đổ lỗi cho lý thuyết này hay lãnh đạo kia chỉ là một sự thay thế đơn giản hóa cho kiểu phân tích mà những người Mác-xít [đáng lẽ phải thực hiện].” (Guardian, 13/11/1991).

Dĩ nhiên, các “nhà xã hội chủ nghĩa thuần túy” không hoàn toàn thiếu những chương trình cụ thể để xây dựng cách mạng. Sau khi Mặt trận Giải phóng Dân tộc Sandinista lật đổ chế độ độc tài Somoza ở Nicaragua, một nhóm cực tả tại nước này đã kêu gọi quyền sở hữu trực tiếp của công nhân đối với các nhà máy. Những công nhân có vũ trang sẽ tự kiểm soát sản xuất mà không cần giới quản lý, các nhà hoạch định nhà nước, bộ máy quan liêu hay một quân đội chính quy. Mặc dù rõ ràng có sức hấp dẫn, mô hình công đoàn chủ nghĩa công nhân này lại phủ nhận tính cần thiết của quyền lực nhà nước. Với một sự sắp xếp như vậy, cuộc cách mạng Nicaragua hẳn đã không thể tồn tại nổi hai tháng trước cuộc phản cách mạng do Hoa Kỳ hậu thuẫn – cuộc chiến đã tàn phá đất nước này. Nó sẽ không thể huy động đủ nguồn lực để xây dựng quân đội, thực hiện các biện pháp an ninh, hay xây dựng và điều phối các chương trình kinh tế cùng dịch vụ xã hội trên quy mô quốc gia.

Phi tập trung hóa vs. Lẽ sinh tồn

Để một cuộc cách mạng nhân dân có thể tồn tại, nó phải giành lấy quyền lực nhà nước và sử dụng quyền lực đó để (a) phá vỡ sự kìm kẹp mà giai cấp sở hữu áp đặt lên các thiết chế và nguồn lực của xã hội và (b) chống đỡ cuộc phản công phản động chắc chắn sẽ xảy ra. Những nguy cơ cả bên trong lẫn bên ngoài mà một cuộc cách mạng phải đối mặt khiến cho một quyền lực nhà nước tập trung trở nên cần thiết – dù điều đó chẳng thực sự hợp ý ai, không phải ở nước Nga Xô-viết năm 1917, cũng không phải ở Nicaragua năm 1980.

Engels đã đưa ra một mô tả thích đáng về cuộc nổi dậy ở Tây Ban Nha giai đoạn 1872 – 1873, khi những người vô chính phủ giành được quyền lực tại nhiều đô thị trên khắp đất nước. Ban đầu tình hình có vẻ đầy hứa hẹn. Nhà vua đã thoái vị và chính phủ tư sản chỉ tập hợp được vài nghìn binh lính huấn luyện kém. Tuy nhiên, lực lượng chắp vá ấy lại giành chiến thắng vì họ đối mặt với một cuộc nổi dậy bị phân mảnh cục bộ hóa triệt để. “Mỗi thị trấn tự tuyên bố mình là một công xã có chủ quyền và thành lập một ủy ban cách mạng (junta),” Engels viết. “Mỗi thị trấn hành động riêng rẽ, tuyên bố rằng điều quan trọng không phải là hợp tác với các thị trấn khác mà là tách biệt khỏi họ, qua đó loại bỏ mọi khả năng tiến hành một cuộc tấn công phối hợp [chống lại lực lượng của giai cấp tư sản].” Chính “sự phân mảnh và cô lập của các lực lượng cách mạng đã cho phép quân đội chính phủ nghiền nát từng cuộc nổi dậy một.”

Tính tự trị địa phương phân tán chính là nghĩa địa của các phong trào nổi dậy – đó có thể là một lý do vì sao chưa từng tồn tại một cuộc cách mạng vô chính phủ – công đoàn chủ nghĩa thành công. Lý tưởng mà nói, sẽ là điều tuyệt vời nếu chỉ cần sự tham gia tự quản ở cấp địa phương của công nhân, với mức tối thiểu về quan liêu, cảnh sát và quân đội. Đó có lẽ sẽ là hướng phát triển của chủ nghĩa xã hội – nếu chủ nghĩa xã hội từng được phép phát triển mà không bị cản trở bởi phá hoại và tấn công phản cách mạng.

 Người ta có thể nhớ rằng trong giai đoạn 1918–1920, mười bốn quốc gia tư bản, bao gồm cả Hoa Kỳ, đã xâm lược Nga Xô-viết trong một nỗ lực đẫm máu nhưng thất bại nhằm lật đổ chính quyền cách mạng Bolshevik. Những năm tháng nội chiến và xâm lược từ bên ngoài đã góp phần lớn làm gia tăng “tâm lý bị bao vây” của những người Bolshevik, với sự nhấn mạnh vào tính thống nhất tuyệt đối của đảng và một bộ máy an ninh mang tính đàn áp. Vì thế, vào tháng 5 năm 1921, chính Vladimir Lenin – người từng khuyến khích thực hành dân chủ nội bộ trong đảng và đấu tranh chống lại Leon Trotsky nhằm trao cho các công đoàn mức độ tự chủ lớn hơn – nay lại kêu gọi chấm dứt phe “Đối lập công nhân” và các phe phái khác trong đảng. “Đã đến lúc,” ông nói trước Đại hội Đảng lần thứ Mười đầy sự tán thành nhiệt liệt, “phải chấm dứt phe đối lập, phải đậy nắp nó lại: chúng ta đã có đủ phe đối lập rồi.” Những người cộng sản kết luận rằng các tranh chấp công khai và các xu hướng đối lập trong và ngoài đảng tạo ra hình ảnh chia rẽ và yếu đuối – một điều sẽ mời gọi những kẻ thù hùng mạnh tấn công.

Chỉ một tháng trước đó, vào tháng 4 năm 1921, Lenin vẫn còn kêu gọi tăng cường đại diện của công nhân trong Ban Chấp hành Trung ương của đảng. Tóm lại, ông không trở thành “chống công nhân” mà là “chống phe đối lập”. Đây là một cuộc cách mạng xã hội – giống như mọi cuộc cách mạng khác – đã không được phép phát triển đời sống chính trị và vật chất của mình trong điều kiện không bị cản trở.

Đến cuối những năm 1920, người Xô-viết phải đối mặt với lựa chọn: (a) tiếp tục đi theo hướng tập trung hóa hơn nữa với nền kinh tế chỉ huy, tập thể hóa nông nghiệp cưỡng bức và công nghiệp hóa thần tốc dưới sự lãnh đạo mệnh lệnh và chuyên quyền của đảng – con đường mà Stalin đã lựa chọn; hoặc (b) đi theo hướng tự do hóa hơn, cho phép đa dạng chính trị nhiều hơn, trao thêm quyền tự chủ cho công đoàn và các tổ chức khác, mở rộng tranh luận và phê bình công khai, tăng quyền tự trị cho các nước cộng hòa Xô-viết khác nhau, cho phép một bộ phận doanh nghiệp nhỏ thuộc sở hữu tư nhân, phát triển nông nghiệp độc lập của nông dân, chú trọng hơn đến hàng tiêu dùng, và giảm mức độ tích lũy tư bản cần thiết để xây dựng một nền tảng công nghiệp – quân sự mạnh.

Tôi tin rằng con đường thứ hai sẽ tạo ra một xã hội dễ chịu hơn, nhân văn hơn và phục vụ con người tốt hơn. “Chủ nghĩa xã hội trong tình trạng bị bao vây” sẽ nhường chỗ cho một chủ nghĩa xã hội của người lao động – người tiêu dùng. Vấn đề duy nhất là đất nước có nguy cơ không đủ khả năng chống lại cuộc tấn công của Đức Quốc xã. Thay vào đó, Liên Xô đã bắt tay vào một quá trình công nghiệp hóa cưỡng bức và khắc nghiệt. Chính sách này thường được nhắc đến như một trong những sai lầm mà Stalin gây ra cho nhân dân mình. Nó chủ yếu bao gồm việc xây dựng, chỉ trong vòng một thập kỷ, một cơ sở công nghiệp hoàn toàn mới và khổng lồ ở phía đông dãy Ural, giữa vùng thảo nguyên hoang vu – khu tổ hợp thép lớn nhất châu Âu – để chuẩn bị cho một cuộc xâm lược từ phía Tây. “Tiền bạc được tiêu như nước, con người chịu rét, chịu đói và đau khổ, nhưng công cuộc xây dựng vẫn tiếp diễn với sự coi nhẹ cá nhân và một tinh thần anh hùng tập thể hiếm thấy trong lịch sử.”

Lời tiên đoán của Stalin rằng Liên Xô chỉ có mười năm để làm điều mà người Anh đã làm trong cả một thế kỷ hóa ra là chính xác. Khi Đức Quốc xã xâm lược năm 1941, chính cơ sở công nghiệp ấy – an toàn cách xa mặt trận hàng nghìn dặm – đã sản xuất những vũ khí cuối cùng làm xoay chuyển cục diện chiến tranh. Cái giá của sự sinh tồn đó là 22 triệu công dân Liên Xô thiệt mạng trong chiến tranh cùng sự tàn phá và đau khổ không thể đo đếm, những hậu quả đã làm biến dạng xã hội Xô-viết trong nhiều thập kỷ sau đó.

Tất cả điều này không có nghĩa rằng mọi việc Stalin làm đều là tất yếu lịch sử. Những yêu cầu cấp bách của việc bảo vệ cách mạng không “khiến cho việc” xử tử tàn nhẫn hàng trăm lãnh đạo Bolshevik kỳ cựu trở thành điều không thể tránh khỏi; cũng không khiến cho sự sùng bái cá nhân quanh một lãnh tụ tối cao – người nhận mọi thành tựu cách mạng về mình – trở nên tất yếu; cũng không biện minh cho việc bóp nghẹt đời sống chính trị trong đảng bằng khủng bố, sự im lặng áp đặt lên tranh luận về tốc độ công nghiệp hóa và tập thể hóa, sự kiểm soát ý thức hệ đối với đời sống trí thức và văn hóa, hay các cuộc trục xuất hàng loạt những sắc tộc bị coi là “đáng ngờ”.

Những tác động biến đổi do các cuộc tấn công phản cách mạng cũng được cảm nhận ở nhiều quốc gia khác. Một nữ sĩ quan quân đội Mặt trận Giải phóng Dân tộc Sandinista mà tôi gặp ở Vienna năm 1986 cho biết người Nicaragua “không phải một dân tộc hiếu chiến”, nhưng họ buộc phải học cách chiến đấu vì đang đối mặt với một cuộc chiến lính đánh thuê tàn phá do Hoa Kỳ bảo trợ. Bà than phiền rằng chiến tranh và cấm vận đã buộc đất nước phải trì hoãn phần lớn chương trình kinh tế–xã hội của mình. Cũng như ở Nicaragua, tại Mozambique, Angola và nhiều quốc gia khác, các lực lượng lính đánh thuê do Hoa Kỳ tài trợ đã phá hủy đồng ruộng, làng mạc, trung tâm y tế và nhà máy điện, đồng thời giết hại hoặc bỏ đói hàng trăm nghìn người – cách mạng vừa sinh đã bị bóp chết ngay từ trong nôi, hoặc bị rút máu tàn nhẫn đến mức không còn nhận ra được nữa. Thực tế này đáng được thừa nhận ít nhất ngang bằng với việc đàn áp những người bất đồng chính kiến trong các xã hội cách mạng nọ hay kia.

Việc lật đổ các chính phủ cộng sản Đông Âu và Liên Xô đã được nhiều trí thức cánh tả hoan nghênh. Giờ đây dân chủ sẽ có thời của mình. Người dân sẽ được giải phóng khỏi “gông cùm cộng sản”, còn cánh tả Hoa Kỳ sẽ được giải thoát khỏi “gánh nặng” của chủ nghĩa cộng sản hiện hữu. Hoặc như nhà lý luận cánh tả Richard Lichtman diễn đạt, cánh tả sẽ được “giải phóng khỏi ác mộng mang tên Liên Xô và yêu quái mang tên Trung Quốc Cộng sản.”

Trên thực tế, sự phục hồi chủ nghĩa tư bản ở Đông Âu đã làm suy yếu nghiêm trọng nhiều phong trào giải phóng ở Thế giới thứ ba vốn từng nhận được viện trợ từ Liên Xô, đồng thời đưa lên nắm quyền một loạt chính phủ cánh hữu mới – những chính phủ giờ đây phối hợp chặt chẽ với các lực lượng phản cách mạng toàn cầu do Hoa Kỳ hậu thuẫn.

Ngoài ra, sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản đã bật đèn xanh cho các xung lực bóc lột không kiềm chế của giới lợi ích doanh nghiệp phương Tây. Không còn cần phải thuyết phục người lao động rằng họ sống tốt hơn những người đồng cấp ở Nga, và cũng không còn bị kiềm chế bởi một hệ thống cạnh tranh, giai cấp doanh nghiệp đang từng bước xóa bỏ nhiều thành quả mà người lao động phương Tây đã giành được qua nhiều năm đấu tranh. Giờ đây, khi thị trường tự do ở dạng khắc nghiệt nhất của nó – đang nổi lên chiến thắng ở phương Đông, nó cũng sẽ thắng thế ở phương Tây. “Chủ nghĩa tư bản với gương mặt nhân văn” đang bị thay thế bởi “chủ nghĩa tư bản tát thẳng vào mặt bạn.” Như Richard Levins nhận xét: “Trong sự hung hăng đầy phấn khích mới của chủ nghĩa tư bản toàn cầu, chúng ta thấy những gì mà những người cộng sản và các đồng minh của họ từng kìm hãm.” (Monthly Review, 9/1996).

Do chưa bao giờ hiểu được vai trò mà các cường quốc cộng sản hiện hữu từng đóng trong việc kiềm chế những xu hướng tồi tệ nhất của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc phương Tây, và vì nhìn chủ nghĩa cộng sản như một điều ác tuyệt đối không pha tạp, những người chống cộng trong cánh tả đã không dự đoán được những tổn thất sẽ xảy ra. Một số người trong họ đến nay vẫn chưa nhận ra điều đó.