Chương 2: Giờ đây ta hãy cùng ngợi ca cách mạng

 


Trong suốt thế kỉ hiện tại, trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Hoa Kì luôn là nỗ lực đàn áp các chính quyền cách mạng và các phong trào cấp tiến trên toàn thế giới. Ngay từ đầu thế kỉ XX, chính phủ McKinley đã tiến hành một cuộc chiến tranh tiêu hao tàn khốc chống lại nhân dân Philippines kéo dài từ năm 1898 đến 1902 (với nhiều cụm kháng chiến tiếp tục nhiều năm sau đó). Trong cuộc xung đột ấy, quân đội Mỹ đã tàn sát 200.000 đàn ông, phụ nữ và trẻ em Phillipines. Cùng thời điểm ấy, cấu kết với các cường quốc thực dân châu Âu, Mỹ đã xâm lược Trung Quốc để đàn áp cuộc khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn, gây ra tổn thất sinh mạng khủng khiếp cho nghĩa quân Trung Quốc. Mỹ lần lượt đánh chiếm Hawaii, Cuba, Puerto Rico, Guam; và trong những thập kỷ tiếp theo, họ liên tục can thiệp quân sự vào Mexico, nước Nga Xô-viết, Nicaragua, Honduras, Cộng hòa Dominica cùng nhiều quốc gia khác, gây ra những thảm cảnh đau thương cho nhân dân các nước này.

Cái giá của các nỗ lực phản cách mạng

Từ bậc tiểu học cho đến đại học, chúng ta hiếm khi được dạy về những sự thật này, mà thay vào đó, chúng ta bị nhồi nhét rằng quân đội Mỹ buộc phải can thiệp để bảo vệ lợi ích quốc gia, chống xâm lược và bảo vệ an ninh đất nước. Giới cầm quyền Mỹ luôn thêu dệt nên những lý do mỹ miều, rêu rao thuyết phục công chúng rằng nhân dân các nước đang cần sự hướng dẫn khai hóa văn minh và mong cầu phúc lành của dân chủ, hòa bình và thịnh vượng. Mà để đạt được điều đó, họ sẵn sàng tiêu diệt một lượng lớn những người ngoan cố không chịu khuất phục. Đó chính là cái cách mà các nhà hoạch định chính sách Mỹ thực hiện để “khai sáng cho các dân tộc thấp kém”.

Sự trỗi dậy của các cường quốc cộng sản như Liên bang Xô-viết và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã đem đến một chiều kích mới cho chính sách phản cách mạng toàn cầu của Mỹ. Những người cộng sản bị mô tả như “hiện thân của cái ác”, những kẻ âm mưu chiếm đoạt quyền lực vì mục đích cá nhân. Người ta bảo chúng ta rằng Mỹ phải có mặt ở khắp mọi nơi để ngăn chặn sự lây lan của “căn bệnh ung thư” này.

Núp bóng danh nghĩa dân chủ, giới lãnh đạo Mỹ đã tiến hành một cuộc chiến tàn bạo chống lại những người cách mạng ở Đông Dương suốt gần 20 năm. Họ trút xuống Việt Nam lượng bom đạn gấp nhiều lần tổng lượng chất nổ được sử dụng trong suốt Thế chiến II. Bị chất vẫn trước Ủy ban Quốc hội, cựu Giám đốc CIA William Colby thừa nhận rằng dưới sự chỉ đạo của ông ta, lực lượng Mỹ và tay sai Nam Việt Nam đã thực hiện chiến dịch ám sát có chọn lọc 24.000 người Việt Nam bất đồng chính kiến với họ trong cái gọi là Chiến dịch Phượng hoàng. Thậm chí, bộ trưởng thông tin của chính quyền Sài Gòn còn cho rằng con số thực tế phải là 40.000 người. Các nhà hoạch định chính sách và loa phóng thanh truyền thông của Mỹ coi cuộc chiến này là một “sai lầm” chỉ vì nhân dân Việt Nam đã không chịu “thụ giáo” trước những trận mưa bom B-52 và các đội quân khai trừ. Bằng cách chiến thắng cuộc tấn công bạo tàn đó, người Việt Nam bị cho là “chưa sẵn sàng cho các thiết chế dân chủ” của phương Tây.

Để phục vụ mưu đồ phản cách mạng và nhân danh tự do, quân đội Mỹ hoặc các lực lượng ủy nhiệm thân Mỹ đã sát hại: 2.000.000 người Triều Tiên; 3.000.000 người Việt Nam; hơn 500.000 người trong các cuộc không chiến tại Lào và Campuchia; hơn 1.500.000 người ở Angola; hơn 1.000.000 người ở Mozambique; hơn 500.000 người ở Afghanistan; từ 500.000 đến 1.000.000 người ở Indonesia; 200.000 người ở Đông Timor; 100.000 người ở Nicaragua; hơn 100.000 người ở Guatemala; hơn 700.000 người ở Iraq; hơn 60,000 người ở El Salvador; 30.000 người trong “Chiến tranh bẩn thỉu” tại Argentina (mặc dù chính phủ chỉ thừa nhận 9.000); 35.000 người ở Đài Loan, từ khi Quốc dân Đảng dời khỏi Trung Quốc đại lục; 20.000 người ở Chile; và hàng ngàn người khác ở Haiti, Panama, Grenada, Brazil, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kỳ... Đây thực chất là một cuộc thảm sát thế giới nhân danh thị trường tự do.

Các nguồn tin chính thức hoặc phủ nhận những vụ thảm sát do Mỹ tiếp tay, hoặc biện minh cho chúng như những biện pháp cần thiết để đối phó với một kẻ thù cộng sản bị coi là không thể dung hòa. Tuyên truyền chống cộng thấm đẫm các làn sóng phát thanh, trường học và toàn bộ diễn ngôn chính trị. Bất chấp việc liên tục và nhiều khi mang tính bịa đặt, những kẻ nhào nặn dư luận chống cộng khi nhắc đến sự “chuyên chế” của cái gọi là “Mối đe dọa Đỏ” chưa bao giờ chỉ ra một cách cụ thể rằng những người cộng sản thực sự đã làm gì trong lĩnh vực chính sách kinh tế – xã hội. Điều đó phần nào lý giải vì sao sau hàng thập kỷ bị oanh tạc bởi những tuyên truyền chống cộng, đa số người Mỹ, kể cả nhiều người tự xem mình là am hiểu chính trị, vẫn không thể đưa ra một nhận định có cơ sở về các chính sách xã hội của các quốc gia cộng sản.

Những kẻ tuyên truyền chống lại phe Đỏ không hề thốt ra lấy một lời nào về việc những người cách mạng ở Nga, Trung Quốc, Cuba, Việt Nam, Nicaragua và các quốc gia khác đã quốc hữu hóa ruộng đất vốn nằm trong tay tầng lớp địa chủ bóc lột giàu có và khởi xướng các chương trình quy mô lớn về giáo dục, y tế, nhà ở và việc làm. Đã không có một lời nào về việc những nỗ lực đó đã nâng cao mức sống và cơ hội sống của hàng trăm triệu con người ở những quốc gia từ lâu phải chịu đựng ách áp bức phong kiến và sự cướp bóc của chủ nghĩa thực dân phương Tây, một công cuộc cải thiện phúc lợi cho nhân dân lớn chưa từng được chứng kiến trong lịch sử.

Bất kể thực tế rằng những nhà cách mạng ở các nước châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh được nhân dân ủng hộ rộng rãi và sẵn lòng theo đuổi đường lối trung lập trong quan hệ Đông-Tây thay vì đặt mình dưới sự bá quyền của Moscow hay Bắc Kinh. Họ vẫn bị đưa vào tầm ngắm cho những đòn vùi dập phản cách mạng. Từ chỗ đơn thuần là chống lại những người cộng sản vì họ có thể là những người cách mạng, chỉ là một bước ngắn để đi đến chỗ chống lại những người cách mạng chỉ vì họ có thể là những người cộng sản. 

Cái tội thực sự của những người cách mạng, dù cộng sản hay không, là họ đã đứng lên bảo vệ các giai cấp lao động chống lại thiểu số giàu có. Họ chủ trương thay đổi sự phân bổ quyền lực giai cấp và cách thức của cải được sản xuất và sử dụng. Họ muốn giảm bớt sự thăng tiến cá nhân dựa trên sự hy sinh của đa số và hướng tới sự cải thiện tập thể cho toàn thể quần chúng lao động.

Những giả định về quyền lực

Các giai cấp thống trị trên khắp thế giới căm ghét và khiếp sợ chủ nghĩa cộng sản không phải vì cộng sản thiếu dân chủ về mặt chính trị, mà vì nó nỗ lực thiết lập nền dân chủ ở mặt kinh tế bằng cách xây dựng một hệ thống xã hội tập thể, bình đẳng–dù bè lũ giai cấp thống trị hiếm khi thẳng thắn thừa nhận như vậy. Chính sách can thiệp phản cách mạng này dựa trên một vài giả định mơ hồ có thể được nêu ra và bác bỏ như sau:

1. “Giới lãnh đạo Mỹ có quyền xác định các giới hạn phát triển kinh tế – xã hội bên trong các quốc gia khác.” Điều này không đúng. Theo bất kỳ quy tắc luật pháp quốc tế hay bất cứ chế tài pháp lý nào khác, giới lãnh đạo của nước này không có quyền để quyết định loại hệ thống kinh tế hay phương thức phát triển xã hội nào được áp dụng vào một nước khác, cũng như việc giới lãnh đạo của các quốc gia khác không có quyền hơn gì so để áp đặt những điều đó lên nước Mỹ. Trong thực tế, quyền áp đặt được thực thi bởi kẻ mạnh đối với kẻ yếu, một chính sách của cường quyền, không phải của công lý.

0. “Nước Mỹ phải đóng vai trò ngăn chặn chống cách mạng để bảo vệ các lợi ích quốc gia của chúng ta.” Điều này chỉ đúng nếu chúng ta đánh đồng “lợi ích quốc gia” với các lợi ích đầu tư của giới tài chính sừng sỏ. Chủ nghĩa can thiệp của Mỹ đã rất hiệu quả trong việc xây dựng chủ nghĩa tân đế quốc, giữ cho đất đai, lao động, tài nguyên thiên nhiên, và thị trường của các nước Thế giới Thứ ba luôn sẵn có ở mức giá rẻ mạt cho các tập đoàn đa quốc gia. Nhưng những lợi ích tập đoàn này không đại diện cho lợi ích của nhân dân Mỹ. Công chúng phải chi trả cho các ngân sách quân sự khổng lồ và chịu đựng việc xuất khẩu việc làm của họ sang các thị trường lao động từ nước ngoài, sự tràn vào của hàng ngàn người nhập cư nghèo khổ, những người cạnh tranh cho công ăn việc làm và nhà ở khan hiếm, và nhiều chi phí khác của đế quốc

Hơn nữa, các chính phủ cách mạng như Cuba, Libya, Việt Nam, và Triều Tiên đã—và vẫn đang—tha thiết giao thương và duy trì quan hệ hòa bình với quốc gia này. Các nước ấy không đe dọa an ninh quốc gia của nước Mỹ hay nhân dân Mỹ, mà đe dọa các lợi ích bên ngoài lãnh thổ của chủ nghĩa tư bản toàn cầu. Nếu được phép gia tăng về số lượng, các quốc gia được thay thế với một hệ thống xã hội chủ nghĩa, một hệ thống sử dụng đất đai, lao động, tư bản, và tài nguyên thiên nhiên theo phương thức tập thể, đặt con người lên trên lợi nhuận, cuối cùng sẽ làm xói mòn chủ nghĩa tư bản toàn cầu.

3. “Nước Mỹ có nghĩa vụ đạo đức trong việc bảo đảm sự ổn định của các quốc gia đang trải qua quá trình phát triển dân chủ nhưng bị đe dọa bởi những kẻ cách mạng và khủng bố.” Trong thực tế, hầu hết các cuộc can thiệp của Mỹ là vì lợi ích của những kẻ đầu sỏ tham nhũng, vị kỷ và những kẻ quân phiệt phản dân chủ (những kẻ nắm quyền qua các cuộc bầu cử phô trương dù có hay không có sự hỗ trợ của Mỹ). Những kẻ đầu sỏ tại Thế giới Thứ ba thường xuyên được giáo dục tại các trường đại học tinh hoa của Mỹ hoặc rốt cuộc nằm trong danh sách bảng lương của CIA, tương tự như các cảnh sát trưởng và sĩ quan quân đội của chúng, nhiều kẻ trong số đó được huấn luyện về tra tấn và ám sát tại các cơ sở chống nổi dậy của Mỹ.

0. “Sự thay đổi nền tảng cơ sở của xã hội nên được theo đuổi một cách hòa bình bên trong thứ trật tự đã được thiết lập của các quốc gia thay vì cách mạng hỗn loạn” Các nhà hoạch định chính sách của Mỹ duy trì quan điểm rằng họ ủng hộ việc xóa bỏ nghèo đói hàng loạt ở các quốc gia nghèo hơn; và rằng họ không phản đối các mục tiêu đáng ca ngợi của cách mạng xã hội mà chỉ phản đối các phương pháp bạo lực của nó. Họ nói rằng những biến đổi phải được thực hiện một cách từ từ và diễn ra trong hòa bình, tốt nhất là thông qua đầu tư tư nhân và sự vận hành đầy nhân từ của thị trường tự do. Trong thực tế, đầu tư của các tập đoàn có khả năng cản trở hơn là thúc đẩy những cải cách bằng cách thâu tóm các thị trường và tái cấu trúc nền kinh tế địa phương để phù hợp với nhu cầu bòn rút tư bản nước ngoài. Tư bản tài chính quốc tế không hề có lợi ích nào trong việc cải thiện cơ hội sống của nhân dân Thế giới Thứ ba. Nhìn chung, khi các khoản đầu tư từ phương Tây gia tăng tại Thế giới Thứ ba, thì các điều kiện sống của những người nông dân và công nhân bình thường ở nước sở tại ngày càng dần đều trở nên tuyệt vọng.

Bạo lực từ phía ai?

Nhân dân khắp thế giới không cần thêm những khoản đầu tư của tập đoàn, trái lại họ cần cơ hội để giành lại đất đai, lao động, tài nguyên thiên nhiên và thị trường của mình nhằm phục vụ các nhu cầu xã hội của chính họ. Một sự phát triển cách mạng như vậy vấp phải sự phản đối dữ dội từ những kẻ sùng bái thị trường tự do, những kẻ mà sự kháng cự bạo lực đối với thay đổi xã hội đã khiến cho cuộc chuyển đổi hòa bình trở nên không thể tưởng tượng nổi.

Ngay cả ở những quốc gia như Mỹ, nơi những cải cách trong phạm vi hạn chế đã hoàn thành mà không cần cách mạng, thì những phương thức thực hiện cải cách trong “hòa bình” ấy lại kéo theo đấu tranh và hỗn loạn quần chúng–và một lượng bạo lực lẫn đổ máu đáng kể, hầu hết trong số đó là do cảnh sát và các lực lượng an ninh gây ra.

Điểm ta vừa bàn ấy thường không được nhắc đến trong các cuộc thảo luận về tính đạo đức của cái gọi là bạo lực cách mạng. Bản thân khái niệm “bạo lực cách mạng” đã phần nào bị gán ghép sai lệch, bởi lẽ phần lớn những cảnh đổ máu thực chất lại xuất phát từ phía những kẻ tìm cách ngăn cản cải cách, chứ không phải từ những người đấu tranh cho cải cách. Bằng việc chỉ chăm chăm vào các cuộc nổi dậy của những người bị áp bức, chúng ta đã bỏ qua lực lượng đàn áp và mức độ trấn áp tàn bạo lớn hơn nhiều mà các phe nhóm đầu sỏ sử dụng để duy trì hiện trạng (status quo), bao gồm các cuộc tấn công vũ trang nhằm vào biểu tình hòa bình, bắt bớ hàng loạt, tra tấn, tiêu diệt các tổ chức đối lập, bóp nghẹt các ấn phẩm bất đồng chính kiến, những vụ ám sát do các đội quân chết tiến hành, việc hủy diệt toàn bộ làng mạc, và những hành vi tương tự.

Hầu hết các cuộc cách mạng xã hội đều bắt đầu trong hòa bình. Tại sao có thể khác được? Ai lại không muốn tập hợp và biểu tình ôn hòa hơn là tham gia vào các cuộc chiến sinh tử chống lại những lực lượng tàn bạo đang nắm giữ mọi lợi thế về tính cơ động và hỏa lực? Các cuộc cách mạng tại Nga, Trung Quốc, Việt Nam, El Salvador đều bắt đầu một cách hòa bình, với những đám đông nông dân và công nhân tiến hành các cuộc phản kháng bất bạo động, rồi chỉ để bị đáp trả bằng sự trấn áp tàn bạo từ chính quyền. Phản kháng hòa bình và cải cách chính là những gì mà nhân dân mong muốn nhưng bị thẳng thừng khước từ bởi các phe nhóm đầu sỏ thống trị. Những người bất đồng chính kiến tiếp tục phản kháng, những người cố gắng tự vệ trước cơn cuồng nộ đàn áp của những kẻ đầu sỏ, rồi sau đó bị gọi là “những kẻ cách mạng bạo lực” và “những kẻ khủng bố”.

Đối với các tầng lớp tinh hoa trong nước và quốc tế, những kẻ đang duy trì quyền kiểm soát đối với phần lớn của cải của thế giới, cách mạng xã hội là một thứ không thể chấp nhận được. Dù nó diễn ra bằng con đường hòa bình hay bạo lực đi chăng nữa thì điều đó đối với họ không phải là vấn đề quan trọng. Những cải cách hòa bình xâm phạm đến các khoản tích lũy sinh lợi của họ và đe dọa các đặc quyền giai cấp cũng không thể chấp nhận được, chẳng khác gì những biến động xã hội do cách mạng tạo ra.

Những cải cách nhằm nâng cao điều kiện sống cho đại đa số quần chúng không hề bất khả thi về mặt vật chất hay phải phụ thuộc vào nguồn lực tư bản đến mức như chúng ta vẫn bị dẫn dắt phải tin theo như vậy. Việc xây dựng một trạm y tế, hay triển khai các chương trình phân phối lương thực, cải cách ruộng đất, xóa mù chữ, tạo việc làm và nhà ở đều không phải là điều gì quá bí ẩn hay phức tạp. Những nhiệm vụ ấy hoàn toàn nằm trong khả năng của bất kỳ nhà nước nào, nếu tồn tại ý chí chính trị và sự huy động sức mạnh của các giai cấp quần chúng.

Hãy xem xét Kerala, một bang ở Ấn Độ nơi mà hành động của các tổ chức quần chúng và các phong trào quần chúng đã giành được những thắng lợi quan trọng trong suốt bốn mươi năm qua chống lại những áp bức về chính trị – kinh tế, những hành động ấy đã tạo ra một trình độ phát triển xã hội tốt hơn đáng kể so với trình độ ở hầu hết Thế giới Thứ ba, và đạt được mà không cần đầu tư từ bên ngoài. Kerala đã thực hiện thành công việc xóa mù chữ cho quần chúng, có tỷ lệ sinh thấp hơn và tỷ lệ tử thấp hơn phần còn lại của Ấn Độ, các dịch vụ y tế công cộng tốt hơn, ít lao động trẻ em hơn, mức độ dinh dưỡng cao hơn (nhờ vào hệ thống phân phối lương thực được công quỹ trợ cấp), sự hỗ trợ pháp lý và các chương trình giáo dục tiến bộ hơn cho phụ nữ, và một số bảo trợ an sinh xã hội cho người lao động và cho những người bần cùng và khuyết tật về thể chất. Thêm vào đó, nhân dân Kerala đã thay đổi căn bản một hệ thống quan hệ sản xuất nông nghiệp cũ rườm rà và bóc lột, và đã giành được những thắng lợi quan trọng chống lại những hình thức áp bức với mức độ đáng ghê tởm hơn. 

Mặc dù Kerala không có nguồn tài nguyên đặc biệt nào, nơi này đã trải qua nhiều thập kỷ trong tổ chức cộng sản và đấu tranh chính trị, với mục tiêu tiếp cận và lay động đông đảo quần chúng nhân dân, thổi sức sống vào nền dân chủ của bang. “Bất chấp những giai đoạn lãnh đạo chính quyền tương đối ngắn ngủi... chính đảng Cộng sản mới là bên đã thiết lập chương trình nghị sự lập pháp cơ bản của nhân dân Kerala,” học giả Ấn Độ V.K. Ramachandran ghi nhận (Monthly Review, 5/95). Tất cả những điều này không nhằm phủ nhận rằng nhiều người dân ở Kerala phải chịu đựng những điều kiện nghèo đói khó có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, bất chấp mức thu nhập thấp và nguồn lực hạn hẹp, những thành tựu đạt được nhờ sự can thiệp của chính quyền dân chủ—và được thúc đẩy bởi hành động quần chúng—là rất đáng kể, đại diện cho sự khác biệt giữa một sự tồn tại có thể chống đỡ được một cách khiêm tốn và cảnh khốn cùng tuyệt đối.

Nhiều dân tộc Thế giới Thứ ba đã xây dựng được các tổ chức quần chúng tận tụy và năng nổ, giống như những người cộng sản ở Kerala, nhưng chúng thường bị tiêu diệt bởi các lực lượng nhà nước đàn áp. Tại Kerala, sự vận động và đóng góp của quần chúng đã tận dụng được những cơ hội dân chủ và từ đó đem lại nhiều nội hàm xã hội hơn cho nền dân chủ. Những gì cần thiết cho việc cải thiện xã hội không phải là các khoản vay của Quỹ Tiền tệ Quốc tế hay các khoản đầu tư của tập đoàn mà là sự tổ chức chính trị và cơ hội dân chủ, và sự tự do khỏi chủ nghĩa khủng bố nhà nước do Mỹ bảo trợ.

Các chương trình viện trợ nước ngoài của Mỹ cung cấp một ví dụ khác về việc chính sách đế quốc trá hình dưới danh nghĩa cải cách xã hội bên trong các quốc gia Thế giới Thứ ba như thế nào. Các chương trình viện trợ không nhằm mục đích thực hiện sự cải thiện xã hội thực chất. Tốt nhất, chúng tài trợ cho các dự án chắp vá với tác động hạn chế. Thường xuyên hơn, chúng được sử dụng để phá hoại các thị trường địa phương, đẩy các nông dân nhỏ ra khỏi đất đai của họ, xây dựng các cơ sở hạ tầng giao thông và văn phòng cần thiết cho các nhà đầu tư bên ngoài, làm gia tăng nợ nần và sự lệ thuộc kinh tế của một quốc gia, và mở cửa nền kinh tế của nước đó sâu hơn cho sự xâm nhập của các tập đoàn đa quốc gia. 

Thị trường tự do cho số ít

Các nhà cách mạng Thế giới Thứ ba luôn bị dán nhãn là kẻ thù của sự ổn định. "Ổn định" là một thứ mật mã dành cho một xã hội trong đó các quan hệ xã hội đặc quyền được củng cố vững chắc. Khi các lực lượng quần chúng huy động chống lại đặc quyền và của cải, sẽ gây ra "sự bất ổn", và điều này là thứ bị các nhà hoạch định chính sách Mỹ và những tay sai trung thành của chúng trong giới truyền thông tập đoàn Mỹ đánh giá là không mong muốn.

Ở đây chúng ta thấy một thực trạng dối trá. Thứ giả danh là cam kết của Mỹ đối với sự thay đổi hòa bình phi bạo lực, thực chất là một cam kết bảo vệ bằng sự bạo lực cho một chủ nghĩa tư bản toàn cầu bất công, phi dân chủ. Bộ máy an ninh quốc gia Mỹ sử dụng sự cưỡng chế và bạo lực không phải để ủng hộ cải cách xã hội mà là để chống lại nó, tất cả đều nhân danh "sự ổn định", "chống khủng bố", "dân chủ",–và gần đây một cách thành thực hơn, nhân danh "thị trường tự do".

Khi còn là người đứng đầu ban hoạch định chính sách của Bộ Ngoại giao trong những năm đầu của Chiến tranh Lạnh, tác giả nổi tiếng George Kennan đã tiết lộ tư duy chính trị thực dụng tàn nhẫn của những kẻ tận tụy với sự bất bình đẳng xã hội bên trong và giữa các quốc gia. Kennan duy trì quan điểm rằng một nước Mỹ giàu có, đối mặt với một thế giới nghèo khổ không thể chi trả cho "sự xa xỉ của lòng vị tha và ban ơn thế giới" và từ đó nên ngừng nói về "những mục tiêu mơ hồ và phi thực tế như nhân quyền, việc nâng cao mức sống, và dân chủ hóa…. Chúng ta càng ít bị cản trở bởi các khẩu hiệu lý tưởng hóa, thì càng tốt" (PPS23, Bộ Ngoại giao Mỹ, tháng 2 năm 1948). Phát biểu tại một buổi giao ban với các đại sứ Mỹ tại Mỹ Latinh, Kennan nhận xét: "Câu trả lời sau cùng có thể là một câu trả lời gây khó chịu, nhưng chúng ta không nên ngần ngại về sự đàn áp của cảnh sát bởi chính quyền địa phương. Điều này không đáng xấu hổ vì những người Cộng sản thực chất là những kẻ phản bội…. Thà có một chế độ mạnh [nghĩa là đàn áp] nắm quyền còn hơn là một chính quyền tự do nếu nó nuông chiều, lỏng lẻo và bị những người Cộng sản thâm nhập." Trong một báo cáo tình báo của Bộ Ngoại giao năm 1949, Kennan đã viết rằng những người cộng sản là "những người tận tụy với niềm tin rằng chính quyền có trách nhiệm trực tiếp đối với phúc lợi của nhân dân" Vì vậy họ phải bị đối phó một cách khắc nghiệt mà không cần quan tâm đến những thứ mỹ từ như dân chủ hóa và nhân quyền.

Người ta nói rằng nước Mỹ không thể nuốt lời với các cam kết đối với các dân tộc khác và phải tiếp tục vai trò lãnh đạo thế giới; rằng phần còn lại của thế giới mong đợi điều đó ở chúng ta. Nhưng quần chúng bình dân trên thế giới chưa bao giờ kêu gọi sự lãnh đạo thế giới của Mỹ. Hoàn toàn ngược lại, họ thường muốn nước Mỹ hãy về nhà và để mặc nhân dân nước sở tại tự giải quyết các công việc của mình. Điều này là bởi các cam kết của Mỹ không phải dành cho những người dân thường ở các vùng đất khác, mà dành cho các phe nhóm phản động có đặc quyền, những kẻ sẵn lòng phục vụ nhất cho các nhà đầu tư phương Tây. Như những nhận xét của Kennan đã chỉ ra, giới hoạch định chính sách Mỹ không quan tâm đến việc thúc đẩy phúc lợi của các dân tộc nghèo khổ trên khắp thế giới mà quan tâm đến việc đánh bại bất kỳ ai liên minh với nhân dân lao động, cho dù họ có thuộc phe Đỏ hay không.

Bất kể những khiếm khuyết trầm trọng của mình, chẳng lẽ những kẻ cai trị Thế giới Thứ ba được Mỹ ủng hộ lại không tốt đẹp hơn loại bạo tàn mà những người cộng sản và những kẻ cách mạng toàn trị sao? Những kẻ học giả cổ xúy cho chủ nghĩa can thiệp của Mỹ, chẳng hạn như Samuel P. Huntington của Đại học Harvard luôn nghĩ như vậy: "Dù một cái ác nhất định có thể tồi tệ đến đâu, một cái ác tồi tệ hơn luôn có khả năng xảy ra và thường là dễ xảy ra," Huntington kết luận, và tiếp tục bào chữa cho các chế độ giết người ở Chile dưới thời Pinochet và Nam Phi dưới thời apartheid như là "những cái ác nhỏ hơn".

Chúng ta có thể nhớ lại sự phân biệt của Jean Kirkpatrick giữa các chính phủ hữu khuynh chuyên chế "nhân từ", những chính phủ được cho là không đến mức tàn bạo và cho phép sự thay đổi dần dần, và những chính phủ tả khuynh toàn trị kinh tởm áp bức mọi người. Sự phân biệt thực sự nằm ở chỗ chính phủ hữu khuynh duy trì trật tự đặc quyền hiện hữu của thị trường tự do, giữ cho thế giới an toàn cho các hệ thống phân cấp quyền lực và các giai cấp giàu có của thế giới. Ngược lại, những kẻ "toàn trị" tả khuynh muốn xóa bỏ các quan hệ sở hữu bóc lột và tạo ra một hệ thống kinh tế bình đẳng hơn. Việc họ ưu tiên những người không có tài sản hơn những kẻ có tài sản chính là điều khiến họ trở nên đáng khinh bỉ trong mắt phe sau.

Giới lãnh đạo Mỹ tuyên bố rằng họ cảm thấy bị xúc phạm bởi những đặc điểm nhất định của các chính quyền cách mạng xã hội, chẳng hạn như chế độ độc đảng và việc thực hiện những biến đổi cách mạng một cách cưỡng chế. Thế nhưng sự độc tài độc đảng ấy lại là những thứ có thể chấp nhận được nếu chính quyền đó hữu khuynh, nghĩa là, thân thiện đối với sự đầu tư của các tập đoàn tư nhân như ở Thổ Nhĩ Kỳ, Zaire, Guatemala, Indonesia, và hàng chục quốc gia khác (bao gồm cả những quốc gia cộng sản đang trượt dài trên con đường thị trường tự do, chẳng hạn như Trung Quốc).

Chúng ta có thể nhớ lại khoảnh khắc không thể quên khi Tổng thống George Bush–người đã mở các cuộc xâm lược vào Panama và Iraq, mang lại cái chết và sự hủy diệt cho những dân tộc đó và là người đứng đầu một đế chế quân sự Mỹ vốn là kẻ gieo rắc bạo lực lớn nhất và duy nhất trên thế giới–đã thuyết giảng cho nhà lãnh đạo cách mạng Nelson Mandela về những đức tính của sự phi bạo lực, thậm chí còn đi xa đến mức trích dẫn Martin Luther King, Jr., trong chuyến thăm của Mandela tới Washington, D.C. vào tháng 6 năm 1990. Cái tội thực sự của Mandela trong mắt Bush là ông là một phần của một phong trào cách mạng tham gia vào cuộc đấu tranh vũ trang chống lại một chế độ apartheid đàn áp bạo lực ở Nam Phi. Khả năng nhận thức có chọn lọc của Bush mang tất cả sự táo bạo không chút đắn đo của một hệ tư tưởng thống trị vốn chỉ lên án những kẻ hành động chống lại một nguyên trạng bất công, chứ không phải những kẻ sử dụng bạo lực để bảo tồn nó. Sẽ là một sự nhẹ nhõm lớn lao cho nhân dân khắp thế giới nếu tổng thống Mỹ áp dụng một chính sách phi bạo lực cho chính chính quyền của mình. Trên thực tế, ông ta đã không làm điều gì như vậy cả.

Sự tự do cách mạng đem lại

Có thể thấy giới lãnh đạo chính trị–kinh tế Mỹ chẳng mặn mà gì ở các cải cách cách mạng, nhưng hầu hết những người sống trong các xã hội cách mạng đều thấy chúng đáng giá hơn các chế độ cũ và xứng đáng để bảo vệ. Cuộc xâm lược Vịnh Con lợn vào Cuba là một thất bại thảm hại không phải vì “yểm trợ không quân không đầy đủ” mà bởi vì nhân dân Cuba đã đoàn kết chặt chẽ sau chính quyền của họ và đẩy lùi quân xâm lược.

Tương tự, một ví dụ khác vào đầu những năm 1970 tại miền Bắc Việt Nam khi “nhân dân bị trị” thay vì coi sự phá hủy và xáo trộn nghiêm trọng gây ra bởi cuộc không kích của Mỹ chống lại đất nước mình là một cơ hội vàng để lật đổ "ách áp bức của Hà Nội", họ đã tiếp tục ủng hộ chính quyền đang bị bao vây của mình với sự hy sinh quên mình to lớn. Và ở miền Nam Việt Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã có được các cơ hội chiến thuật về tiếp tế và gây bất ngờ, phần lớn là vì họ được ủng hộ bởi nhân dân ở nông thôn và thành thị.

Trong thời kỳ Việt Nam, những lời giải thích về việc tại sao nhân dân đứng về phía những nhà cách mạng cộng sản lại đến từ một số nguồn bất ngờ. Đại sứ Mỹ Henry Cabot Lodge đã thừa nhận, “Những người duy nhất đã và đang làm bất cứ điều gì cho những người thấp cổ bé họng–để nâng họ lên–chính là những người cộng sản” (New York Times, 27/2/66). Theo một hướng tương tự, một kẻ tuyên truyền trung thành cho đường lối chính thức, nhà bình luận James Reston, đã viết với sự thẳng thắn đến ngạc nhiên, "Ngay cả Thủ tướng Kỳ [tức Nguyễn Cao Kỳ, kẻ độc tài miền Nam Việt Nam do Mỹ bảo trợ] cũng nói với phóng viên này ngày hôm nay rằng những người cộng sản gần gũi với những khát vọng của nhân dân về công bằng xã hội và một cuộc sống độc lập hơn chính chính quyền của ông ta" (New York Times, 1/9/65). Điều mà Lodge và Reston không nói ra chính là "những người thấp cổ bé họng" và "những khát vọng của nhân dân" về công bằng xã hội lại chính là những thứ mà giới lãnh đạo Mỹ rắp tâm đàn áp.

Một số người kết luận rằng bất cứ ai thốt ra một lời tốt đẹp về những cuộc cách mạng cánh tả đơn đảng đều phải mang trong mình những suy nghĩ phản dân chủ hoặc mang tính "Stalinist". Nhưng hoan nghênh các cuộc cách mạng xã hội không có nghĩa là phản đối tự do chính trị. Chừng nào các chính quyền cách mạng còn xây dựng được những phương án thay thế thực chất cho nhân dân mình, họ chừng đó làm gia tăng các lựa chọn và tự do của con người.

Không có thứ gọi là tự do trừu tượng. Có tự do để phát biểu công khai và mang tính phá bỏ các thần tượng, tự do để tổ chức một phe đối lập chính trị, tự do về cơ hội để có được một nền giáo dục và theo đuổi một kế sinh nhai, tự do để thờ phụng theo lựa chọn của mình hoặc không thờ phụng chút nào, tự do để sống trong các điều kiện lành mạnh, tự do để hưởng thụ các phúc lợi xã hội khác nhau, và vân vân. Hầu hết những gì được gọi là tự do đều có định nghĩa của nó bên trong một bối cảnh xã hội.

Các chính quyền cách mạng mở rộng một loạt các quyền tự do quần chúng mà không hủy hoại những quyền tự do vốn chưa bao giờ tồn tại trong các chế độ trước đó. Họ thúc đẩy những điều kiện cần thiết cho quyền tự quyết dân tộc, sự cải thiện kinh tế, việc bảo vệ sức khỏe và mạng sống con người, và sự chấm dứt của nhiều hình thức áp bức sắc tộc, gia trưởng, và giai cấp tồi tệ nhất. Về áp bức gia trưởng, hãy xem xét tình trạng phụ nữ được cải thiện đáng kể ở Afghanistan và Nam Yemen cách mạng trước cuộc đàn áp phản cách mạng vào những năm 1990, hoặc ở Cuba sau cuộc cách mạng năm 1959 so với trước đó. 

Các nhà hoạch định chính sách Mỹ lập luận rằng thắng lợi của cách mạng xã hội ở bất cứ đâu cũng đại diện cho một sự suy giảm tự do trên thế giới. Khẳng định đó là sai lầm. Cách mạng Trung Quốc đã không nghiền nát nền dân chủ; vốn dĩ chẳng có nền dân chủ nào để mà nghiền nát trong cái chế độ phong kiến áp bức đó. Cách mạng Cuba đã không hủy hoại tự do; nó đã hủy diệt một nhà nước cảnh sát đáng ghét do Mỹ bảo trợ. Cách mạng Algeria đã không bãi bỏ các quyền tự do dân tộc; vốn chỉ có rất ít quyền tự do quý giá tồn tại dưới chủ nghĩa thực dân Pháp. Các nhà cách mạng Việt Nam đã không hủy bỏ các quyền cá nhân; không có những quyền như vậy dưới các chính quyền bù nhìn do Mỹ ủng hộ của Bảo Đại, Diệm, và Kỳ.

Dĩ nhiên, các cuộc cách mạng thực sự hạn chế quyền tự do của giai cấp hữu sản doanh nghiệp và các nhóm lợi ích đặc quyền khác: quyền tự do đầu tư tư nhân mà không màng tới cái giá về con người và môi trường, quyền tự do sống trong sự giàu sang bệnh hoạn khi trả cho công nhân mức lương chết đói, quyền tự do coi nhà nước như một công cụ tư nhân phục vụ cho một nhóm đặc quyền, quyền tự do sử dụng lao động trẻ em và mại dâm trẻ em, quyền tự do coi phụ nữ như một thứ tài sản, và vân vân.

Ngày nay, không một ai trong giới hoạch định chính sách Mỹ lo lắng về sự áp bức chính trị–kinh tế đang diễn ra tại hàng chục quốc gia chư hầu hữu khuynh. Mong muốn được tuyên bố của họ về việc mang nền dân chủ chính trị phương Tây đến cho các dân tộc đã tiến hành cách mạng hiếm khi mở rộng tới các nền độc tài thị trường tự do. Và những bước đi miễn cưỡng hướng tới dân chủ chính trị thỉnh thoảng diễn ra ở những nền độc tài này chỉ đến thông qua áp lực quần chúng và nổi dậy, và chỉ với một sự ngầm hiểu rằng sự quản trị dân chủ sẽ không xâm phạm một cách thực chất tới các lợi ích của giai cấp có tiền.

Lấy gì để đo lường nỗi đau?

Liệu những đau thương trong quá trình làm cách mạng có thật sự xứng đáng với những gì đạt được sau đó? Việc cân nhắc giữa cái giá phải trả và thành quả đạt được luôn là một vấn đề phức tạp khi nói về những cuộc chuyển biến xã hội lớn. Nhưng chúng ta có bao giờ nghiêm túc đặt bạo lực của cách mạng lên bàn cân với bạo lực của chính những chế độ tồn tại trước đó hay chưa? Robert Heilbroner từng nói: “Tôi không biết người ta đo lường cái giá của những thắng lợi lịch sử như thế nào. Tôi chỉ biết rằng cách chúng ta ghi chép sử sách từ trước đến nay là sai lầm”. Chúng ta hầu như không bao giờ kiểm kê những thế hệ đã bị hủy hoại bởi sự kết hợp giữa bóc lột kinh tế và đàn áp chính trị, những thứ vốn là đặc trưng của các chế độ cũ: những nạn nhân khốn khổ của lũ lụt và nạn đói ở lưu vực sông Dương Tử ngày trước; những đứa trẻ mại dâm chết trong các con hẻm tăm tối của Thượng Hải cũ; hay những người nông nô Nga bị quật ngã bởi cái lạnh và sự đói khát trên khắp các thảo nguyên băng giá của nước Nga.

Và còn ngày nay thì sao? Không ai đang kiểm kê hàng ngàn nạn nhân vô danh, những người đã gục ngã dưới tay những kẻ tra tấn được Mỹ đào tạo ở Mỹ Latinh, hàng trăm ngôi làng bị thiêu rụi bởi các lực lượng chống nổi dậy, hàng triệu người bị đuổi khỏi mảnh đất tổ tiên và bị kết án sống suốt cuộc đời trong còi cọc và suy dinh dưỡng, hàng triệu người khác bỏ mạng trong cảnh khốn cùng tuyệt vọng và sự chật chội của những khu ổ chuột tồi tàn và các trại giam giữ. Những nỗi đau của họ không được ghi chép lại và không được đưa vào bàn cân khi cuộc cách mạng thực thi công lý đối với những kẻ đầu sỏ và những kẻ áp bức trước kia hoặc khi nó phạm phải những sự thái quá và lạm dụng của chính mình.

Và làm thế nào chúng ta cân đo đong đếm được nỗi đau của hàng chục triệu trẻ em trên khắp thế giới, nhiều đứa chỉ mới sáu và bảy tuổi đã bị ép làm việc bảy mươi giờ một tuần bị giam hãm trong những xưởng làm việc thiếu ánh sáng, thông gió kém, dưới những điều kiện gợi nhớ về những ngày kinh hoàng nhất của cuộc Cách mạng Công nghiệp? Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), một đạo luật thương mại tự do đa phương sâu rộng tương đương với một tấm séc trắng cho chủ nghĩa tư bản toàn cầu, đã không cung cấp sự bảo vệ nào cho những trẻ em bị bóc lột, lạm dụng, làm việc quá sức, và bị trả lương thấp. Trong suốt các cuộc đàm phán GATT, các nhà lãnh đạo của các quốc gia Thế giới Thứ ba đã ngụy biện, và thành công ngăn cản việc bất kỳ hạn chế nào đối với lao động trẻ em được đặt ra, với lý lẽ rằng trẻ em đã luôn làm việc trong nền văn hóa của họ và những tập tục truyền thống như vậy cần được tôn trọng. Việc cấm lao động trẻ em sẽ làm hạn chế thị trường tự do và gây ra những khó khăn nghiêm trọng cho những gia đình nghèo khổ mà ở đó một đứa trẻ thường là người kiếm tiền duy nhất.

Ngay cả khi tập tục lâu đời về việc trẻ em giúp việc đồng áng là có thể chấp nhận được (giả định rằng chúng không bị làm việc quá sức và được phép đi học), thì hành động “nhốt chúng vào một công xưởng nóng hầm suốt 14 giờ một ngày” lại là một chuyện khác. Hơn nữa, chúng có thể là người kiếm tiền duy nhất "bởi vì những công nhân trưởng thành đã bị sa thải để nhường chỗ cho trẻ em, đối tượng dễ bị bóc lột hơn vô hạn và đem lại lợi nhuận lớn hơn cho những chủ xưởng thịnh vượng" (Anna Quindlen, New York Times, 23/11/94).

Du hành khắp Cuba vào năm 1959, ngay sau khi lật đổ chế độ độc tài cánh hữu Batista do Mỹ hỗ trợ, Mike Faulkner đã chứng kiến "một cảnh tượng nghèo đói gần như không thể cứu vãn." Dân cư nông thôn sống trong những lán trại tạm bợ không có các điều kiện vệ sinh tối thiểu. Những đứa trẻ suy dinh dưỡng đi chân trần trên đất bẩn và phải chịu đựng "căn bệnh ký sinh trùng quen thuộc thường thấy ở Thế giới Thứ ba." Gần như không có bác sĩ hay trường học nào. Và trong phần lớn thời gian của năm, những gia đình sống dựa hoàn toàn vào vụ thu hoạch đường theo mùa đã phải sống gần kề với sự chết đói (Monthly Review, 3/96). Sự đày đọa đó ở Cuba tiền cách mạng nếu so với cuộc đàn áp được công bố rộng rãi hơn nhiều sau cách mạng, khi những người cộng sản của Castro xử tử vài trăm tên đao phủ cảnh sát và những kẻ tra tấn của chế độ cũ, đánh đuổi những túi tiền thuộc tầng lớp thượng lưu sang nơi lưu vong, và đe dọa khiến những kẻ đối lập khác của các cải cách triệt để phải im lặng, thì sẽ như thế nào?

Ngày nay, Cuba là một nơi khác biệt. Với tất cả những sai lầm và lạm dụng của nó, Cách mạng Cuba đã mang lại vệ sinh, trường học, trạm y tế, việc làm, nhà ở, và các dịch vụ nhân sinh tới một mức độ không thể tìm thấy ở hầu hết Thế giới Thứ ba và ở nhiều nơi thuộc Thế giới Thứ nhất. Tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh tại Cuba đã giảm từ 60 trên 1000 vào năm 1960 xuống còn 9,7 trên 1000 vào năm 1991, trong khi tuổi thọ tăng từ 55 lên 75 trong cùng kỳ đó. Bệnh đậu mùa, sốt rét, lao, thương hàn, bại liệt và vô số căn bệnh khác đã bị xóa sổ bởi mức sống được cải thiện và các chương trình sức khỏe công. Cuba đã tận hưởng một mức độ biết chữ cao hơn ở Mỹ và một tuổi thọ có thể sánh ngang với các quốc gia công nghiệp tiên tiến (Báo cáo NACLA về Châu Mỹ, tháng 9/tháng 10 năm 1995). Những dân tộc khác ngoài người dân Cuba cũng đã được hưởng lợi. Như Fidel Castro kể lại: 

Cách mạng [Cuba] đã cử các giáo viên, bác sĩ và công nhân đến hàng chục quốc gia Thế giới Thứ ba mà không thu một xu nào. Họ đã đổ máu của chính mình để chống lại chủ nghĩa thực dân, chống lại chế độ apartheid và chủ nghĩa phát xít…. Đã có lúc chúng tôi có 25.000 sinh viên Thế giới Thứ ba theo học bằng học bổng. Chúng tôi vẫn đang có nhiều sinh viên nhận học bổng từ châu Phi và các quốc gia khác. Thêm vào đó, đất nước chúng tôi đã điều trị cho số trẻ em [13.000] là nạn nhân của thảm kịch Chernobyl nhiều hơn tất cả các quốc gia khác cộng lại. 

Họ không nói về điều đó, và đó là lý do tại sao họ bao vây cấm vận chúng tôi–quốc gia có nhiều giáo viên trên đầu người nhất trong số tất cả các quốc gia trên thế giới, kể cả các nước phát triển. Quốc gia có nhiều bác sĩ trên đầu người nhất trong tất cả các nước [cứ 214 cư dân thì có một bác sĩ]. Quốc gia có nhiều giảng viên nghệ thuật trên đầu người nhất trong tất cả các nước trên thế giới. Quốc gia có nhiều huấn luyện viên thể thao nhất trên thế giới. Điều đó cho các bạn một hình dung về nỗ lực đã bỏ ra. Một đất nước nơi tuổi thọ trung bình là hơn 75 năm. Tại sao họ lại bao vây cấm vận Cuba? Bởi vì không quốc gia nào khác đã làm cho nhân dân mình nhiều hơn thế. Đó chính là sự thù ghét đối với những tư tưởng mà Cuba đại diện. (Monthly Review, 6/95).

Cái tội của Cuba trong mắt bọn tư bản toàn cầu không phải là việc "thiếu dân chủ". Hầu hết các chế độ tư bản Thế giới Thứ ba đều đàn áp tàn bạo hơn nhiều. Cái tội thực sự của Cuba là nó đã cố gắng phát triển một phương án thay thế cho hệ thống tư bản toàn cầu, một trật tự kinh tế–xã hội bình đẳng đã đặt tài sản tập đoàn dưới sự sở hữu chung, xóa bỏ các nhà đầu tư tư bản như một thực thể giai cấp, và đặt con người lên trên lợi nhuận và độc lập dân tộc lên trên sự nô dịch của IMF.

Vì vậy, một viện nghiên cứu bảo thủ như Heritage Foundation đã xếp Cuba cùng với Lào, Iraq, và Triều Tiên là những quốc gia có mức độ "tự do kinh tế" thấp nhất. Những quốc gia có mức độ tự do kinh tế cao là những quốc gia áp ít hoặc không áp thuế hay các quy định lên kinh doanh, và không có các biện pháp bảo vệ tiền lương, kiểm soát giá cả, các biện pháp bảo vệ môi trường, và các phúc lợi cho người nghèo. Tự do kinh tế là mối quan tâm thực sự của những kẻ bảo thủ và bọn tài phiệt; quyền tự do sử dụng những khoản tiền khổng lồ để tích lũy những khoản tiền còn khổng lồ hơn nữa, bất chấp cái giá về con người và môi trường.

Năng suất quy mô lớn đi đôi với cơ chế phân phối phục vụ tầng lớp tinh hoa đã dẫn đến tình trạng nhiều của cải hơn cho số ít và sự nghèo đói lớn hơn cho số đông. Do vậy mà sau hai thế kỷ phát triển công nghệ đáng kinh ngạc và sự bành trướng kinh tế chưa từng có, số lượng người sống trong nghèo đói trong thế giới tư bản đã tăng trưởng nhanh hơn bất kỳ nhóm nhân khẩu học nào khác. Dân số khu ổ chuột trên thế giới đã gia tăng với tốc độ lớn hơn nhiều so với tổng dân số toàn cầu. Sự tăng trưởng đáng kinh ngạc của năng suất công nghiệp đã được tháp tùng bởi sự thiếu thốn, khốn cùng, và đàn áp ngày càng tuyệt vọng. Nói tóm lại, có một mối liên hệ nhân quả giữa sự tập trung của cải khổng lồ và sự nghèo đói lan rộng. Lần tới khi có ai đó rao giảng phúc âm thị trường tự do về tự do kinh tế và năng suất, chúng ta cần hỏi, vì lợi ích của ai và ai phải trả giá?

Những ai bày tỏ sự lo ngại cho các giai cấp tinh hoa bị lật đổ trong vòng xoáy của cách mạng cũng nên nhớ đến hàng trăm triệu người khác bị tiêu diệt bởi chủ nghĩa phản động kinh tế. Nếu tất cả các cuộc nổi dậy đều bị đàn áp thành công hôm nay và mãi mãi, bạo lực của nền độc tài thị trường tự do chống lại nhân loại sẽ bủa vây chúng ta một cách không khoan nhượng hơn bao giờ hết - như những gì thực sự đang diễn ra. Vì những lý do này, những người trong chúng ta thực sự quan tâm đến dân chủ, công bằng xã hội và sự sống còn của hành tinh chúng ta nên ủng hộ thay vì phản đối các cuộc cách mạng quần chúng.