Chương 1: Chủ nghĩa Phát xít duy lý
Trong một lần đi dạo qua khu Little Italy tại New York, tôi đi ngang một cửa tiệm bán đồ độc lạ, họ bày bán những tấm áp phích và áo phông in hình Benito Mussolini duỗi tay chào kiểu phát xít. Tôi vào tiệm và hỏi người bán vì sao lại bày bán những món hàng này, anh ta đáp: “Thì cũng có người thích chúng mà. Vả lại, biết đâu đất nước này lại đang cần một người như Mussolini.” Câu trả lời như một lời nhắc rằng chủ nghĩa phát xít vẫn đang tồn tại, không đơn thuần là thứ cổ ngoạn quái lạ.
Đáng ngại hơn cả những tấm áp phích hay áo phông kể trên là tác phẩm của không ít học giả đang mải mê “giải mã” Hitler, hay “tái đánh giá” Franco, thực chất là tìm mọi cách để tẩy trắng lịch sử phát xít. Tại Ý, vào những năm 1970, đã rộ lên một trào lưu xuất bản sách báo với luận điệu rằng Mussolini không chỉ giúp các đoàn tàu chạy đúng giờ mà còn đưa đất nước vận hành trơn tru. Tất cả những ấn phẩm này, cùng với không ít công trình nghiên cứu hàn lâm chính thống khác, đều có chung một đặc điểm: Họ hầu như phớt lờ các chính sách giai cấp của phát xít Ý và Đức Quốc xã. Những chế độ này đã ứng phó ra sao trước các vấn đề về dịch vụ xã hội, thuế khóa, doanh nghiệp và điều kiện lao động? Những chính sách đó phục vụ lợi ích của ai, và ai là người phải gánh chịu thiệt thòi? Đại đa số kho tàng học thuật về chủ nghĩa phát xít và Đức Quốc xã đều đã lờ đi những câu hỏi then chốt này.
Giới tài phiệt chọn kẻ độc tài
Hãy bắt đầu bằng việc điểm qua chân dung kẻ sáng lập chủ nghĩa phát xít. Sinh năm 1883, là con trai của một thợ rèn, thời thanh niên của Benito Mussolini hằn vết bởi những cuộc ẩu đả đường phố, những lần bị bắt giữ, tống giam và các hoạt động chính trị cực đoan đầy bạo lực. Trước Thế chiến thứ nhất, Mussolini vốn là một người xã hội chủ nghĩa. Với tư duy của một nhà tổ chức tài ba, một kẻ cổ động sừng sỏ và một ký giả thiên bẩm, ông ta đã vươn lên vị trí chủ bút tờ báo chính thức của Đảng Xã hội. Thế nhưng, nhiều đồng chí bấy giờ đã hoài nghi rằng: ông ta quan tâm đến việc đánh bóng bản thân hơn là thúc đẩy lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Quả thực, khi tầng lớp thượng lưu Ý dùng danh vọng, tiền bạc và hứa hẹn về quyền lực để chiêu dụ, ông ta đã không ngần ngại xoay trục, đổi phe.
Khi Thế chiến thứ nhất khép lại, Mussolini - từ một người xã hội chủ nghĩa từng tổ chức các cuộc đình công cho công nhân và nông dân - đã lột xác thành một kẻ phát xít chuyên đi đàn áp đình công vì lợi ích của các nhà tài phiệt và giới chủ đất. Nhờ những nguồn tài trợ khổng lồ từ các nhóm lợi ích giàu có, ông ta đã bước lên vũ đài quốc gia với tư cách là thủ lĩnh tối cao của i fasci di combattimento (Đội quân chiến đấu). Đây là một phong trào tập hợp những cựu sĩ quan quân đội mặc áo sơ mi đen cùng những thành phần bất hảo đủ loại - những kẻ không hề có một học thuyết chính trị rõ ràng nào ngoài chủ nghĩa yêu nước quân phiệt và một nỗi căm ghét bảo thủ sâu sắc đối với bất cứ điều gì liên quan đến xã hội chủ nghĩa hay lao động có tổ chức. Những toán “Áo đen” phát xít này dành phần lớn thời gian để tấn công các nghiệp đoàn, những người xã hội chủ nghĩa, cộng sản và các hợp tác xã nông nghiệp.
Sau Thế chiến thứ nhất, nước Ý đã dần ổn định theo mô hình dân chủ nghị viện. Mức lương thấp đang được cải thiện, và những đoàn tàu thực tế vốn đã chạy đúng giờ. Tuy nhiên, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa lại rơi vào tình trạng suy thoái hậu chiến. Đầu tư đình trệ, công nghiệp nặng hoạt động cầm chừng dưới mức công suất, lợi nhuận của các tập đoàn và kim ngạch xuất khẩu nông sản đều sụt giảm nghiêm trọng.
Để duy trì mức lợi nhuận, giới chủ đất lớn và các nhà công nghiệp buộc phải cắt giảm tiền lương và tăng giá thành sản phẩm. Về phía nhà nước, chính quyền lại phải cấp cho họ những khoản trợ cấp khổng lồ cùng các chính sách miễn giảm thuế. Để tài trợ cho “chế độ phúc lợi dành cho doanh nghiệp” (corporate welfarism) này, gánh nặng thuế khóa buộc phải đổ lên đầu người dân, trong khi các dịch vụ xã hội và chi tiêu phúc lợi bị cắt giảm không nương tay - những biện pháp mà có lẽ, ngay cả ngày nay, chúng ta cũng thấy không mấy xa lạ.
Thế nhưng, chính phủ khi ấy không hoàn toàn tự do để theo đuổi lộ trình này. Đến năm 1921, đông đảo công nhân và nông dân Ý đã được nghiệp đoàn hóa và sở hữu các tổ chức chính trị của riêng mình. Thông qua các cuộc tuần hành, đình công, tẩy chay, chiếm hữu nhà máy và cưỡng chiếm đất canh tác, họ đã giành được quyền tổ chức, cùng với những nhượng bộ về tiền lương và điều kiện lao động.
Để áp đặt trọn vẹn chính sách “thắt lưng buộc bụng” lên vai người lao động và nông dân, các nhóm lợi ích kinh tế cầm quyền buộc phải xóa bỏ những quyền dân chủ - vốn là công cụ giúp quần chúng bảo vệ mức sống khiêm tốn của mình. Giải pháp được đưa ra là đập tan các nghiệp đoàn, các tổ chức chính trị và các quyền tự do dân sự của họ. Giới công nghiệp và các đại điền chủ khao khát một kẻ cầm lái có khả năng bẻ gãy quyền lực của khối lao động có tổ chức, đồng thời áp đặt một “trật tự thép” lên quần chúng nhân dân. Đối với nhiệm vụ này, Benito Mussolini, với sự hậu thuẫn từ những băng đảng Áo đen hung hãn, chính là ứng cử viên sáng giá nhất.
Vào năm 1922, Tổng liên đoàn Công nghiệp (Federazione Industriale) bao gồm những nhà tài phiệt hàng đầu, cùng đại diện từ các hiệp hội ngân hàng và nông nghiệp đã hội kiến với Mussolini để hoạch định cuộc “Hành quân về Rome”, đồng thời đóng góp 20 triệu lire cho kế hoạch này. Với sự hậu thuẫn bổ sung từ giới tướng lĩnh quân đội và cảnh sát trưởng cao cấp nhất của Ý, cuộc “cách mạng” phát xít mà thực chất là một cuộc đảo chính đã diễn ra.
Chỉ trong vòng hai năm sau khi nắm giữ quyền lực nhà nước, Mussolini đã bức tử toàn bộ các tờ báo đối lập và đập tan các đảng phái Xã hội, Tự do, Công giáo, Dân chủ và Cộng hòa những chính đảng vốn cùng nhau nắm giữ khoảng 80% số phiếu bầu. Những thủ lĩnh công đoàn, lãnh đạo nông dân, đại biểu quốc hội và bất kỳ ai dám chỉ trích chế độ mới đều bị các toán khủng bố phát xít (Squadrismo) hành hung, lưu đày hoặc ám sát. Đảng Cộng sản Ý phải chịu đựng sự đàn áp tàn khốc nhất, nhưng vẫn kiên cường duy trì một mạng lưới kháng chiến bí mật quả cảm, để rồi sau này phát triển thành cuộc đấu tranh vũ trang chống lại đội quân Áo đen và lực lượng chiếm đóng Đức.
Tại Đức, một mô hình đồng lõa tương tự giữa phe phát xít và giới tư bản cũng dần lộ diện. Trước đó, công nhân và nông dân Đức đã giành được quyền thành lập nghiệp đoàn, chế độ làm việc tám giờ một ngày và bảo hiểm thất nghiệp. Tuy nhiên, để khôi phục mức lợi nhuận, các tập đoàn công nghiệp nặng và tài chính lớn đã yêu cầu cắt giảm lương của người lao động, đồng thời đòi hỏi những khoản trợ cấp nhà nước khổng lồ cùng chính sách cắt giảm thuế cho chính họ.
Trong suốt thập niên 1920, lực lượng Sturmabteilung của Đảng Quốc xã (tức quân đoàn SA, hay còn gọi là các “Đội quân bão táp” áo nâu), dưới sự tài trợ của giới kinh doanh, đã được sử dụng chủ yếu như một lực lượng bán quân sự chống lao động với nhiệm vụ khủng bố công nhân và nông dân. Đến năm 1930, phần lớn các ông trùm tư bản đã đi đến kết luận rằng nền Cộng hòa Weimar không còn phục vụ được các nhu cầu của họ nữa và đang quá nhượng bộ đối với giai cấp công nhân.
Họ tăng mạnh các khoản tài trợ cho Hitler, đẩy Đảng Quốc xã lên vũ đài chính trị quốc gia. Các tài phiệt kinh tế đã cung cấp cho phe Phát xít nguồn kinh phí dồi dào để trang bị các đội xe hơi và loa phóng thanh nhằm bao phủ khắp các thành phố và làng mạc nước Đức, cùng với đó là ngân quỹ cho các tổ chức của Đảng Quốc xã, các nhóm thanh niên và những lực lượng bán quân sự. Trong chiến dịch bầu cử tháng 7 năm 1932, Hitler đã có đủ nguồn lực tài chính để bay đến năm mươi thành phố chỉ trong vòng hai tuần cuối cùng.
Cũng trong chiến dịch đó, phe Quốc xã đã nhận được 37,3% số phiếu bầu, mức cao nhất mà họ từng đạt được trong một cuộc tổng tuyển cử dân chủ. Họ chưa bao giờ có được đa số nhân dân đứng về phía mình. Xét về một cơ sở hậu thuẫn đáng tin cậy, thành phần ủng hộ họ thường là những thành viên giàu có hơn trong xã hội. Bên cạnh đó, các phần tử thuộc tầng lớp tiểu tư sản (petty bourgeoisie) và nhiều thành phần vô sản lưu manh (lumpenproletariat) đã phục vụ trong hàng ngũ SA (Đội quân bão táp) với tư cách là những tay sai hung hãn của đảng. Ngược lại, đại đa số giai cấp công nhân có tổ chức vẫn ủng hộ đảng Cộng sản hoặc đảng Xã hội Dân chủ cho đến tận phút cuối cùng.
Trong cuộc bầu cử Tổng thống tháng 12 năm 1932, có ba ứng cử viên tranh tài: Thống chế von Hindenburg thuộc phe bảo thủ đương nhiệm, ứng cử viên Quốc xã Adolf Hitler, và ứng cử viên đảng Cộng sản Ernst Thaelmann. Trong chiến dịch của mình, Thaelmann đã lập luận rằng một lá phiếu cho Hindenburg cũng chính là một lá phiếu cho Hitler, và rằng Hitler sẽ dẫn dắt nước Đức đi đến chiến tranh. Báo chí tư sản, bao gồm cả phe Xã hội Dân chủ, đã chỉ trích quan điểm này là “được giật dây bởi Moscow”. Kết quả là Hindenburg tái đắc cử, trong khi phe Quốc xã bị mất khoảng hai triệu phiếu bầu trong cuộc bầu cử Quốc hội (Reichstag) so với mức đỉnh điểm hơn 13,7 triệu phiếu trước đó.
Đúng như bản chất của mình, các nhà lãnh đạo Xã hội Dân chủ đã từ chối đề nghị của đảng Cộng sản về việc thành lập một liên minh vào "giờ chót" để chống lại chủ nghĩa phát xít. Giống như tại nhiều quốc gia khác trong quá khứ lẫn hiện tại, ở Đức, phe Xã hội Dân chủ thà liên minh với cánh hữu phản động còn hơn là đứng chung hàng ngũ với phe "Đỏ". Trong khi đó, một số đảng cánh hữu đã hợp lực sau lưng phe Quốc xã, và vào tháng 1 năm 1933, chỉ vài tuần sau cuộc bầu cử, Hindenburg đã mời Hitler nhậm chức Thủ tướng.
Khi đã thâu tóm được quyền lực nhà nước, Hitler và đảng Quốc xã đã thực thi một chương trình nghị sự kinh tế - chính trị không mấy khác biệt so với Mussolini. Họ đập tan các tổ chức lao động, xóa bỏ mọi hình thức bầu cử, các đảng phái đối lập và những ấn phẩm độc lập. Hàng trăm ngàn người thuộc phe phản đối đã bị tống giam, tra tấn hoặc sát hại. Tại Đức cũng như ở Ý, những người cộng sản là nhóm phải chịu đựng sự đàn áp chính trị tàn khốc nhất.
Ở đây, chúng ta thấy hai dân tộc người Ý và người Đức với lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ khác biệt, thậm chí được cho là có tính cách hoàn toàn khác nhau, nhưng cuối cùng lại đi đến cùng một giải pháp đàn áp giống hệt nhau. Điều này xảy ra bởi những điểm tương đồng đầy tính cưỡng bách trong cấu trúc quyền lực kinh tế và xung đột giai cấp vốn đang thống trị tại mỗi quốc gia. Tại các quốc gia đa dạng khác như Lithuania, Croatia, Romania, Hungary và Tây Ban Nha, một mô hình phát xít tương tự cũng đã trỗi dậy để dốc toàn lực cứu vãn giới đại tư bản khỏi những áp lực từ nền dân chủ.
Phát xít ủng hộ ai?
Có một kho tàng tài liệu khổng lồ bàn về việc ai đã ủng hộ phe Quốc xã, nhưng lại có rất ít công trình nghiên cứu về việc phe Quốc xã đã ủng hộ ai sau khi họ nắm quyền. Điều này hoàn toàn phù hợp với xu hướng của học giới chính thống: né tránh toàn bộ chủ đề về chủ nghĩa tư bản bất cứ khi nào có điều gì đó bất lợi bị phanh phui. Vậy, Mussolini và Hitler đã bảo vệ lợi ích của ai?
Tại cả Ý vào thập niên 1920 và Đức vào thập niên 1930, những tệ nạn công nghiệp cũ kỹ vốn được cho là đã vĩnh viễn trôi vào quá khứ — nay lại trỗi dậy khi các điều kiện lao động suy thoái trầm trọng. Dưới danh nghĩa giải cứu xã hội khỏi "Mối đe dọa Đỏ" (Red Menace), các công đoàn và những cuộc đình công bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Tài sản của công đoàn và các hợp tác xã nông nghiệp bị tịch thu để giao lại cho các chủ sở hữu tư nhân giàu có. Các đạo luật về mức lương tối thiểu, tiền làm thêm giờ và các quy định an toàn lao động trong nhà máy đều bị xóa bỏ.
Tình trạng ép tiến độ công việc (speedups) trở nên phổ biến. Những công nhân dám phàn nàn về điều kiện làm việc mất an toàn hoặc vô nhân đạo sẽ phải đối mặt với nguy cơ bị sa thải hoặc tống giam. Người lao động phải làm việc nhiều giờ hơn với mức thù lao thấp hơn. Những mức lương vốn đã khiêm tốn nay còn bị cắt giảm tàn khốc: tại Đức giảm từ 25% đến 40%, tại Ý giảm tới 50%. Thậm chí ở Ý, chế độ lao động trẻ em cũng được khôi phục.
Để xoa dịu lòng dân, một vài “mẩu bánh vụn” đã được ném ra cho quần chúng. Đó là những buổi hòa nhạc và sự kiện thể thao miễn phí, một vài chương trình phúc lợi ít ỏi, các khoản cứu trợ thất nghiệp mà nguồn kinh phí chủ yếu lại do chính người lao động đóng góp, cùng những dự án công trình công cộng phô trương nhằm khơi dậy niềm tự hào dân tộc giả tạo.
Cả Mussolini lẫn Hitler đều bày tỏ lòng tri ân đối với những “ông chủ” đại tư bản của mình bằng cách tư nhân hóa hàng loạt nhà máy thép, nhà máy điện, ngân hàng và các công ty tàu thủy vốn đang hoạt động rất hiệu quả của nhà nước. Cả hai chế độ đều rút tỉa nặng nề từ ngân khố quốc gia để vực dậy hoặc trợ cấp cho ngành công nghiệp nặng. Các tập đoàn nông nghiệp quy mô lớn được mở rộng và nhận trợ cấp hậu hĩnh. Cả hai nhà nước này đều đảm bảo mức lợi nhuận trên vốn đầu tư cho các tập đoàn khổng lồ, trong khi lại đứng ra gánh vác hầu hết các rủi ro và thua lỗ đầu tư. Đúng như kịch bản thường thấy ở các chế độ phản động: tư bản tư nhân đã cướp bóc tư bản công.
Đồng thời, thuế đánh vào đại chúng tăng lên, nhưng lại giảm xuống hoặc bị xóa bỏ hoàn toàn đối với giới giàu có và các doanh nghiệp lớn. Thuế thừa kế dành cho giới thượng lưu cũng được cắt giảm mạnh hoặc bãi bỏ hoàn toàn.
Hệ quả của tất cả những điều này là gì? Tại Ý trong suốt thập niên 1930, nền kinh tế bị bóp nghẹt bởi suy thoái, nợ công chồng chất và tham nhũng tràn lan. Tuy nhiên, lợi nhuận công nghiệp vẫn tăng cao và các nhà máy quốc phòng hối hả xuất xưởng vũ khí để chuẩn bị cho cuộc chiến sắp tới. Tại Đức, nạn thất nghiệp đã giảm đi một nửa nhờ vào sự mở rộng đáng kể của các công việc trong ngành vũ khí, nhưng tình trạng nghèo đói tổng thể lại gia tăng do các chính sách cắt giảm lương tàn khốc. Từ năm 1935 đến 1943, lợi nhuận công nghiệp tăng vọt, trong khi thu nhập ròng của các lãnh đạo tập đoàn tăng tới 46%. Trong thập niên 1930 đầy biến động, tại Hoa Kỳ, Anh và các nước Bắc Âu, nhóm thu nhập cao đã trải qua một sự sụt giảm khiêm tốn trong tỷ trọng thu nhập quốc gia của họ; nhưng ở Đức, nhóm 5% dẫn đầu lại hưởng mức tăng trưởng thu nhập lên tới 15%.
Bất chấp những minh chứng lịch sử rõ ràng này, phần lớn các tác giả vẫn làm ngơ trước sự cấu kết chặt chẽ giữa chủ nghĩa phát xít và giới đại tư bản. Một số người thậm chí còn lập luận rằng giới kinh doanh không phải là kẻ hưởng lợi mà trái lại, còn là nạn nhân của phát xít. Angelo Codevilla, một cây bút bảo thủ thuộc Viện nghiên cứu Hoover, đã thản nhiên tuyên bố: "Nếu chủ nghĩa phát xít có ý nghĩa gì, thì đó chính là quyền sở hữu và sự kiểm soát của chính phủ đối với doanh nghiệp" (Commentary, tháng 8/1994). Bằng cách đó, chủ nghĩa phát xít đã bị bóp méo như một biến thể đột biến của chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, sự thật là: nếu chủ nghĩa phát xít thực sự có ý nghĩa gì, thì đó chính là sự ủng hộ hết mình của chính phủ dành cho giới kinh doanh, đi kèm với sự đàn áp tàn khốc đối với các lực lượng chống đối doanh nghiệp và bảo vệ quyền lợi lao động.
Liệu chủ nghĩa phát xít có đơn thuần là một lực lượng độc tài phục vụ cho chủ nghĩa tư bản? Đó có thể không phải là tất cả, nhưng chắc chắn là một phần quan trọng trong lý do tồn tại (raison d'être) của nó—đó chính là chức năng mà bản thân Hitler liên tục nhắc đến khi nói về việc cứu nguy cho các nhà công nghiệp và giới ngân hàng khỏi "Chủ nghĩa Bolshevik". Đây là một chủ đề xứng đáng được quan tâm nhiều hơn so với những gì nó đã nhận được từ trước đến nay.
Dù phe phát xít có thể tin rằng họ đang giải cứu giới tài phiệt khỏi phe “Đỏ”, nhưng trên thực tế, lực lượng tả khuynh cách mạng chưa bao giờ đủ mạnh để chiếm lấy quyền lực nhà nước ở cả Ý lẫn Đức. Tuy nhiên, các lực lượng quần chúng lại đủ mạnh để làm giảm tỷ suất lợi nhuận và gây trở ngại cho quá trình tích lũy tư bản. Điều này đã làm phá sản những nỗ lực của chủ nghĩa tư bản trong việc giải quyết các mâu thuẫn nội tại bằng cách đẩy ngày càng nhiều chi phí lên lưng quần chúng lao động. Dù có cách mạng hay không, sự kháng cự dân chủ này của giai cấp công nhân vẫn là một trở ngại đầy phiền toái đối với những nhóm lợi ích tiền tệ.
Cùng với việc phục vụ giới tư bản, các thủ lĩnh phát xít cũng ra sức phụng sự chính bản thân mình, tận dụng mọi cơ hội để vơ vét tiền bạc. Lòng tham cá nhân và lòng trung thành giai cấp của chúng thực chất là hai mặt của cùng một đồng tiền. Mussolini và phe cánh sống xa hoa, bù khú trong những vòng xoáy giàu sang của giới thượng lưu và quý tộc. Các quan chức Quốc xã và chỉ huy SS đã tích lũy những khối tài sản cá nhân khổng lồ bằng cách cướp bóc các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng, trấn lột tù nhân trong các trại tập trung và các nạn nhân chính trị khác. Những khoản tiền khổng lồ được tạo ra từ các doanh nghiệp sở hữu bí mật nhưng có quan hệ rộng, và từ việc cho các tập đoàn công nghiệp như I.G. Farben và Krupp thuê nhân công nô lệ từ các trại tập trung.
Hitler thường được khắc họa như một kẻ cuồng tín về tư tưởng, không màng đến những thứ vật chất thô thiển. Nhưng trên thực tế, hắn đã tích lũy được một gia sản kếch xù, phần lớn bằng những phương cách ám muội. Hắn chiếm đoạt các tác phẩm nghệ thuật từ công quỹ. Hắn biển thủ những khoản tiền khổng lồ từ quỹ của đảng Quốc xã. Hắn thậm chí còn phát minh ra một khái niệm mới mang tên “quyền nhân thân”, cho phép hắn thu một khoản phí nhỏ trên mỗi con tem bưu chính có in hình mình—một phi vụ đã mang về cho hắn hàng trăm triệu mark.
Nguồn tài sản lớn nhất của Hitler đến từ một quỹ đen bí mật mà các nhà công nghiệp hàng đầu nước Đức thường xuyên đóng góp. Hitler “hiểu rằng chừng nào nền công nghiệp Đức còn hái ra tiền, thì nguồn tiền riêng của hắn sẽ là vô tận. Vì vậy, hắn đảm bảo rằng công nghiệp Đức sẽ không bao giờ phát đạt hơn dưới thời hắn cai trị—bằng cách, chẳng hạn như, tung ra các dự án vũ khí khổng lồ”, hay cái mà ngày nay chúng ta gọi là những bản hợp đồng quốc phòng béo bở.
Trái ngược hoàn toàn với hình ảnh một kẻ sống khắc khổ, Hitler hưởng thụ một cuộc sống đầy vị kỷ. Trong suốt thời gian tại vị, hắn đã nhận được những phán quyết đặc biệt từ cục thuế Đức cho phép miễn hoàn toàn thuế thu nhập và thuế tài sản. Hắn sở hữu một đội xe limousine bóng loáng, các căn hộ riêng biệt, những ngôi biệt thự ở nông thôn, một đội ngũ gia nhân đông đảo và một dinh cơ hùng vĩ trên dãy Alps. Những khoảng thời gian hạnh phúc nhất của hắn là dành để tiếp đón giới hoàng gia châu Âu, bao gồm cả Công tước và Nữ công tước xứ Windsor những người nằm trong số những kẻ ngưỡng mộ hắn nồng nhiệt nhất.
Lời khen cho Adolf và Benito
Chủ nghĩa phát xít Ý và chủ nghĩa Quốc xã Đức từng có không ít những kẻ ngưỡng mộ trong cộng đồng kinh doanh và báo chí trực thuộc các tập đoàn tại Hoa Kỳ. Các chủ ngân hàng, nhà xuất bản và nhà công nghiệp—bao gồm cả những nhân vật như Henry Ford—đã lặn lội đến Rome và Berlin để bày tỏ lòng tôn kính, nhận huy chương và ký kết những thương vụ béo bở. Nhiều người trong số họ đã dốc hết sức để thúc đẩy nỗ lực chiến tranh của Đức Quốc xã, chia sẻ các bí mật công nghiệp quân sự và tham gia vào các giao dịch bí mật với chính phủ Phát xít, ngay cả sau khi Hoa Kỳ đã chính thức tham chiến. Trong suốt thập niên 1920 và đầu thập niên 1930, các ấn phẩm lớn như Fortune, Wall Street Journal, Saturday Evening Post, New York Times, Chicago Tribune và Christian Science Monitor đã ca ngợi Mussolini như một người hùng đã cứu nước Ý khỏi tình trạng vô chính phủ và chủ nghĩa cấp tiến. Họ thêu dệt nên những ảo tưởng đầy mê hoặc về một nước Ý hồi sinh, nơi nghèo đói và áp bức đột ngột biến mất, nơi phe “Đỏ” bị đánh bại, sự hòa hợp ngự trị, và những kẻ "Áo đen" (Blackshirts) đang bảo vệ một “nền dân chủ mới”.
Hàng ngũ báo chí tiếng Ý tại Hoa Kỳ cũng háo hức gia nhập dàn đồng ca này. Hai tờ báo có ảnh hưởng nhất, L'Italia ở San Francisco (được tài trợ chủ yếu bởi Ngân hàng Mỹ của A.P. Giannini) và Il Progresso ở New York (thuộc sở hữu của triệu phú Generoso Pope), đã bày tỏ cái nhìn thiện cảm với chế độ phát xít và gợi ý rằng Hoa Kỳ có thể hưởng lợi từ một trật tự xã hội tương tự.
Một số tiếng nói phản biện đã từ chối gia nhập dàn đồng ca “Chúng ta tôn thờ Benito”. Tờ The Nation đã nhắc nhở độc giả rằng Mussolini không phải đang cứu vãn nền dân chủ mà là đang tiêu diệt nó. Những người cấp tiến thuộc mọi khuynh hướng và nhiều nhà lãnh đạo lao động đã lên án chủ nghĩa phát xít. Tuy nhiên, những quan điểm chỉ trích của họ nhận được rất ít sự chú ý trên các tập đoàn phương tiện truyền thông tại Mỹ.
Với Hitler cũng vậy, báo chí đã không nhìn nhận chế độ độc tài Quốc xã của der Fuehrer một cách quá khắt khe. Thậm chí còn tồn tại một nhóm đông đảo ủng hộ quan điểm “Hãy cho Adolf một cơ hội”, mà một phần trong đó đã được “bôi trơn” bằng tiền của Đức Quốc xã. Chẳng hạn, để đổi lấy những bài báo tích cực hơn trên các tờ báo của tập đoàn Hearst, phe Quốc xã đã trả mức phí cao gấp gần mười lần giá tiêu chuẩn cho dịch vụ thông tấn INS của Hearst. Đáp lại, William Randolph Hearst đã chỉ thị cho các phóng viên của mình tại Đức phải gửi về những báo cáo thân thiện về chế độ của Hitler. Những người từ chối đã bị thuyên chuyển công tác hoặc bị sa thải. Các tờ báo của Hearst thậm chí còn mở trang cho các cột báo của những nhà lãnh đạo Quốc xã khét tiếng như Alfred Rosenberg và Hermann Goring.
Đến giữa và cuối thập niên 1930, Ý và Đức liên minh với Nhật Bản, một “kẻ đến muộn” khác trong làng công nghiệp đã ráo riết tìm kiếm thị phần thế giới và thuộc địa. Sự trỗi dậy của chủ nghĩa bành trướng này đã đưa họ vào cuộc xung đột ngày càng gay gắt với các quốc gia tư bản phương Tây lâu đời hơn như Anh, Pháp và Hoa Kỳ. Khi những đám mây đen của chiến tranh kéo đến, quan điểm của báo chí Mỹ về các cường quốc phe Trục mới bắt đầu chuyển sang tông giọng chỉ trích quyết liệt.
Duy lý hóa hệ tư tưởng phi lý
Một số tác giả thường nhấn mạnh vào các đặc điểm “phi lý” của chủ nghĩa phát xít. Bằng cách đó, họ đã bỏ qua những chức năng kinh tế - chính trị rất hợp lý mà phát xít đã thực hiện. Phần lớn các hoạt động chính trị thực chất là việc thao túng một cách có tính toán các biểu tượng phi lý. Điều này chắc chắn đúng với hệ tư tưởng phát xít nơi mà những lời kêu gọi đầy cảm tính đã phục vụ đắc lực cho chức năng kiểm soát giai cấp.
Trước hết là sự sùng bái lãnh tụ, tại Ý là il Duce, và tại Đức là nguyên tắc lãnh đạo (der Fuehrerprinzip). Đi cùng với sự thờ phụng lãnh tụ là sự thần thánh hóa nhà nước. Như Mussolini đã viết: “Quan niệm của chủ nghĩa Phát xít về cuộc sống nhấn mạnh tầm quan trọng của Nhà nước và chỉ chấp nhận cá nhân chừng nào lợi ích của cá nhân đó trùng khớp với lợi ích của Nhà nước.” Chủ nghĩa phát xít rao giảng quyền cai trị độc đoán của một nhà nước bao trùm toàn bộ và một nhà lãnh đạo tối cao. Nó tán dương những bản năng thô bạo nhất của con người như sự chinh phục và thống trị, đồng thời bác bỏ chủ nghĩa quân bình, dân chủ, chủ nghĩa tập thể và chủ nghĩa hòa bình, coi đó là những học thuyết của sự yếu hèn và suy đồi.
Bản dịch đoạn văn này tiếp tục làm rõ cách chủ nghĩa phát xít tôn thờ chiến tranh và sử dụng khái niệm “hòa hợp dân tộc” để che đậy bản chất bóc lột giai cấp:
Mussolini từng viết, một sự tận hiến cho hòa bình “là thù địch với chủ nghĩa phát xít.” Vào năm 1934, ông tuyên bố rằng hòa bình vĩnh cửu là một học thuyết “gây nản lòng”. Chỉ trong “cuộc đấu tranh tàn khốc” và “chinh phục”, con người hay các quốc gia mới đạt được sự hiện thực hóa cao nhất của mình. “Dẫu lời nói là những thứ đẹp đẽ,” ông khẳng định, “thì súng trường, súng máy, máy bay và đại bác còn đẹp đẽ hơn nhiều.” Và trong một dịp khác, ông viết: “Chỉ riêng chiến tranh... mới đóng cái dấu ấn của sự cao quý lên những dân tộc có đủ can đảm để đối mặt với nó.” Trớ trêu thay, hầu hết binh lính trưng tập của quân đội Ý lại chẳng hề mặn mà với các cuộc chiến của Mussolini; họ có xu hướng rời bỏ trận địa ngay khi phát hiện ra rằng phía bên kia đang sử dụng đạn thật.
Học thuyết phát xít nhấn mạnh các giá trị nhất nguyên: Ein Volk, ein Reich, ein Fuehrer (Một dân tộc, một đế chế, một lãnh tụ). Người dân không còn được phép bận tâm đến sự phân chia giai cấp mà phải tự xem mình là một phần của một chỉnh thể hài hòa, giàu cũng như nghèo đều là một. Quan điểm này ủng hộ trạng thái kinh tế hiện hữu bằng cách che đậy hệ thống bóc lột giai cấp đang tiếp diễn. Điều này hoàn toàn trái ngược với chương trình nghị sự của phe cánh tả vốn ủng hộ việc nói lên các yêu sách của nhân dân và làm sắc bén thêm nhận thức về bất công xã hội và đấu tranh giai cấp.
Sự nhất nguyên này được củng cố bằng những lời kêu gọi mang tính phục cổ (atavistic appeals) hướng về cội nguồn huyền thoại của dân tộc. Với Mussolini, đó là sự huy hoàng của Đế chế La Mã; với Hitler, đó là dân tộc cổ xưa (ancient Volk). Một vở kịch được viết bởi một người ủng hộ Quốc xã tên là Hans Johst, có tựa đề Schlageter, được công diễn rộng rãi khắp nước Đức ngay sau khi Nazis nắm quyền (Hitler đã dự đêm khai mạc tại Berlin), đã dàn dựng một cuộc đối đầu giữa chủ nghĩa huyền bí dân tộc (Volk mysticism) và chính trị giai cấp. Trong kịch, nhân vật August đầy nhiệt huyết đang trò chuyện với cha mình là Schneider:
August: Cha sẽ không tin đâu, nhưng... giới trẻ chúng con không còn bận tâm đến những khẩu hiệu cũ rích đó nữa... đấu tranh giai cấp đang lụi tàn rồi.
Schneider: Vậy à, thế các anh có cái gì thay thế?
August: Cộng đồng Dân tộc (Volk community).
Schneider: Và đó là một khẩu hiệu sao?
August: Không, đó là một trải nghiệm!
Schneider: Lạy Chúa, cuộc đấu tranh giai cấp của chúng ta, những cuộc đình công của chúng ta, chúng không phải là trải nghiệm sao, hả? Chủ nghĩa xã hội, Quốc tế cộng sản, chẳng lẽ chúng chỉ là những ảo tưởng thôi sao?
August: Chúng từng cần thiết, nhưng... đó là những trải nghiệm lịch sử (đã qua rồi).
Schneider: Vậy sao, và tương lai vì thế sẽ thuộc về cái “Cộng đồng Dân tộc” của các anh. Nói cho ta nghe, anh thực sự hình dung về nó thế nào? Nghèo, giàu, khỏe mạnh, tầng lớp trên, tầng lớp dưới, tất cả những thứ đó sẽ chấm dứt với các anh sao, hả?...
August: Nhìn xem Papa, trên, dưới, nghèo, giàu, những thứ đó luôn luôn tồn tại. Chỉ có tầm quan trọng mà người ta đặt vào câu hỏi đó mới là yếu tố quyết định. Đối với chúng con, cuộc sống không bị xẻ nhỏ thành những giờ làm việc và được gắn kèm với các biểu đồ giá cả. Thay vào đó, chúng con tin vào sự tồn tại của con người như một chỉnh thể. Không ai trong chúng con coi việc kiếm tiền là điều quan trọng nhất; chúng con muốn phục sự. Cá nhân chỉ là một tế bào trong dòng máu của dân tộc mình.
Những lời nhận xét của người con trai thật đầy ẩn ý: “đấu tranh giai cấp đang lụi tàn.” Sự lo ngại của người cha về sự lạm dụng quyền lực giai cấp và bất công giai cấp đã bị gạt đi một cách hời hợt, coi đó chỉ là một trạng thái tâm trí chứ không có thực tế khách quan. Thậm chí, nó còn bị đánh đồng một cách sai lệch với sự quan tâm thô thiển đến tiền bạc (“Không ai trong chúng con coi việc kiếm tiền là quan trọng”). Có lẽ, các vấn đề về tài sản nên được để lại cho những kẻ vốn đã nắm giữ chúng. August đang muốn nói rằng: chúng ta có thứ gì đó tốt đẹp hơn một trải nghiệm nhất nguyên, toàn diện với tư cách là một dân tộc, tất cả chúng ta, giàu cũng như nghèo, cùng làm việc vì một vinh quang lớn lao nào đó. Một cách đầy tiện lợi, người ta đã lờ đi việc những "sự hy sinh vinh quang" đó thực chất đều do người nghèo gánh chịu để mang lại lợi ích cho người giàu.
Lập trường được tuyên bố trong vở kịch đó cũng như trong các tuyên truyền khác của Đức Quốc xã không hề cho thấy sự thờ ơ với giai cấp; hoàn toàn ngược lại, nó thể hiện một sự nhận thức sắc bén về lợi ích giai cấp, một nỗ lực được dàn dựng kỹ lưỡng nhằm che đậy và làm câm lặng ý thức giai cấp mạnh mẽ vốn tồn tại trong hàng ngũ công nhân Đức. Trong sự phủ nhận đầy xảo quyệt, chúng ta thường tìm thấy một sự ngầm thừa nhận.
Chế độ phụ hệ và Cuộc phản cách mạng trá hình
Chủ nghĩa dân tộc sô vanh, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, phân biệt giới tính và các giá trị phụ hệ của chủ nghĩa phát xít cũng nhằm phục vụ cho lợi ích giai cấp bảo thủ. Học thuyết phát xít, đặc biệt là biến thể Quốc xã, đưa ra một cam kết rõ ràng đối với sự thượng đẳng về chủng tộc. Các thuộc tính của con người, bao gồm cả địa vị giai cấp, được cho là thừa kế qua huyết thống; vị trí của một cá nhân trong cấu trúc xã hội được coi là thước đo cho bản chất bẩm sinh của người đó. Di truyền học và sinh học được huy động để biện minh cho cấu trúc giai cấp hiện hành, không khác gì những gì các nhà phân biệt chủng tộc học thuật ngày nay đang làm với lý thuyết “đường cong chuông” (bell curve) và mớ lý thuyết ngu dân rập khuôn về thuyết ưu sinh.
Cùng với sự bất bình đẳng về chủng tộc và giai cấp, chủ nghĩa phát xít cũng ủng hộ chủ nghĩa bài xích đồng tính và bất bình đẳng giới tính. Nằm trong số những nạn nhân đầu tiên của Đức Quốc xã là một nhóm những kẻ đồng tính phát xít, những kẻ lãnh đạo lực lượng bão táp SA. Khi những lời khiếu nại về hành vi đồng tính công khai của thủ lĩnh SA Ernst Roehm cùng một số thuộc cấp áo nâu thuộc lực lượng bão táp này tiếp tục tới tay Hitler sau khi ông ta nắm quyền, ông ta đã đưa ra một tuyên bố chính thức lập luận rằng vấn đề này “thuần túy thuộc về phạm vi đời tư” và rằng “đời sống riêng tư của một sĩ quan SA không thể là đối tượng bị săm soi trừ khi nó xung đột với các nguyên tắc cơ bản của hệ tư tưởng Quốc gia Xã hội chủ nghĩa”.
Lực lượng bán quân sự SA từng được sử dụng để chiến thắng trong các cuộc chiến đường phố chống lại những công đoàn viên và những người phe Đỏ. Lực lượng bão táp này hoạt động như một đạo quân phản cách mạng trá hình, lợi dụng những bất bình của quần chúng bằng cách dùng những lời lẽ đao to búa lớn để lên án tư bản tài chính. Khi số lượng thành viên SA tăng vọt lên tới ba triệu người vào năm 1933, điều này đã gây ra sự bất an lớn cho các ông trùm công nghiệp và giới quý tộc quân phiệt. Những kẻ gây rối đường phố thuộc lực lượng SA—những kẻ luôn lên án sự suy đồi tư sản, kêu gọi chia sẻ của cải và đòi hoàn thành “cuộc cách mạng phát xít”—sẽ cần phải bị xử lý.
Sau khi sử dụng lực lượng SA để đoạt lấy quyền lực nhà nước, Hitler sau đó lại dùng chính bộ máy nhà nước để vô hiệu hóa SA. Giờ đây, đột nhiên xu hướng đồng tính của Roehm lại thực sự xung đột với hệ tư tưởng Quốc gia Xã hội chủ nghĩa. Trên thực tế, lực lượng SA phải bị chặt đầu không phải vì các thủ lĩnh của nó là người đồng tính—dù đó là lý do được đưa ra—mà vì lực lượng này có nguy cơ trở thành một hiểm họa nghiêm trọng. Roehm cùng khoảng 300 thành viên SA khác đã bị hành quyết, không phải tất cả họ đều là người đồng tính. Nằm trong số các nạn nhân có cả Gregor Strasser, một kẻ tuyên truyền kỳ cựu của Đức Quốc xã, người bị nghi ngờ là có khuynh hướng thiên tả.
Dĩ nhiên, nhiều tên phát xít mang tư tưởng bài đồng tính một cách cực đoan. Một trong những kẻ quyền lực nhất trong số đó, thủ lĩnh SS Heinrich Himmler, coi những người đồng tính là một mối đe dọa đối với bản lĩnh đàn ông Đức và phẩm giá đạo đức của dân tộc Teuton, bởi một “gã đồng tính ủy mị” sẽ không thể sinh sản hay trở thành một người lính tốt. Chủ nghĩa bài đồng tính và chủ nghĩa phân biệt giới tính của Himmler đã hòa làm một khi hắn tuyên bố: “Ở Mỹ, nếu một người đàn ông chỉ cần nhìn một cô gái, anh ta có thể bị ép phải cưới cô ấy hoặc phải bồi thường thiệt hại... do đó, đàn ông ở Mỹ tự bảo vệ mình bằng cách tìm đến những người đồng tính. Phụ nữ Mỹ giống như những chiếc rìu chiến—họ băm vằn đàn ông ra.” Đó là lời phát biểu của một trong những bộ óc vĩ đại của chủ nghĩa quốc xã. Theo thời gian, Himmler đã thành công trong việc mở rộng sự đàn áp đối với người đồng tính ra khỏi phạm vi ban lãnh đạo SA. Hàng ngàn thường dân đồng tính đã bỏ mạng trong các trại tập trung của SS.
Trong các hình thái xã hội suốt chiều dài lịch sử, nếu có cơ hội, phụ nữ luôn cố gắng hạn chế số lượng con cái mà họ sinh ra. Điều này đặt ra một hiểm họa tiềm tàng cho một chế độ phụ hệ phát xít vốn luôn cần một số lượng binh lính khổng lồ và công nhân sản xuất vũ khí. Phụ nữ sẽ càng ít có khả năng khẳng định quyền sinh sản của mình nếu họ bị giữ ở vị thế phục tùng và lệ thuộc. Do đó, hệ tư tưởng phát xít luôn ca ngợi quyền lực phụ hệ. Il Duce từng nói, mỗi người đàn ông phải là một người chồng, một người cha và một người lính. Thiên chức lớn nhất của người phụ nữ là trau dồi các đức hạnh gia đình, tận tụy chăm lo cho các nhu cầu của tổ ấm, đồng thời sinh thật nhiều con cho nhà nước nếu có thể.
Hệ tư tưởng phụ hệ được liên kết chặt chẽ với một hệ tư tưởng giai cấp bảo thủ vốn coi mọi hình thức bình đẳng xã hội là một mối đe dọa đối với sự kiểm soát mang tính phân cấp và đặc quyền. Chế độ phụ hệ chính là bệ đỡ cho nền chính trị tài phiệt: Nếu phụ nữ đi chệch ra ngoài khuôn khổ, điều gì sẽ xảy ra với gia đình? Và nếu gia đình tan rã, toàn bộ cấu trúc xã hội sẽ bị đe dọa. Khi đó, điều gì sẽ xảy ra với nhà nước, với quyền lực, đặc quyền và của cải của giai cấp thống trị? Phe phát xít rất thích ra rả về cái mà ngày nay gọi là “các giá trị gia đình”—mặc dù hầu hết các nhà lãnh đạo sừng sỏ của Đức Quốc xã khó có thể được mô tả là những người đàn ông tận tụy vì gia đình.
Ở Đức Quốc xã, phân biệt chủng tộc và chủ nghĩa bài Do Thái phục vụ cho việc chuyển hướng các bất bình chính đáng của quần chúng sang các nạn nhân tế thần tiện lợi. Tuyên truyền bài Do Thái được may đo một cách khéo léo để hấp dẫn các nhóm công chúng khác nhau. Những kẻ siêu ái quốc được rỉ tai rằng người Do Thái là những kẻ theo chủ nghĩa quốc tế xa lạ. Những công nhân thất nghiệp được bảo rằng kẻ thù không đội trời chung của họ là những nhà tư bản Do Thái và chủ ngân hàng Do Thái. Đối với những nông dân nợ nần, đó là những kẻ cho vay nặng lãi Do Thái. Đối với tầng lớp trung lưu, đó là những thủ lĩnh công đoàn Do Thái và những người cộng sản Do Thái. Ở đây, một lần nữa chúng ta lại thấy một sự sử dụng lý trí có ý thức đối với các hình tượng phi lý. Bọn quốc xã có thể điên cuồng, nhưng chúng không hề ngu ngốc.
Điều phân biệt chủ nghĩa phát xít với các chế độ độc tài phụ hệ cánh hữu thường là cái cách mà nó cố gắng tự tạo ra cho mình một vầng hào quang cách mạng. Chủ nghĩa phát xít mang đến một sự kết hợp đầy mị dân giữa những lời kêu gọi quần chúng nghe có vẻ cách mạng và một nền chính trị giai cấp phản động. Tên đầy đủ của đảng Quốc xã là Đảng Công nhân Quốc gia Xã hội chủ nghĩa Đức, một cái tên nghe rất có hơi hướng cánh tả. Như đã lưu ý, trong hàng ngũ của lực lượng bão táp SA từng tồn tại một khuynh hướng dân binh đòi chia sẻ của cải, vốn đã bị Hitler trấn áp sau khi ông ta đoạt lấy quyền lực nhà nước.
Cả phe phát xít Ý lẫn Đức Quốc xã đều đã có một nỗ lực có ý thức nhằm cướp đi hào quang của cánh tả. Đã có những cuộc huy động quần chúng, các tổ chức thanh niên, các lữ đoàn lao động, các cuộc mít tinh, diễu hành, biểu ngữ, biểu tượng và khẩu hiệu. Người ta bàn tán rất nhiều về một “cuộc cách mạng quốc xã” sẽ hồi sinh xã hội, quét sạch trật tự cũ và xây dựng trật tự mới.
Vì lý do này, các học giả dòng chính thống cảm thấy có thể thoải mái xem chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa cộng sản là hai cặp song sinh độc tài. Đây là một trường hợp quy giản bản chất thành hình thức. Sự tương đồng về mặt hình thức được coi là lý do đủ để xóa nhòa sự khác biệt to lớn về nội dung giai cấp thực tế. Các học giả như A. James Gregor và William Ebenstein, vô số nhà lãnh đạo chính trị phương Tây, cùng những người khác vốn được cho là thuộc cánh tả dân chủ, thường xuyên xếp chủ nghĩa phát xít chung một giuộc với chủ nghĩa cộng sản. Chẳng hạn, Noam Chomsky tuyên bố: “Sự trỗi dậy của các tập đoàn trên thực tế là biểu hiện của cùng một hiện tượng dẫn đến chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa Bolshevik, những thứ vốn nảy mầm từ cùng một mảnh đất độc tài.” Thế nhưng tại nước Ý và nước Đức thời bấy giờ, hầu hết công nhân và nông dân đều vạch rõ ranh giới rạch ròi giữa chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa cộng sản, các trùm công nghiệp và giới chủ ngân hàng cũng vậy, những kẻ đã ủng hộ chủ nghĩa phát xít vì nỗi sợ hãi và lòng căm thù đối với chủ nghĩa cộng sản—một sự đánh giá phần lớn dựa trên thực tế giai cấp.
Nhiều năm trước, tôi từng nói rằng chủ nghĩa phát xít chưa bao giờ thành công trong việc giải quyết những mâu thuẫn phi lý của chủ nghĩa tư bản. Giờ đây, tôi cho rằng nó đã đạt được mục tiêu đó—nhưng chỉ dành cho các nhà tư bản, chứ không phải cho đại chúng. Chủ nghĩa phát xít chưa từng có ý định đưa ra một giải pháp xã hội phục vụ cho công chúng rộng rãi, mà chỉ đưa ra một giải pháp phản động, đổ mọi gánh nặng và tổn thất lên đầu công chúng lao động. Khi lột bỏ lớp vỏ bọc tư tưởng và tổ chức, chủ nghĩa phát xít không gì khác hơn là một giải pháp tối hậu cho cuộc đấu tranh giai cấp, sự dìm dập và bóc lột mang tính toàn diện đối với các lực lượng dân chủ vì lợi ích và lợi nhuận của các tầng lớp tài chính thượng lưu.
Chủ nghĩa phát xít là một cuộc cách mạng giả. Nó dung dưỡng cái bề ngoài của một nền chính trị đại chúng và một vầng hào quang cách mạng mà không hề mang lại một nội dung giai cấp cách mạng chân chính nào. Nó tuyên truyền về một “Trật tự Mới” trong khi lại phục vụ cho chính những lợi ích tài phiệt cũ kỹ. Những kẻ lãnh đạo của nó không hề phạm tội do mơ hồ, mà vì sự dối trá. Việc chúng nỗ lực hết sức để làm lạc hướng công chúng không có nghĩa là chính chúng cũng bị lạc hướng.
Thân thiện với Chủ nghĩa Phát xít
Một trong những điều thường bị các học giả dòng chính thống thoải mái lờ đi là cái cách mà các nhà nước tư bản phương Tây đã hợp tác với chủ nghĩa phát xít. Trong những nỗ lực cộng tác của mình, Thủ tướng Anh Neville Chamberlain đã tỏ ra thân thiết một cách rõ rệt với Quốc xã. Ông ta cùng nhiều người thuộc giai cấp của mình coi Hitler như một thành trì chống lại chủ nghĩa cộng sản ở Đức, và coi nước Đức Quốc xã như một thành trì chống lại chủ nghĩa cộng sản ở châu Âu.
Sau Thế chiến II, các đồng minh tư bản phương Tây đã làm rất ít để tận diệt chủ nghĩa phát xít ở Ý hay Đức, ngoại trừ việc đưa một vài kẻ lãnh đạo sừng sỏ ra xét xử tại Nuremberg. Đến năm 1947, phe bảo thủ Đức bắt đầu mô tả các công tố viên tại tòa án Nuremberg như những kẻ bị lừa phỉnh bởi người Do Thái và những người cộng sản. Ở Ý, phong trào du kích mạnh mẽ từng tiến hành cuộc đấu tranh vũ trang chống lại chủ nghĩa phát xít đã sớm bị đối xử như những thành phần đáng nghi và phản quốc. Chỉ trong vòng một năm hậu chiến, hầu hết tất cả các phần tử phát xít Ý đều được thả tự do khỏi nhà tù, trong khi hàng trăm người cộng sản và các du kích cánh tả khác—những người từng chiến đấu chống lại sự chiếm đóng của Quốc xã—lại bị tống giam. Lịch sử đã bị lật ngược hoàn toàn, biến những kẻ Áo đen thành nạn nhân và biến phe Đỏ thành tội phạm. Các nhà chức trách Đồng minh đã tiếp tay cho những biện pháp này.
Dưới sự bảo hộ của các nhà chức trách chiếm đóng Mỹ, các cơ quan cảnh sát, tòa án, quân đội, an ninh và bộ máy quan liêu về cơ bản vẫn được vận hành bởi chính những kẻ từng phục vụ cho các chế độ phát xít trước đây hoặc bởi những kẻ kế thừa về mặt tư tưởng—điều này vẫn đúng cho đến tận ngày nay. Những kẻ thủ ác của thảm họa Holocaust đã tàn sát sáu triệu người Do Thái, nửa triệu người Di-gan, hàng ngàn người đồng tính, vài triệu người Ukraine, người Nga, người Ba Lan cùng những người khác, nhưng chúng đã trốn thoát trót lọt—phần lớn là vì chính những kẻ có nhiệm vụ điều tra các tội ác này lại là những kẻ đồng lõa.
Để so sánh, khi những người Cộng sản tiếp quản Đông Đức, họ đã bãi nhiệm khoảng 80% số thẩm phán, giáo viên và quan chức vì hành vi cộng tác với phát xít; họ bỏ tù hàng ngàn kẻ và xử tử 600 thủ lĩnh đảng Quốc xã vì các tội ác chiến tranh. Họ đáng lẽ đã bắn bỏ nhiều tội phạm chiến tranh hơn nữa nếu như không có quá nhiều kẻ trong số đó kịp chạy trốn vào vòng tay bảo bọc của phương Tây.
Điều gì đã xảy ra với các doanh nghiệp Mỹ từng cộng tác với chủ nghĩa phát xít? Ngân hàng Quốc gia Chase của gia tộc Rockefeller đã sử dụng văn phòng tại Paris thuộc chính quyền Vichy Pháp để giúp rửa tiền cho Đức nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại quốc tế của Đức Quốc xã trong suốt cuộc chiến, và họ đã làm điều đó mà hoàn toàn không bị trừng phạt. Các tập đoàn như DuPont, Ford, General Motors và ITT sở hữu các nhà máy ở các quốc gia thù địch, nơi sản xuất nhiên liệu, xe tăng và máy bay—những thứ đã gây ra sự tàn phá khủng khiếp cho các lực lượng Đồng minh. Sau chiến tranh, thay vì bị truy tố vì tội phản quốc, tập đoàn ITT đã thu về 27 triệu đô-la từ chính phủ Mỹ cho những thiệt hại chiến tranh gây ra đối với các nhà máy của họ ở Đức bởi các đợt ném bom của Đồng minh. General Motors thì thu về hơn 33 triệu đô-la. Các phi công thậm chí còn nhận được hướng dẫn không được đánh bom vào các nhà máy ở Đức thuộc sở hữu của các công ty Mỹ. Do đó, trong khi thành phố Cologne gần như bị san phẳng bởi các đợt ném bom của Đồng minh, thì nhà máy Ford ở đây—nơi cung cấp thiết bị quân sự cho quân đội Quốc xã—lại không hề bị tổn hại; thậm chí, thường dân Đức còn bắt đầu sử dụng nhà máy này làm nơi trú ẩn phòng không.
Trong nhiều thập kỷ, các nhà lãnh đạo Mỹ đã góp phần vào việc nuôi sống chủ nghĩa phát xít Ý. Từ năm 1945 đến 1975, các cơ quan chính phủ Mỹ đã chi trả một khoản ước tính khoảng 75 triệu đô-la cho các tổ chức cánh hữu ở Ý, bao gồm cả một số tổ chức có mối quan hệ chặt chẽ với Phong trào Xã hội Ý (MSI) tân phát xít. Vào năm 1975, Ngoại trưởng Hoa Kỳ lúc bấy giờ là Henry Kissinger đã gặp thủ lĩnh MSI Giorgio Almirante tại Washington để thảo luận về những “giải pháp thay thế” nào có thể được xem xét nếu những người Cộng sản Ý giành chiến thắng trong các cuộc bầu cử và nắm quyền kiểm soát chính phủ.
Hàng trăm tội phạm chiến tranh Đức Quốc xã đã tìm thấy một nơi trú ẩn an toàn tại Hoa Kỳ, hoặc là sống trong sự ẩn danh thoải mái, hoặc là được tuyển dụng tích cực bởi các cơ quan tình báo Mỹ trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh và được hưởng sự bảo vệ của những cá nhân có địa vị cao. Một vài kẻ trong số đó thậm chí còn tìm được đường vào các ủy ban chiến dịch tranh cử tổng thống thuộc Đảng Cộng hòa của Richard Nixon, Ronald Reagan và George Bush.
Tại Ý, từ năm 1969 đến 1974, các thành phần cấp cao trong cơ quan tình báo quân sự và tình báo dân sự Ý; các thành viên của P2—một hội kín gồm những kẻ phản động thuộc tầng lớp thượng lưu, các quan chức tòa thánh Vatican thân phát xít và giới chóp bu quân đội; cùng với GLADIO—một lực lượng lính đánh thuê chống cộng chịu ảnh hưởng từ NATO, đã dấn thân vào một chiến dịch khủng bố và phá hoại có phối hợp được biết đến với cái tên “Chiến lược căng thẳng”. Các thành phần tham gia khác bao gồm một nhóm tân phát xít bí mật mang tên Ordine Nuovo (Trật tự Mới), các quan chức NATO, các thành viên của lực lượng hiến binh carabinieri, các ông trùm mafia, 30 tướng lĩnh, 8 đô đốc, và những hội viên Tam điểm có tầm ảnh hưởng như Licio Gelli (một tội phạm chiến tranh phát xít được tình báo Mỹ tuyển dụng vào năm 1944). Hoạt động khủng bố này đã được tiếp tay và dung túng bởi “bộ máy an ninh quốc tế”, bao gồm cả CIA. Vào năm 1995, CIA đã từ chối hợp tác với một ủy ban nghị viện Ý đang điều tra về chiến lược căng thẳng (theo báo Corriere della Sera, số ra ngày 12/4/1995 và 29/5/1995).
Những kẻ chủ mưu khủng bố đã thực hiện một loạt vụ bắt cóc, ám sát và các cuộc thảm sát bằng bom (i stragi), bao gồm cả vụ nổ lớn cướp đi sinh mạng của 85 người và làm bị thương khoảng 200 người, trong đó có nhiều người bị thương nặng, tại ga tàu Bologna vào tháng 8 năm 1980. Như các cuộc điều tra tư pháp sau đó đã kết luận, chiến lược căng thẳng không đơn thuần là sản phẩm tự thân của chủ nghĩa tân phát xít, mà là hệ quả của một chiến dịch quy mô lớn hơn do các lực lượng an ninh nhà nước tiến hành nhằm chống lại sự phổ biến ngày càng tăng của phe Cánh tả dân chủ nghị trường. Mục tiêu của chiến dịch là “bằng mọi biện pháp cần thiết để chống lại những thắng lợi bầu cử của Đảng Cộng sản Ý”, đồng thời gieo rắc đủ nỗi sợ hãi và khủng bố trong nhân dân nhằm hủy hoại nền dân chủ xã hội đa đảng và thay thế nó bằng một “nền cộng hòa tổng thống” mang tính độc tài, hoặc trong bất kỳ trường hợp nào, là “một nhánh hành pháp mạnh mẽ và ổn định hơn”. (Theo báo La Repubblica, số ra ngày 9/4/1995; Corriere della Sera, các số ra ngày 27/3/1995, 28/3/1995, và 29/5/1995).
Vào thập niên 1980, hàng chục người đã bị sát hại ở Đức, Bỉ và nhiều nơi khác tại Tây Âu bởi những kẻ cực đoan cánh hữu phục vụ cho các cơ quan an ninh nhà nước (theo tạp chí Z Magazine, số tháng 3/1990). Những hành vi khủng bố này phần lớn đều không được truyền thông thuộc sở hữu của các tập đoàn Mỹ đưa tin. Tương tự như chiến lược căng thẳng trước đó ở Ý, các cuộc tấn công này được thiết kế để tạo ra đủ nỗi sợ hãi và sự bất ổn trong quần chúng nhằm lung lay các nền dân chủ xã hội hiện hành.
Chính quyền ở các quốc gia Tây Âu này và Hoa Kỳ đã làm rất ít để vạch trần các mạng lưới tân phát xít. Khi những làn gió thoảng của chủ nghĩa phát xít đã biến thành một thứ mùi hôi thối không thể phủ nhận, chúng ta được nhắc nhở rằng hậu duệ của Hitler vẫn đang ở quanh đây, và chúng có những mối liên hệ nguy hiểm với nhau cũng như ngay trong lòng các cơ quan an ninh của các quốc gia tư bản phương Tây.
Tại Ý, vào năm 1994, liên minh chiến thắng trong cuộc tổng tuyển cử quốc gia bao gồm Liên minh Quốc gia (một phiên bản mở rộng của đảng MSI tân phát xít), liên minh với một liên đoàn các thế lực ly khai miền Bắc, và đảng Forza Italia (Tiến lên nước Ý)—một phong trào mang khuynh hướng phát xít do nhà công nghiệp kiêm ông trùm truyền thông Silvio Berlusconi đứng đầu. Liên minh Quốc gia đã lợi dụng những nỗi bất bình về tình trạng thất nghiệp, thuế má và nhập cư. Nó kêu gọi áp dụng một mức thuế suất đồng đều cho cả người giàu lẫn người nghèo, phát hành phiếu học phí (school vouchers), tước đoạt các phúc lợi xã hội và tư nhân hóa hầu hết các dịch vụ công.
Các phần tử tân phát xít Ý đã học hỏi từ những kẻ phản động Mỹ cái cách để đạt được các mục tiêu giai cấp của chủ nghĩa phát xít ngay trong khuôn khổ của các hình thức nửa dân chủ: sử dụng một sự lạc quan tươi vui kiểu Reagan (Reaganesque); thay thế những kẻ quân phiệt đi giày đinh bằng những nhân vật mua vui cho đám đông được truyền thông thổi phồng; thuyết phục người dân rằng chính phủ chính là kẻ thù—đặc biệt là lĩnh vực dịch vụ xã hội—trong khi vẫn âm thầm củng cố các năng lực đàn áp của nhà nước; kích động sự thù địch phân biệt chủng tộc và những mâu thuẫn giữa cư dân bản địa với người nhập cư; rao giảng về những đức tính huyền thoại của thị trường tự do; và thực thi các biện pháp thuế cùng chi tiêu nhằm tái phân phối thu nhập ngược lên thượng tầng.