Sự hợp tác giữa Hồ Chí Minh với các cơ quan tình báo Mỹ và quá trình hình thành quan hệ Xô - Việt

Tiến sĩ Lịch sử Zusmanovich

Giảng viên Khoa Nhân văn, Đại học Tài chính và Luật Moscow 

(Lưu ý: tài liệu tham khảo phản ánh quan điểm của các sử gia tư sản Nga hiện đại, không phản ánh toàn bộ sự thật)

Tóm tắt: Bài viết xem xét các khía cạnh ít được biết đến trong quan hệ Xô - Việt và tiểu sử của Hồ Chí Minh. Đối tượng nghiên cứu là đường lối đối ngoại của giới lãnh đạo quân sự - chính trị nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) trong giai đoạn 1945–1950. Sau Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh và các cộng sự lên nắm quyền tại Việt Nam. Việc lựa chọn đường lối đối ngoại không hề đơn giản đối với giới lãnh đạo Việt Nam như cách mà sử học Liên Xô từng khẳng định. Thông qua các nguồn tài liệu mới, chẳng hạn như "Tài liệu Lầu Năm Góc", tài liệu từ kho lưu trữ của CIA cũng như các kho lưu trữ trong nước, đã có thể nghiên cứu quá trình hình thành đường lối đối ngoại của VNDCCH và quá trình chọn lựa đồng minh của nhà nước này. Tác giả dành sự chú ý đáng kể cho sự hợp tác của Hồ Chí Minh với các đặc vụ tình báo Mỹ như một tình tiết ít được biết đến, đặc biệt là trong sử học nội địa. Trong quá trình nghiên cứu chủ đề này, tác giả đã sử dụng phương pháp lịch sử - di truyền, nguyên tắc lịch sử và khách quan. Ngoài các nguyên tắc nêu trên, cách tiếp cận từ vị thế của chủ nghĩa hiện thực chính trị Hans Morgenthau và chủ nghĩa hiện thực mới của Kenneth Waltz cũng được áp dụng. Việt Nam, giống như bất kỳ quốc gia nào khác, đã tìm cách thực hiện các lợi ích quốc gia của mình, nhưng trong điều kiện bắt đầu Chiến tranh Lạnh và sự hình thành của "thế giới lưỡng cực", nỗ lực này phụ thuộc vào toàn bộ cấu trúc cán cân quyền lực toàn cầu. Sau khi phân tích một khối lượng nguồn tài liệu mới, tác giả đi đến kết luận rằng trong những điều kiện nhất định, Việt Nam có thể đã đi theo con đường phát triển tư bản chủ nghĩa, trở thành một quốc gia trung lập hoặc thậm chí là đồng minh của Hoa Kỳ.

Từ khóa: quan hệ Xô - Việt, Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, OSS, Hồ Chí Minh, Cách mạng Tháng Tám, "Tài liệu Lầu Năm Góc", Việt Minh, H. Truman, Quốc tế Cộng sản, Đông Nam Á.

Trong thế kỷ XX, khu vực Đông Nam Á sẽ đi vào lịch sử như một đối tượng tranh giành của các cường quốc lớn. Cuộc đối đầu nổi tiếng nhất chính là Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, một trong những cuộc xung đột lớn nhất trong lịch sử nhân loại và là cuộc chiến thua trận đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ. Tuy nhiên, nguồn gốc của cuộc đối đầu này bắt nguồn từ thời điểm kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai. Rất thường xuyên, cuộc xung đột Việt Nam được so sánh với một ngôi nhà mà phần móng được xây dựng bởi chính quyền của H. Truman và D. Eisenhower, tầng một bởi Tổng thống J. Kennedy, và phần còn lại của cấu trúc này được hoàn thiện bởi L. Johnson và R. Nixon. Do đó, việc phân tích các sự kiện đầu Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1946–1954) là điều kiện cần thiết để hiểu về cuộc khủng hoảng sau đó đã hình thành trên trường quốc tế. Trong thế kỷ XXI, các cuộc xung đột cục bộ là một phần không thể tách rời của quan hệ quốc tế, số lượng các điểm nóng ngày càng tăng theo từng năm. Nghiên cứu sự hình thành của một hiện tượng quan trọng như cuộc xung đột Việt Nam sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về các sự kiện đang diễn ra xung quanh đất nước chúng ta ngày nay.

Trong sử học Liên Xô, chủ đề này không nhận được sự chú ý đáng kể. Nếu các nhà sử học có đề cập đến vấn đề liên quan đến việc hình thành quan hệ Xô - Việt, họ thường viết theo đường lối tư tưởng chính thống, né tránh các sự kiện và thực tế không thuận lợi. Trong sử học Nga hiện đại, các nhà sử học như I. V. Bukharkin, A. A. Sokolov, I. A. Ognetov, I. A. Konoreva, I. N. Selivanov đã đóng góp đáng kể vào việc nghiên cứu chủ đề này [1; 2; 3; 4; 5]. Theo các nhà nghiên cứu nêu trên, chủ đề hình thành quan hệ Xô - Việt vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Trong những năm gần đây, một số lượng lớn các nguồn tư liệu mới đã xuất hiện ở cả nước ngoài và trong các kho lưu trữ nội địa. Năm 2011, "Tài liệu Lầu Năm Góc" đã được giải mật hoàn toàn. Các tài liệu quan trọng về chủ đề này đã trở nên khả dụng trong kho lưu trữ của CIA. Ngày càng nhiều nguồn tư liệu trở nên khả dụng cho các nhà nghiên cứu trong kho lưu trữ RGASPI và AVP RF. Điều này, đến lượt nó, cho phép mở rộng đáng kể kiến thức của chúng ta về vấn đề này.

Lịch sử Việt Nam gắn liền không thể tách rời với tên tuổi Hồ Chí Minh. Vào tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh và các cộng sự đã chiếm được chính quyền ở Việt Nam, đánh bại những kẻ chiếm đóng Nhật Bản trong Cách mạng Tháng Tám. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được tuyên bố. Liên Xô chỉ đồng ý công nhận VNDCCH vào ngày 30 tháng 1 năm 1950 [6, tr. 8]. Như vậy, đã mất hơn 5 năm để chỉ mới thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức. Trong sử học Liên Xô, thời kỳ hình thành quan hệ Xô - Việt được xem xét thuần túy như một quá trình không gặp bất kỳ rào cản và khó khăn nào [7; 8]. Trong sử học nước ngoài, các tác giả tiếp cận vấn đề này một cách phê phán hơn, khẳng định rằng trong những năm 1945–1946, Hồ Chí Minh đã do dự trong việc lựa chọn hướng đi đối ngoại và bày tỏ sự cảm tình lúc thì với Hoa Kỳ, lúc thì với Pháp [9; 10; 11]. Sự hợp tác của Hồ Chí Minh với OSS (Cơ quan Tình báo Chiến lược – D. Z.) là một tình tiết ít được biết đến, đặc biệt là trong sử học nội địa. Trong lịch sử quan hệ Xô - Việt, theo quy tắc, tên tuổi Hồ Chí Minh gắn liền với hình ảnh một người bạn trung thành của Liên Xô, một người kế tục và học trò của V. I. Lenin, người mà trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không thể là đồng minh của Hoa Kỳ. Quan điểm này hiện diện trong hầu hết các cuốn sách về Việt Nam, vì phần lớn tài liệu được viết từ thời Liên Xô. Trong cuốn sách "Người Mỹ ở Đông Dương" của Yu. Ya. Mikheev, sự hợp tác của Hồ Chí Minh với tình báo Mỹ được mô tả như sau: "Để lôi kéo các nhà lãnh đạo VNDCCH hợp tác với Mỹ, các đặc sứ Mỹ đã được cử đến Hà Nội, cụ thể là Tướng Gallagher, Thiếu tá Patti, v.v. Người Mỹ đề nghị các nhà lãnh đạo VNDCCH sự 'giúp đỡ' kinh tế, kèm theo những điều khoản sẽ đặt Việt Nam vào sự phụ thuộc hoàn toàn vào Mỹ" [12, tr. 15]. Giới lãnh đạo Việt Nam đã kiên quyết từ chối những đề nghị như vậy từ phía Mỹ [12, tr. 15]. Trong cuốn sách "Con đường tới thắng lợi" của S. I. Divilkovsky và I. A. Ognetov, tình tiết này được trình bày theo cách tương tự: "...ngày 22 tháng 8 năm 1945, tại Hà Nội... một nhóm chuyên gia Mỹ thuộc Cục Dịch vụ Chiến lược (tình báo chiến lược) do Thiếu tá A. Patti dẫn đầu đã đến, người đã nói thẳng thừng rằng Mỹ sẵn sàng ủng hộ nền độc lập của VNDCCH để đổi lấy việc dành cho tư bản Mỹ những ưu thế quyết định tại Việt Nam. Các nhà lãnh đạo VNDCCH đã từ chối sự giúp đỡ như vậy của Washington, họ đánh giá đúng đắn đó là một nỗ lực áp đặt chủ nghĩa thực dân mới kiểu Mỹ lên nhân dân Việt Nam, thay thế cho chủ nghĩa thực dân của Pháp" [13, tr. 10]. Tuy nhiên, tình hình thực tế có chút khác biệt.

Việc bắt đầu sự hợp tác giữa Việt Minh và OSS, theo "Tài liệu Lầu Năm Góc", có thể coi là năm 1944 [14, tr. 222], mặc dù tổ chức này đã nhận được sự hỗ trợ đầu tiên từ Mỹ từ năm 1943 [14, tr. 222]. Những liên lạc đầu tiên được thực hiện thông qua đại diện Mỹ tại thành phố Côn Minh ở phía tây nam Trung Quốc. Vào tháng 3 năm 1945, các đặc vụ đến Việt Nam, đóng quân tại Điện Biên Phủ [15, tr. 16]. Hoa Kỳ đã lợi dụng các chiến sĩ Việt Minh để chống lại quân đội Nhật. Theo các đặc vụ OSS, Hồ Chí Minh cư xử với người Mỹ rất thân thiện. Vào giữa tháng 7 năm 1945, giới lãnh đạo Việt Minh đã nỗ lực thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ thông qua đặc vụ OSS, Thiếu tá Thomas Allison. Hồ Chí Minh đã làm tất cả những gì có thể để Thiếu tá và người của ông cảm thấy thoải mái tại Việt Nam. Trong quá trình đàm phán, Hồ Chí Minh đã đề cập đến một loạt các vấn đề liên quan đến tương lai của đất nước. Ông đã đưa ra cho phía Mỹ các yêu cầu sau: tổ chức các cuộc bầu cử dân chủ tự do tại Việt Nam; tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam phải thuộc về nhân dân Việt Nam; vấn đề độc lập của Việt Nam phải được giải quyết tối đa trong vòng 10 năm sau khi chiến tranh kết thúc [9, tr. 300-301]. Tuy nhiên, không lâu sau, các cuộc đàm phán rơi vào bế tắc [15, tr. 16]. Vào thời điểm đó, người Mỹ biết khá ít về Việt Minh, sau Cách mạng Tháng Tám, các nhà phân tích và nhà ngoại giao Mỹ mới thực sự bắt tay vào vấn đề này. Trong khi đó, sự hợp tác với OSS vẫn tiếp tục. Ngày 26 tháng 8 năm 1945, trong cuộc gặp giữa Hồ Chí Minh và Thiếu tá A. Patti, các đại diện Mỹ đã lo ngại về câu hỏi liên quan đến quá khứ của Hồ Chí Minh. Năm 1923, Hồ Chí Minh lần đầu tiên thăm Liên Xô và ở lại đất nước này 18 tháng, làm việc tại bộ phận phương Đông của Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản [7, tr. 90]. Năm 1924, ông viết thư gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản với đề nghị cử ông đến Nam Trung Quốc, nơi trong Đại hội I của Đảng Quốc dân đảng, cánh tả cách mạng của đảng đã giành thắng lợi. Đề nghị của Hồ Chí Minh đã được chấp thuận, và ông lên đường sang Trung Quốc. Từ năm 1934 đến năm 1938, ông ở Liên Xô và được đào tạo thêm tại Trường Quốc tế Lenin, tại KUTV (Đại học Cộng sản những người lao động phương Đông mang tên I. V. Stalin – D.Z.) và tại Viện Nghiên cứu Khoa học về các vấn đề dân tộc thuộc địa [2, tr. 84]. Ông được coi là đặc vụ nòng cốt của Quốc tế Cộng sản. Ngày 6 tháng 6 năm 1938, ông gửi thư cho Quốc tế Cộng sản: "Hãy gửi tôi đến đâu đó. Hoặc để tôi ở lại đây. Hoặc giao cho tôi bất kỳ công việc nào mà các đồng chí cho là hữu ích. Tôi gửi đề nghị này cho các đồng chí vì tôi không thể sống một thời gian dài như vậy trong sự nhàn rỗi, sống như thể bên cạnh, nhưng tách rời khỏi đảng. Tôi sẽ rất biết ơn các đồng chí, các đồng chí thân mến, nếu cho phép tôi gặp mặt trực tiếp. Đã lâu rồi các đồng chí không gặp tôi. Tôi tin rằng như vậy sẽ tốt hơn" [2, tr. 84]. Vào tháng 10 năm 1938, Hồ Chí Minh rời Moscow. Mùa đông năm đó, ông đã có mặt tại Trung Quốc, nơi ông tiếp tục cuộc đấu tranh. Tiểu sử của nhà lãnh đạo Việt Nam không phải là bí mật đối với các đại diện Mỹ, vì vậy, khi chỉ ra việc ông ở Moscow và tham gia hoạt động của Quốc tế Cộng sản, các đặc vụ OSS đã đặt ông vào tình thế khá khó xử. Trước các sự kiện được nêu ra, Hồ Chí Minh trả lời rằng ông là một người xã hội - dân tộc tiến bộ và hợp tác với Liên Xô cùng các đảng viên cộng sản Trung Quốc vì khi đó không có lựa chọn thay thế nào khác [9, tr. 319]. Hồ Chí Minh đảm bảo với Thiếu tá A. Patti rằng Việt Minh hầu như không có gì chung với Đảng Cộng sản Đông Dương và ông sẵn sàng cung cấp các nhượng quyền thương mại có lợi cho tư bản Mỹ [9, tr. 331]. Ngày 30 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh gặp Thiếu tá A. Patti lần cuối cùng. Trong cuộc trò chuyện, Chủ tịch VNDCCH bày tỏ hy vọng vào sự hợp tác với Mỹ và nhắc lại Hội nghị Tehran và Potsdam, nơi đã thảo luận về các vấn đề quyền tự quyết của các dân tộc, cũng như sự giúp đỡ kinh tế mà Mỹ đã hứa. Thiếu tá A. Patti nói về thiện cảm cá nhân của mình đối với Hồ Chí Minh, nhưng chỉ ra thực tế rằng tại Nhà Trắng, họ coi ông là "con rối của Kremlin". Hồ Chí Minh trả lời rằng trong "những tháng gần đây, ông đã nhận được nhiều sự giúp đỡ từ Mỹ hơn nhiều so với từ Liên Xô. Làm sao ông có thể phụ thuộc vào Moscow?" [9, tr. 341-342]? Rất đáng quan tâm là hồi ký của đặc vụ OSS Charles Fenn. Sau một loạt các cuộc gặp với Hồ Chí Minh, ông đi đến kết luận rằng nhà lãnh đạo Việt Nam đã cố gắng hết sức để đạt được thiện cảm của Mỹ. Tuy nhiên, vẫn chưa rõ ràng "giới lãnh đạo Mỹ nhìn nhận ông là ai?" Cơ hội để kiểm tra xem liệu Hồ Chí Minh có thể trở thành đồng minh hay không đã bị bỏ lỡ [10, tr. 84]. Ở các tầng thấp hơn của tình báo Mỹ, Chủ tịch VNDCCH đã tạo ra ấn tượng tích cực nhất, nhưng lãnh đạo OSS lại giữ quan điểm khác. Trong bản ghi nhớ gửi Ngoại trưởng Mỹ James Byrnes, người đứng đầu OSS William Donovan đã viết về Việt Minh như một tổ chức "cộng sản một trăm phần trăm" [14, tr. 237]. Nhưng dù sao thì câu hỏi này vẫn chưa được giải quyết dứt điểm, phán quyết vẫn chưa được đưa ra.

Trong khi đó, cần xem xét tình hình chính trị và kinh tế của Việt Nam năm 1945. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, trong một khoảng thời gian ngắn, Việt Minh đã kiểm soát được gần như toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Ngay trong tháng 9 năm 1945, một đội quân Trung Quốc 200 nghìn người đã vượt biên giới vào Việt Nam. Nhiệm vụ chính thức của đội quân này là giải giáp quân đội Nhật. Đồng thời, ở phía nam vĩ tuyến 16, quân Anh cũng đã tiến vào, cũng với lý do giải giáp quân Nhật [4, tr. 46]. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, với sự hỗ trợ của quân đội Anh, chính quyền Pháp tại Sài Gòn đã thay thế chính quyền VNDCCH. Những hy vọng của Hồ Chí Minh vào sự giúp đỡ của Mỹ là có cơ sở. Trong Hội nghị Tehran, vấn đề khôi phục nước Pháp đã được đề cập. Vì Pháp là một đế quốc thuộc địa, cần phải thảo luận về số phận tương lai của các thuộc địa. F. D. Roosevelt tuyên bố rằng trong tương lai gần, nước Pháp sẽ lại trở thành một cường quốc. I. V. Stalin đã phát biểu về vấn đề này như sau: "... ông (I. V. Stalin – D.Z.) không thể hình dung rằng các đồng minh đổ máu để giải phóng Đông Dương, và để rồi sau đó Pháp nhận được Đông Dương nhằm khôi phục chế độ thuộc địa ở đó. Ông nghĩ rằng sau những gì người Nhật đã làm với ý tưởng độc lập ở Miến Điện và Thái Lan, cần phải suy nghĩ về việc làm thế nào để thay thế chế độ thuộc địa cũ bằng một chế độ tự do hơn". F. D. Roosevelt trả lời rằng "...đồng ý với điều này 100 phần trăm. Ông rất vui mừng khi biết rằng Tưởng Giới Thạch không muốn Đông Dương. Người Pháp đã làm chủ ở Đông Dương 100 năm, và phúc lợi của nhân dân hiện nay ở đó thấp hơn 100 năm trước. Tưởng Giới Thạch nói rằng nhân dân Đông Dương chưa sẵn sàng để tự quản. ...trên Đông Dương có thể bổ nhiệm 3-4 người giám hộ và trong 30-40 năm chuẩn bị cho nhân dân Đông Dương tự quản. Ông, Roosevelt, tin rằng tình trạng tương tự cũng đúng đối với các thuộc địa khác" [16, tr. 20-26]. Tại Hội nghị Yalta, vấn đề Đông Dương lại một lần nữa được đề cập. F. D. Roosevelt vẫn cho rằng khu vực này nên được đặt dưới sự kiểm soát quốc tế. Trong việc chuẩn bị Đông Dương cho sự tự quản, cần có sự tham gia của: Mỹ, Trung Quốc, Liên Xô, Pháp, Philippines và các đại diện được chọn từ Đông Dương [17, tr. 11]. Như nhà sử học Mỹ nổi tiếng A. Schlesinger đã lưu ý: "Than ôi, ý tưởng này đã chết cùng với ông ấy chỉ vài tháng sau đó" [17, tr. 11].

Từ lâu trước cuộc gặp đầu tiên của bộ ba lãnh đạo, giới lãnh đạo Mỹ đã tìm cách phá vỡ các đế quốc thuộc địa. Tháng 8 năm 1941, trong cuộc gặp giữa U. Churchill và F. D. Roosevelt, Tổng thống Mỹ đã đặt vấn đề về "tiếp cận bình đẳng vào các thị trường", yêu cầu ghi nhận điều khoản này trong các tuyên bố về mục tiêu chiến tranh [18, tr. 124]. U. Churchill đã phải đồng ý với yêu cầu như vậy do tình thế khó khăn của Anh vào năm 1941. Đến cuối chiến tranh, khát vọng của Mỹ muốn phá vỡ các đế quốc thuộc địa càng tăng lên. Năm 1945, tổng sản phẩm quốc nội của đất nước trong những năm chiến tranh đã tăng gấp đôi và chiếm tới 60% GDP toàn cầu, Hoa Kỳ chiếm khoảng 80% trữ lượng vàng [19, tr. 289]. Hoa Kỳ trong cuộc đối đầu kinh tế có thể dễ dàng đánh bại bất kỳ đối thủ nào. Việc áp đặt chế độ thương mại tự do trong các thuộc địa, dù là của Anh hay Pháp, sẽ tự động triệt tiêu hệ thống thuộc địa. Nhà lý luận nổi tiếng về quan hệ quốc tế của Mỹ Walter Russell Mead đã mô tả các mục tiêu của Mỹ sau Chiến tranh thế giới thứ hai như sau: "Sự chuyển dịch sang thương mại tự do và phát triển các hệ thống lập pháp và chính trị quốc tế, kèm theo sự mở rộng hội nhập vào nền kinh tế thế giới – đây là một trong những thắng lợi to lớn nhất (và hơn nữa là bất ngờ) của chính sách đối ngoại Mỹ trong nửa sau thế kỷ hai mươi. Đằng sau tất cả các hoạt động này là ý chí của người Mỹ muốn mở cửa thị trường của mình, thậm chí trên cơ sở không tương hỗ, đối với hàng xuất khẩu từ châu Âu, Nhật Bản và các nước thế giới thứ ba. Chính sách này, là một phần không thể tách rời của chiến lược lớn chung nhằm ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản, trong đó bao gồm việc xây dựng một thế giới không cộng sản thịnh vượng và thống nhất, đã giúp củng cố sự ủng hộ toàn diện đối với hệ thống Mỹ" [20, tr. 34]. Sau cái chết của F. D. Roosevelt và với sự xuất hiện trên đỉnh cao chính trị của Tổng thống H. Truman, một xu hướng làm nguội lạnh đáng kể trong quan hệ Xô - Mỹ đã xuất hiện ngay cả trước khi Hội nghị Potsdam bắt đầu [21, tr. 120-145]. Trong những điều kiện mới, chính sách của Mỹ đối với Đông Dương cũng đã thay đổi. Ngày 22 tháng 6 năm 1945, Bộ Ngoại giao Mỹ đã công bố tuyên bố sau: "Hoa Kỳ công nhận chủ quyền của Pháp tại Đông Dương, tuy nhiên, mục tiêu chính của chính sách Mỹ nằm ở chỗ cho phép các dân tộc rơi vào sự phụ thuộc thuộc địa tự chuẩn bị để tăng vai trò của họ trong việc quản lý nhà nước với mục tiêu trong tương lai đạt được nền độc lập hoàn toàn" [22, tr. 72]. Trên thực tế, chỉ câu đầu tiên là hoàn toàn đáp ứng thực tế, câu thứ hai – phần nhiều sẽ là tuyên truyền. Hơn nữa, ở hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Mỹ là các vấn đề châu Âu, còn các vấn đề của Đông Dương là thứ yếu. Trong điều kiện xấu đi của quan hệ với Liên Xô, giới lãnh đạo quân sự - chính trị Mỹ cần phải nhượng bộ các đồng minh. Một trong những sự nhượng bộ như vậy đối với Pháp chính là Đông Dương [23, tr. 12-13].

Bất chấp các hành động của giới lãnh đạo Mỹ, Hồ Chí Minh vẫn nhìn thấy cơ hội chính nhờ Hoa Kỳ để tránh việc khôi phục đế quốc thuộc địa Pháp tại Đông Dương và nhận được nền độc lập mong đợi từ tay Hoa Kỳ, để đổi lại hứa hẹn dành những ưu đãi kinh tế cho tư bản Mỹ và lòng trung thành chính trị đối với Nhà Trắng. Sau khi Sài Gòn được trả lại cho Pháp với sự hỗ trợ của quân đoàn viễn chinh Anh, các cuộc đàm phán về số phận tương lai của Việt Nam đã bắt đầu. Vì Việt Minh về bản chất là một tổ chức quân sự có khả năng tiếp tục cuộc đấu tranh cho độc lập, Pháp buộc phải từ bỏ phương án giải quyết vấn đề bằng vũ lực, ít nhất là ngay lập tức. Và các bên tiến hành đàm phán. Ngày 6 tháng 3 năm 1946, tại Hà Nội, Hiệp định Sơ bộ và Bản Thỏa thuận bổ sung giữa VNDCCH và Pháp đã được ký kết. Theo các tài liệu này, Pháp công nhận VNDCCH là một quốc gia tự do trong khối Liên hiệp Pháp. Ngày 6 tháng 7 năm 1946, các cuộc đàm phán chính thức giữa VNDCCH và Pháp đã bắt đầu tại Fontainebleau, kết thúc bằng việc ký kết một thỏa thuận tạm thời (modus vivendi) [4, tr. 47] và đáng lẽ phải tiếp tục vào năm 1947. Nhưng vào cuối năm 1946, một loạt các sự kiện xảy ra đã gây ra cuộc xung đột giữa quân đội Pháp và các chiến sĩ Việt Minh. Cuối tháng 11 – đầu tháng 12 năm 1946, các hoạt động quân sự tích cực đã bắt đầu tại Việt Nam. Sự hợp tác với các đặc vụ OSS đã kết thúc vào tháng 9 năm 1945. Tuy nhiên, trong quá trình đàm phán với Pháp, Hồ Chí Minh đã nối lại các nỗ lực kêu gọi sự giúp đỡ từ phía Mỹ. Trong bức thư gửi Ngoại trưởng Mỹ James Byrnes ngày 11 tháng 9 năm 1946, Đại sứ Mỹ tại Pháp Jefferson Caffery thông báo rằng ông đã có vinh dự gặp Hồ Chí Minh, và Chủ tịch VNDCCH nói rằng các cuộc đàm phán với Pháp đã đi vào bế tắc. Ông hy vọng tranh thủ sự giúp đỡ của Mỹ vì ông dự định đạt được nền độc lập cho tất cả các phần của Việt Nam trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp. Nhân dịp này, ông thông báo rằng ông không phải là cộng sản và ở cuối cuộc trò chuyện đã nói rõ rằng ông muốn Mỹ can thiệp vào cuộc đàm phán, và ông có thể sử dụng điều này cho các mục đích của mình. Đại sứ Mỹ không đưa ra bất kỳ câu trả lời cụ thể nào cho các đề nghị của Chủ tịch VNDCCH [24]. Ngày 11 tháng 9 năm 1946, tại Đại sứ quán Mỹ ở Paris đã diễn ra một cuộc gặp nữa giữa Hồ Chí Minh với nhà ngoại giao Mỹ George M. Abbott, trong đó một lần nữa câu chuyện lại xoay quanh tiểu sử của nhà lãnh đạo Việt Nam và mối quan hệ với Kremlin. Hồ Chí Minh phủ nhận bất kỳ mối liên hệ nào với chủ nghĩa cộng sản vào thời điểm hiện tại. Đồng thời, ông thông báo về mối lo ngại của mình đối với các vấn đề liên quan đến Nam Kỳ (phần đông nam Việt Nam – D. Z.) [14, tr. 274-275]. Pháp từ chối áp dụng các quyền tự do dân chủ tại lãnh thổ này và không chấp nhận chính quyền VNDCCH lãnh đạo vùng lãnh thổ đó. Tất nhiên, Hồ Chí Minh không hài lòng với tình trạng Việt Nam bị chia cắt thành nhiều phần. Chủ tịch VNDCCH nói rằng ông hy vọng nhận được sự giúp đỡ kinh tế từ Mỹ, và sẽ không dừng cuộc đấu tranh chống lại khát vọng của Pháp trong việc thực hiện chính sách độc quyền kinh tế trên lãnh thổ Việt Nam (rất có thể, ý nói là các hành động của Ngân hàng Đông Dương, vốn có độc quyền ngoại thương tại Việt Nam trước Chiến tranh thế giới thứ hai – D. Z.). Ngoài ra, Hồ Chí Minh bày tỏ đồng ý dành cho Pháp các nhượng quyền, và ưu tiên khi mua sắm máy móc thiết bị sẽ dành cho hàng hóa Pháp. Nhưng nếu Pháp không đáp ứng các nhu cầu của Việt Nam, ông giữ quyền được giao thương với các quốc gia hữu nghị khác [14, tr. 274-275].

Bên cạnh các cuộc gặp gỡ cá nhân giữa Hồ Chí Minh và các nhà ngoại giao Mỹ, một nỗ lực nhằm thiết lập liên lạc thông qua thư từ cũng đã được thực hiện. Ngày 17 tháng 10 năm 1945, Hồ Chí Minh đã gửi một bức thông điệp tới Tổng thống H. Truman. Nhà lãnh đạo Việt Nam đã chỉ ra tính không thể chấp nhận được của việc khôi phục sự cai trị của Pháp tại Đông Dương và yêu cầu giải quyết vấn đề Việt Nam tại Liên Hợp Quốc. Lãnh đạo Việt Nam không nhận được hồi âm cho bức thư này [25, tr. 47-48]. Bức thông điệp thứ hai từ Hồ Chí Minh được gửi cho Ngoại trưởng Mỹ J. Byrnes vào ngày 22 tháng 10 năm 1945. Khác với bức thư gửi Tổng thống H. Truman, nó không được công bố trong "Tài liệu Lầu Năm Góc" được ra mắt năm 1971, và vì lý do đó nên nó mang một sự quan tâm đặc biệt. "Tình hình ở Nam Bộ đã đạt đến mốc tới hạn và đòi hỏi sự can thiệp ngay lập tức từ phía Hoa Kỳ. Tôi hy vọng thông qua bức thư này có thể truyền đạt tới ngài Bộ trưởng những thông tin quan trọng liên quan đến những gì đã xảy ra ở Việt Nam trong ba tuần qua dưới ánh sáng của các sự kiện chính sách đối ngoại. Trước hết, tôi nài xin ngài gửi tới chính phủ của mình một loạt tài liệu, trong số đó có Tuyên ngôn Độc lập của chúng tôi, chiếu chỉ hoàng gia của cựu hoàng đế Bảo Đại về lý do thoái vị của ông, tuyên bố của chính phủ chúng tôi liên quan đến chính sách đối ngoại và công hàm của chúng tôi làm sáng tỏ lập tức về sự cố ở Nam Bộ" [14, tr. 251]. Tiếp đó, Chủ tịch nước VNDCCH đã nhắc lại sự hợp tác với Hoa Kỳ trong cuộc chiến chống Nhật và viện dẫn các điều khoản của Hiến pháp Đại Tây Dương, bày tỏ sự khó hiểu tại sao các điểm của tài liệu này lại không áp dụng đối với Việt Nam. Ngoài Hiến pháp Đại Tây Dương, trong nội dung bức thư còn đề cập đến hội nghị ở San Francisco, nơi những hiện tượng như chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc đã bị lên án [14, tr. 251-252]. Cuối thư, Hồ Chí Minh nhắc lại: "Vào thời điểm hiện tại, tình hình ở Nam Bộ đòi hỏi sự can thiệp ngay lập tức" [14, tr. 251-252].

Bên cạnh những thông điệp gửi tới Tổng thống và Ngoại trưởng Hoa Kỳ, sự tương tác với các cơ quan tình báo Mỹ và các cuộc gặp gỡ với các nhà ngoại giao Mỹ, cần phải lưu ý thêm một vài chi tiết quan trọng nữa. Năm 1941, tổ chức Việt Minh được thành lập, với mục tiêu chính là giải phóng Việt Nam khỏi ách chiếm đóng của Nhật và Pháp. Tổ chức này không thuần túy là cộng sản, mà bao gồm tất cả các lực lượng chính trị sẵn sàng đấu tranh vì độc lập. Sự kiện này được một số nhà nghiên cứu giải thích như sự rời xa của Hồ Chí Minh và các cộng sự đối với Moscow [10, tr. 68]. Vấn đề nằm ở chỗ ngay trong bản tuyên ngôn của tổ chức Việt Minh có chứa những lời kêu gọi trực tiếp tới Mỹ để xin giúp đỡ. "Toàn thể nhân dân Đông Dương... xin các cường quốc lớn và đặc biệt là Hoa Kỳ ủng hộ phong trào của chúng tôi... Họ nài xin (các thành viên Việt Minh – D. Z.) Hoa Kỳ tham gia vào cuộc đấu tranh và cung cấp sự hỗ trợ trong việc đối mặt với chủ nghĩa phát xít Nhật và cung cấp cho họ các phương tiện sau: vũ khí, cố vấn và huấn luyện viên [26, tr. 22]. Năm 1945, Hồ Chí Minh giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương, mặc dù cốt lõi của đảng, trên thực tế, cấu thành nên phần xương sống của Việt Minh [27, tr. 31]. Sau này các đối thủ chính trị sẽ đổ lỗi cho ông về bước đi này. Trong Tuyên ngôn Độc lập của VNDCCH, được thông qua vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, có những trích dẫn trực tiếp từ Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ và các câu trích từ văn bản đó. Khi Hồ Chí Minh thể hiện văn bản tài liệu cho Thiếu tá A. Patti, ông ấy đã bị sốc và thậm chí còn xác nhận lại "...Ông thực sự sử dụng chính xác văn bản này sao?" Mà Hồ Chí Minh với giọng điệu mỉa mai đã trả lời: "Thế tôi không nên làm vậy chắc?" [25, tr. 40]? Như vậy, Hồ Chí Minh đã làm mọi thứ có thể để thiết lập quan hệ với Hoa Kỳ và tránh cuộc đối đầu với Pháp. Tuy nhiên, những nỗ lực của ông đã trở nên vô ích.

Câu hỏi chính đặt ra trong chương trình nghị sự tại Nhà Trắng là: Hồ Chí Minh là ai? Một người theo chủ nghĩa dân tộc hay rốt cuộc là một người cộng sản? Liệu có thể tin tưởng những tuyên bố của ông ấy không? Trong sử học nước ngoài, các chuyên gia giải thích tình hình đã hình thành ở Việt Nam đến năm 1946 theo những cách khác nhau. Giáo sư D. Anderson trong công trình cơ bản của mình "Bẫy thành công" đã đi đến kết luận rằng sự tin chắc của lãnh đạo Mỹ về mối liên hệ của Hồ Chí Minh với Liên Xô, cũng như ý nghĩ rằng sau chiến thắng trước quân đội Pháp, Việt Nam chắc chắn sẽ trở thành một nhà nước cộng sản, dựa trên cơ sở niềm tin vào những tiền đề này trước hết, chứ không phải dựa trên các sự kiện [23, tr. 13]. Nhà nghiên cứu người Anh Ronald Irving, giống như phần lớn các nhà sử học trong sử học nước ngoài, cho rằng ngay khi Việt Minh thành công trong việc đánh bại nước Pháp, Hồ Chí Minh chắc chắn sẽ dẫn dắt Việt Nam theo con đường phát triển cộng sản [27, tr. 33]. Rất có thể chúng ta sẽ không bao giờ biết được câu hỏi này một cách dứt khoát. Có lẽ chúng ta có thể nói về một ngã rẽ lịch sử, khi Việt Nam dưới những hoàn cảnh nhất định có thể đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, trong trường hợp Hoa Kỳ đáp lại những yêu cầu của Hồ Chí Minh và tin tưởng vào các tuyên bố cũng như hành động của ông nhằm mục đích thiết lập mối quan hệ vững chắc với phương Tây. Đồng thời, cần phải theo dõi quá trình hình thành quan hệ Xô - Việt, điều này sẽ làm sáng tỏ những lý do khiến giới lãnh đạo quân sự - chính trị Việt Nam thực hiện những nỗ lực tuyệt vọng như vậy nhằm đạt được liên minh với Mỹ. Vì chúng ta có rất ít thông tin từ các kho lưu trữ trong nước về giai đoạn này, thông qua các nguồn tài liệu của Mỹ, người ta đã thành công trong việc bổ sung và mở rộng những quan niệm về các sự kiện lịch sử ít được biết đến này. Có thể dễ dàng theo dõi sự tương tác của Đảng Cộng sản Đông Dương với lãnh đạo Quốc tế Cộng sản trong nửa đầu những thập niên 1930. Thông tin về điều này có thể tìm thấy trong công trình của chuyên gia trong nước A. A. Sokolov và nhà sử học người Mỹ Giáo sư Douglas Pike [28; 2], cũng như trong kho lưu trữ RGASPI, nơi nhiều tài liệu hiện tại đang ở chế độ mở công khai [29]. Tuy nhiên, sau khi Hồ Chí Minh rời Moscow vào năm 1938, không có mối liên hệ nào với ông. Nhà sử học và nhà ngoại giao trong nước I. A. Ognetov khẳng định rằng các tài liệu cuối cùng mà Quốc tế Cộng sản nhận được từ Việt Nam được định ngày vào năm 1938 [30, tr. 137]. Giáo sư Douglas Pike cho rằng bất kỳ liên lạc nào cũng đã bị cắt đứt với Việt Minh sau khi giải tán Quốc tế Cộng sản vào năm 1943 [31, tr. 28-29]. Từ các tài liệu hiện đang có sẵn cho các nhà nghiên cứu, ngày nhận thông tin cuối cùng về tình hình trong Đảng Cộng sản Đông Dương là năm 1940 [32]. Dù thế nào đi chăng nữa, có thể nói một cách chắc chắn rằng sau năm 1943, Hồ Chí Minh đã hành động hoàn toàn độc lập. Sau Cách mạng Tháng Tám, bức điện đầu tiên do Hồ Chí Minh gửi tới I. V. Stalin được đề ngày 22 tháng 9 năm 1945. "Chúng tôi thông báo cho Ngài (Ý nói Nguyên thủ/Ngài Đại sứ tùy văn cảnh) rằng Chính phủ lâm thời nước Việt Nam đã được thành lập dưới sự chủ trì của Hồ Chí Minh (Trong bản gốc là Hochiminh – D. Z.). Hoàng đế Bảo Đại đã thoái vị vào ngày 25 tháng 8 và trao quyền lực cho Chính phủ mới, được toàn thể quốc gia ủng hộ. Trong khi đó, do việc phá vỡ hệ thống đê điều sông ngòi, một nửa vùng Bắc Kỳ đã bị ngập lụt, gây ra những thiệt hại to lớn, người dân bắt đầu chết đói. Chúng tôi kêu gọi sự giúp đỡ từ Ngài với bất kỳ sự trợ giúp nào có thể" [33, tr. 23-24]. Không có câu trả lời nào cho thông điệp này tiếp nối. Bức thông điệp thứ hai của Hồ Chí Minh gửi I. V. Stalin được đề ngày 21 tháng 10 năm 1945. Hồ Chí Minh đã thông báo về các vấn đề liên quan đến việc khôi phục các thuộc địa của Pháp và về sự sẵn sàng của nhân dân Việt Nam trong việc tiến hành cuộc đấu tranh vũ trang chống lại những kẻ chiếm đóng [33, tr. 25-26]. "Bức điện này đã chịu chung số phận với bức điện đầu tiên. Phó Dân ủy Ngoại giao Liên Xô G. V. Dekanosov đã chuyển tiếp nó cho Trưởng phòng 1 Khu vực Châu Âu thuộc bộ của ông là S. P. Kozyrev với một bút phê đầy khó hiểu: 'Phải làm gì với cái này?'. Vị quan chức thận trọng đã khuyên sếp của mình 'hãy để nó không có câu trả lời', và điều đó đã được thực hiện" [33, tr. 26].

Hồ Chí Minh là bí danh nổi tiếng nhất của nhà lãnh đạo Việt Nam, cho đến năm 1941, thế giới biết đến ông với tên gọi Nguyễn Ái Quốc. (Nhằm mục đích giữ bí mật, Hồ Chí Minh đã sử dụng hơn một trăm bí danh – D. Z.) Như I. A. Ognetov đã lưu ý, "... có thể khẳng định rằng ngay vào tháng 8 năm 1945 ở Moscow, người ta khó có thể hình dung Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc" [34, tr. 134]. Vào tháng 9 năm 1945, một bản lý lịch tóm tắt đã được lập ra về Hồ Chí Minh, trong đó chỉ ra các bí danh chính của ông và tiểu sử ngắn gọn [33, tr. 188]. Một năm sau, nhân viên trẻ tuổi của Bộ Ngoại giao S. A. Mkhitaryan (sau này là nhà sử học nghiên cứu về Việt Nam nổi tiếng – D. Z.) đã soạn thảo một bản thông tin ngắn về tổ chức quân sự - chính trị Việt Minh, đưa ra kết luận rằng tổ chức này hoàn toàn mang tính cộng sản và việc giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương được thực hiện vì các lý do chiến thuật [35, tờ 2 mặt sau]. Từ các tài liệu được trình bày, rõ ràng là giới lãnh đạo Xô Viết cần thời gian để phác họa ra dù chỉ là một bức tranh phỏng chừng về những gì đang diễn ra ở Đông Dương. Hơn nữa, họ càng cần thời gian để vạch ra một đường lối chính trị nhất định, mà tại Điện Kremlin vào thời điểm đó hoàn toàn chưa có. Ngoài những khó khăn về mặt kỹ thuật, Liên Xô còn có những lý do quan trọng hơn, vì thế mà vào thời điểm đó việc giúp đỡ những người cộng sản Đông Dương là điều chưa thể thực hiện được. Như chuyên gia quan hệ quốc tế nổi tiếng A. D. Bogaturov đã lưu ý: "Sự ủng hộ tích cực đối với Hồ Chí Minh cũng bị Moscow né tránh. Liên Xô không có lợi ích trong việc tạo ra khó khăn cho chính phủ Pháp, lực lượng mà trong những năm đầu sau chiến tranh do những người xã hội chủ nghĩa lãnh đạo. Liên Xô quá quan tâm đến việc hợp tác với Paris, trong việc ngăn chặn tái quân sự hóa nước Đức, để mà làm phức tạp hóa quan hệ với Pháp vì Việt Nam, khi đó chưa đại diện cho một lợi ích đặc biệt nào" [36, tr. 81-82]. Ngoài nguyện vọng của giới lãnh đạo Xô Viết trong việc duy trì quan hệ tốt đẹp với Paris, cần phải kể thêm sự xuất hiện của những biến chứng nghiêm trọng ở Châu Âu, các sự kiện ở Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ và việc thông qua "Học thuyết Truman", Cuộc khủng hoảng Berlin đầu tiên và sự nguội lạnh đáng chú ý trong quan hệ Xô - Mỹ. Cuộc nội chiến vẫn đang tiếp diễn ở Trung Quốc, và cho đến năm 1949 (thắng lợi của những người cộng sản ở Trung Quốc và sự hình thành nước CHND Trung Hoa – D. Z.), theo mọi dấu hiệu, giới lãnh đạo Xô Viết không cho rằng việc hỗ trợ VNDCCH là cần thiết. Điều này chắc chắn sẽ dẫn đến việc làm xấu đi quan hệ với Pháp và Mỹ. Thêm vào đó, hoạt động này nếu không có sự hỗ trợ của Trung Quốc thì mang tính nghi vấn khá lớn. Thật khó tin rằng các đơn vị du kích, mà thực chất tổ chức quân sự - chính trị Việt Minh chính là như vậy, lại có thể đánh bại quân đội Pháp được Hoa Kỳ hậu thuẫn. Hồ Chí Minh không thể giữ thái độ chờ thời và thử kéo dài thời gian cho đến khi tình hình quốc tế thay đổi. Vào mùa hè năm 1945, tình hình thảm khốc đã hình thành ở Việt Nam.

Đang ở bờ vực thất bại, chính quyền chiếm đóng của Nhật Bản đã làm mọi thứ có thể để cung cấp lương thực cho quân đội, vơ vét sạch sành sanh người dân bản địa. Trong các nhà kho dưới sự canh gác có tới 500 nghìn tấn gạo. Giá gạo so với mức trước chiến tranh đã tăng gấp 80 lần [37, tr. 199]. Nạn đói đã bắt đầu ở Việt Nam, vấn đề lương thực đặc biệt trở nên cấp bách ở các tỉnh phía bắc. Đến năm 1937, dân số Việt Nam là 17 triệu người, vào năm 1950 là 25,3 triệu người [38, tr. 4]. Nạn đói năm 1945 đã cướp đi sinh mạng của 2 triệu người [39, tr. 54]. Ngay cả khi lấy số liệu thống kê năm 1950 làm cơ sở, Việt Nam đã mất khoảng 8% dân số. Ở trong tình trạng như vậy, không có liên lạc với Liên Xô, Hồ Chí Minh buộc phải lựa chọn phương án duy nhất có thể: cố gắng thiết lập quan hệ với Hoa Kỳ và Pháp, vì cần phải giải quyết hậu quả của nạn đói và khôi phục đất nước. Thêm vào đó, các đại diện Mỹ tại Việt Nam đã nhận được chỉ thị nghiêm ngặt là theo dõi tất cả các liên lạc của Hồ Chí Minh [40]. Trong "Tài liệu Lầu Năm Góc", hơn một trăm trang được dành cho việc tìm kiếm mối liên hệ của ông với Liên Xô. Các nhà ngoại giao và quân sự Pháp càng đổ thêm dầu vào lửa. Đại sứ Mỹ tại Pháp Jefferson Caffery đã được thông báo về mối liên hệ của Hồ Chí Minh với Moscow và sự hiện diện của các cố vấn Liên Xô tại Việt Nam [41]. Quả thực, từ cuối tháng 10 năm 1946 đến đầu năm 1947, phái đoàn của nhà ngoại giao Liên Xô Đại tá V. N. Dubrovin đã có mặt tại Việt Nam. Nhiệm vụ chính thức của phái đoàn là đưa các tù binh chiến tranh Liên Xô trở về quê hương. Đồng thời, các nhà ngoại giao Liên Xô đã tiến hành thăm dò các tâm trạng chính trị tại Việt Nam [5, tr. 134]. Trong báo cáo của tình báo Mỹ được thực hiện vào tháng 6 năm 1947, việc có mặt của hai cố vấn từ Liên Xô tại tỉnh Tuyên Quang, nằm ở phần phía bắc của Việt Nam, đã được ghi nhận [42]. Rất ít thông tin được biết về sứ mệnh của Đại tá V. N. Dubrovin. Ở đây có lẽ chúng ta có thể nói rằng các đại diện Liên Xô đang dò xét giới lãnh đạo Việt Nam và tình hình đang hình thành tại đất nước này.

Tình hình có phần khác biệt đối với sự hợp tác của Hồ Chí Minh với các lực lượng cộng sản Trung Quốc. Vào tháng 7 năm 1947, 830 sĩ quan của Việt Minh đã trải qua khóa đào tạo tại một trại quân sự được thành lập với sự hỗ trợ của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Các cố vấn và huấn luyện viên Trung Quốc đảm nhận việc huấn luyện các chiến sĩ Việt Minh [43, tr. 12]. Khoảng 1000 quân nhân Trung Quốc đã gia nhập hàng ngũ Việt Minh [43, tr. 12]. Sự hợp tác của Hồ Chí Minh với ĐCSTQ khiến phía Mỹ ít lo ngại cho đến năm 1949. Vấn đề khác là mối liên hệ của ông với Moscow. Ngày 9 tháng 9 năm 1947 đã diễn ra cuộc gặp giữa đại sứ Liên Xô tại Thụy Sĩ A. G. Kulazhenkov với Phạm Ngọc Thạch. Ông đã trình bày chi tiết các nguyên nhân giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương, đồng thời đảm bảo rằng tổ chức quân sự - chính trị Việt Minh là tổ chức cộng sản và có không dưới 100 nghìn thành viên, lãnh đạo các tổ chức xã hội khác nhau, bao gồm cả các tổ chức thiếu nhi, bao trùm 10 triệu người (gần một nửa dân số Việt Nam – D. Z.). Phạm Ngọc Thạch thông báo rằng ĐCSTQ đang cử các cán bộ quân sự đến Việt Nam để giúp đỡ trong cuộc chiến chống lại những kẻ chiếm đóng. Cuối buổi trò chuyện, đại diện Việt Nam tuyên bố rằng ông muốn thăm Liên Xô để trực tiếp trình bày tình hình ở Đông Nam Á [44, tờ 36 mặt sau]. Biên bản của cuộc trò chuyện này đã được gửi tới V. M. Molotov và A. Ya. Vyshinsky. Sau đó, các mối liên lạc Xô - Việt sẽ được tiếp tục tại cơ quan đại diện Liên Xô ở Thái Lan. Năm 1948 đã diễn ra chuyến thăm tới Moscow của người chịu trách nhiệm văn phòng thông tin VNDCCH tại Thái Lan Le Khi [45, tr. 138]. Không có sự phát triển đáng kể nào trong quan hệ Xô - Việt sau chuyến thăm này. Đến năm 1948, Việt Minh đã đạt được những thành công nhất định cả trong lĩnh vực quân sự lẫn chính trị. Trong hàng ngũ của tổ chức có khoảng 75 nghìn chiến sĩ chiến đấu [14, tr. 154]. Sự phổ biến của Việt Minh ngày càng tăng lên từng ngày phần lớn nhờ vào các hành động được thực hiện ngay sau Cách mạng Tháng Tám. Các biện pháp chống nạn đói được thực hiện, tiền thuê đất cho nông dân giảm 25%, thuế nông nghiệp giảm 20%, các vùng đất thuộc về thực dân Pháp bị trưng thu, luật ngày làm việc 8 tiếng được công bố. Sự chú ý lớn được dành cho văn hóa và giáo dục. Đến năm 1946, trong các nhóm giáo dục phổ thông có hơn 2 triệu người đã học đọc và viết [13, tr. 14]. Dưới sự thống trị của Pháp, từ 80% đến 90% dân số Việt Nam mù chữ. Kết quả của cuộc đấu tranh chống nạn mù chữ đến năm 1952, 90% trẻ em Việt Nam từ 5 đến 16 tuổi đã biết chữ [46, tờ 18 mặt sau].

Trong khi đó, phía Mỹ đã cố gắng tìm kiếm các bằng chứng về sự hợp tác của Hồ Chí Minh với Moscow. Sự xuất hiện của một vài quan sát viên từ Liên Xô không phải là một tín hiệu rõ ràng cho thấy nhà lãnh đạo Việt Nam đang nhận các chỉ thị trực tiếp từ Moscow hoặc thậm chí là sự hỗ trợ quân sự. Ngày 5 tháng 11 năm 1948, nhà ngoại giao Mỹ George M. Abbott đã gửi một bức điện cho Ngoại trưởng George Marshall, trong đó chỉ ra rằng: "Chúng tôi không có bằng chứng nào cho thấy Hồ Chí Minh đang nhận các chỉ thị trực tiếp từ Moscow, Trung Quốc hoặc phái đoàn ngoại giao Liên Xô ở Bangkok" [47, tr. 186]. Trong chính bức thông điệp đó cho biết rằng vào thời điểm hiện tại Việt Minh không tiến hành bất kỳ hành động nào mang tính chất chống Mỹ [47, tr. 185]. Gần như cùng lúc đó, Ngoại trưởng George Marshall đã đưa ra một kết luận rất quan trọng: việc Moscow có ủng hộ các hành động của Hồ Chí Minh hay không, điều đó không còn quá quan trọng nữa. Việt Minh có thể gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho quân đội Pháp bằng chính sức lực của mình [47, tr. 162-163]. Ngược lại, thất bại quân sự của Pháp không đáp ứng các lợi ích của Hoa Kỳ ở Đông Dương.

Bên cạnh chính sách kiềm chế chủ nghĩa cộng sản, Hoa Kỳ tại Đông Dương cũng theo đuổi các lợi ích kinh tế. Một thành phần quan trọng trong chính sách của Mỹ ở Đông Dương đã trở thành việc áp đặt các nguyên tắc tự do thương mại lên nước Pháp mặc cho sự trở lại của chính quyền thuộc địa Pháp [47, tr. 162-163]. S. A. Mkhitaryan, sau khi phân tích các lợi ích kinh tế của Mỹ tại Việt Nam, đã đưa ra kết luận: "Trên lãnh thổ Đông Dương bị Pháp chiếm đóng, các công ty Mỹ “Standard & Caltex”, “Florida Phosphate Corporation” đã triển khai các hoạt động cướp bóc. Năm 1949, các đại diện của các tập đoàn tín thác Mỹ đã tiến hành đàm phán với nhà chức trách Pháp liên quan đến việc khai thác chung các nguồn tài nguyên của các thuộc địa Pháp, cụ thể là Đông Dương. Các công ty cổ phần được thành lập gần đây nhằm khai thác sự giàu có của Đông Dương thường là các công ty hỗn hợp Mỹ - Pháp, chủ yếu là: Hiệp hội Đông Dương, Quỹ đầu tư vào Đông Dương, Hiệp hội Thủy điện Nam Ấn Độ. Đồng thời, điều đặc trưng là các tổ chức độc quyền Mỹ dành sự chú ý đặc biệt cho ngành công nghiệp mỏ và khai thác nguyên liệu chiến lược tại Đông Dương. Đại đa số các công ty bận rộn với việc khai thác nguyên liệu quân sự - chiến lược tại các khu vực bị chiếm đóng ở Đông Dương đều liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp với tư bản Mỹ. Chẳng hạn như: Hiệp hội khai thác phốt phát Viễn Đông, được tổ chức năm 1946; hội mới khai thác phốt phát Bắc Kỳ, Hiệp hội thăm dò và khai thác quặng ở Đông Dương, Hiệp hội khai thác thiết bị và vonfram ở Bắc Kỳ, v.v. Các tài sản của Nhật Bản thuộc Hiệp hội Than ở Bắc Kỳ và hội đường sắt Đông Dương của Pháp cũng đã lọt vào tay người Mỹ. Ngoài ra, một loạt các “công ty thuần Pháp” cũng như Ngân hàng Đông Dương, cơ quan thực hiện chính sách đế quốc và phản động của chính phủ Pháp, có mối liên hệ chặt chẽ với tư bản Mỹ. Trong tất cả các công ty hỗn hợp, tư bản Mỹ với tư cách mạnh hơn đã lấn át các đối thủ cạnh tranh Pháp của mình" [48, tờ 13 mặt sau]. Hơn nữa, trong trường hợp chiến thắng của Việt Minh, các lợi ích kinh tế của Mỹ đã bị đặt vào tình trạng đe dọa. Những đề xuất về ưu đãi dành cho tư bản Mỹ do Hồ Chí Minh đưa ra trước đó rất khó có khả năng vẫn còn hiệu lực.

Sau chiến thắng của Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Trung Quốc và việc tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1949, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã có được một đồng minh mạnh mẽ. Ngoài ra, năm 1949, Liên Xô đã tiến hành vụ thử vũ khí nguyên tử đầu tiên, và vào tháng 7 năm 1950, cuộc chiến tranh Triều Tiên bùng nổ. Những sự kiện này đã làm thay đổi cán cân quyền lực trong khu vực và tạo ra mảnh đất thuận lợi cho sự phát triển hơn nữa của quan hệ Liên Xô - Việt Nam. Đồng thời, Hoa Kỳ đã xem xét lại chính sách của mình tại Đông Dương, tăng cường gấp bội việc tài trợ cho quân đội Pháp. Đến năm 1952, Hoa Kỳ đã đảm nhận một phần ba tổng chi phí chiến tranh của Pháp [49, tr. 40]. Hơn nữa, người Mỹ bắt đầu trực tiếp cung cấp hỗ trợ kinh tế và kỹ thuật cho chế độ Bảo Đại. Việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Liên Xô và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gắn liền không thể tách rời với chuyến thăm của Hồ Chí Minh tới Moscow vào tháng 1 năm 1950. Các nhà ngoại giao Trung Quốc đã đóng một vai trò lớn trong quá trình này. Trong chuyến thăm Moscow vào tháng 7 – tháng 8 năm 1949, Thư ký Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Lưu Thiếu Kỳ đã khuyên I. V. Stalin "... chú ý đến việc đẩy mạnh hoạt động giải phóng ở châu Á, cụ thể là ở Việt Nam, tạo cho nó tính năng động và định hướng tư tưởng như đã dẫn đến thắng lợi của cách mạng Trung Quốc" [3, tr. 30]. I. V. Stalin, theo tất cả các biểu hiện, đã ghi nhận lời khuyên này từ những người đồng chí Trung Quốc. Một tình tiết có thể làm phức tạp quá trình Liên Xô công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là vụ việc Trần Ngọc Danh (một cách viết khác là Trần Ngọc Đan – Đ. Z.).

Trần Ngọc Danh là một đại diện tiêu biểu của phong trào cộng sản tại Đông Dương. Tiểu sử của ông tương đồng với tiểu sử của Hồ Chí Minh. Trần Ngọc Danh sinh ngày 1 tháng 1 năm 1909 tại thành phố Hà Tĩnh. Cha ông từng giữ chức vụ cao trong chính quyền thuộc địa. Anh trai của Trần Ngọc Danh là Trần Phú cũng tham gia vào phong trào cộng sản ở Đông Dương. Năm 1927, Trần Ngọc Danh gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Cùng lúc đó, anh trai ông đã sang Liên Xô học tập. Hai năm sau, theo chân Trần Phú, Trần Ngọc Danh cũng lên đường đi học [33, tr. 190-196]. Sau khi được đào tạo tại Trường Đại học Cộng sản những người lao động phương Đông (KUTV) và Trường Quốc tế Lênin (MLSh), ông được cử đi công tác tại Trung Quốc. Anh trai ông là Trần Phú đã được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 10 năm 1930. Năm 1931, Trần Phú bị quân đội thực dân Pháp bắt giữ và sớm qua đời trong nhà tù Sài Gòn. Sau Cách mạng tháng Tám, Trần Ngọc Danh được cử đứng đầu đoàn đại biểu Việt Nam sang Paris đàm phán. Đến năm 1948, những nỗ lực nhằm đạt được sự công nhận vấn đề Việt Nam không đi đến đâu. Ngày 22 tháng 11 năm 1948, Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pháp Trần Ngọc Danh theo sự ủy nhiệm của chính phủ đã gửi thư cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Trygve Lie với yêu cầu kết nạp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm thành viên Liên Hợp Quốc [50, tờ 24 mặt sau]. Ngày 24 tháng 11 năm 1948, Bộ các vấn đề lãnh thổ hải ngoại của Pháp đã đưa ra tuyên bố chính thức: "Việt Nam Dân chủ Cộng hòa" mà Trần Ngọc Danh đang cố gắng đại diện tại Paris không tồn tại về mặt chính thức, do đó Trần Ngọc Danh không thể thực hiện bất kỳ sứ mệnh ngoại giao nào và các thông tin của ông không thể được coi là đáng tin cậy" [50, tờ 25 mặt sau].

Tháng 8 năm 1949, Trần Ngọc Danh rời sang Prague. Sau đó, ông đã gửi hàng loạt bức thư làm mất uy tín của Hồ Chí Minh tới giới lãnh đạo Liên Xô. Bức thư đầu tiên gửi Ban Thư ký Trung ương Đảng Cộng sản toàn liên bang (Bolshevik) tới đích danh I. V. Stalin được gửi vào tháng 10 năm 1949. Trong thư, nhà ngoại giao Việt Nam đã chỉ ra những sai lầm của Hồ Chí Minh:

  1. Do quan điểm dân tộc chủ nghĩa, ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương đánh giá thấp ý nghĩa thế giới của Cách mạng Xã hội chủ nghĩa năm 1917, rời bỏ chủ nghĩa Marx - Lenin và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Bolshevik.

  2. Kết quả của việc phủ nhận vai trò của Đảng Cộng sản Bolshevik dẫn đến các khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa và thanh trừng kiểu Bukharin trong Đảng Cộng sản Đông Dương.

  3. Ban lãnh đạo đánh giá thấp lực lượng của chính mình và đánh giá quá cao lực lượng của kẻ thù.

  4. Có những quan điểm xét lại trong các vấn đề về giai cấp, đấu tranh giai cấp và quyền bá chủ của giai cấp vô sản. Lợi ích của dân tộc được đặt lên trên lợi ích giai cấp. Bỏ qua nguyên tắc rằng giai cấp công nhân, giải phóng chính mình, cũng đồng thời giải phóng dân tộc [33, tr. 66].

Trần Ngọc Danh dành nhiều sự chỉ trích cho chính sách của Đảng đối với vấn đề nông dân. Tuy nhiên, đáng chú ý là phần cuối bức thư, nơi đối thủ của Hồ Chí Minh chỉ ra những tâm trạng chung trong Đảng:

  1. Ban lãnh đạo cố gắng cô lập về mặt chính trị những người phản đối chính sách mà họ đang thực hiện;

  2. Ban lãnh đạo dùng nhiều thủ đoạn lắt léo để chứng minh rằng chính sách của mình là đúng đắn, đồng thời "khiêm tốn" tuyên bố rằng mọi đảng cộng sản đều mắc sai lầm, vì vậy việc Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương mắc sai lầm là chuyện bình thường;

  3. Các đồng chí giữ những vị trí trách nhiệm trong chính phủ hoặc trong Đảng bám lấy vị trí của mình;

  4. Hạng ngũ cán bộ, bao gồm đại diện giới sinh viên, trí thức, chủ đất, được giáo dục theo tinh thần dân tộc chủ nghĩa, tiểu tư sản thuần túy, đôi khi ngụy trang bằng chủ nghĩa quốc tế;

  5. Các đồng chí từng tham gia các cuộc đấu tranh giai cấp trong những năm đầu tồn tại của Đảng Cộng sản Đông Dương và ít nhiều được trang bị lý thuyết, vẫn giữ lòng trung thành với các nguyên tắc của Đảng. Hạng mục này chiếm khoảng 2% đảng viên là công nhân và nông dân tiên tiến [5, tr. 67-68].

Ở cuối bức thư, Trần Ngọc Danh đã viết những lời ca ngợi gửi tới I. V. Stalin: "Kính thưa các đồng chí thân mến, xin hãy nhận lấy những tình cảm cộng sản, Stalin của tôi" [5, tr. 68]. Đây chỉ là một danh sách ngắn các cáo buộc chống lại Hồ Chí Minh. Ngày 10 tháng 1 năm 1950, Trần Ngọc Danh đã gửi thêm một bức thư nữa, nhưng lần này là tới Tổng biên tập tờ báo "Vì một nền hòa bình bền vững, vì một nền dân chủ nhân dân!" P. F. Yudin, trong đó, cũng như bức thư đầu tiên, ông đã chỉ trích Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau này, các đoạn trích từ các cuộc phỏng vấn của Hồ Chí Minh với các nhà báo nước ngoài, trong đó ông nói về sự trung lập của Việt Nam, đã được trích dẫn. Những tuyên bố của ông liên quan đến việc Việt Nam trung lập như Thụy Sĩ đã được phía Mỹ biết đến rõ và được phân tích trong "Hồ sơ Lầu Năm Góc" [14, tr. 171]. I. V. Stalin đã đọc nội dung các bức thư này, hơn nữa, kèm theo bức thư đầu tiên là một bản thông tin do nhân viên Ủy ban Chính sách đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản toàn liên bang I. I. Kozlov chuẩn bị, trong đó  Kozlov đã bác bỏ phần lớn các đợt tấn công từ phía Trần Ngọc Danh.

Tháng 2 năm 1950, Hồ Chí Minh, về phần mình, đã viết một bức thư gửi Ban Thư ký Trung ương Đảng Cộng sản toàn liên bang, trong đó ông đã chỉ trích gay gắt Trần Ngọc Danh [5, tr. 248]. Chuyên gia trong nước về quan hệ Liên Xô - Việt Nam I. V. Gaiduk cũng đưa ra giả thuyết rằng I. V. Stalin tỏ thái độ cảnh giác với Hồ Chí Minh, bao gồm cả vì sự liên hệ của ông với các cơ quan đặc vụ Mỹ [51, tr. 3]. Dù thế nào đi nữa, nhờ những lời giới thiệu tốt đẹp của các nhà ngoại giao Trung Quốc, cuộc gặp giữa I. V. Stalin và Hồ Chí Minh vẫn diễn ra tại Moscow. Ngày chính xác của cuộc gặp này đến nay vẫn chưa được biết rõ, giả định rằng nó xảy ra một thời gian sau khi ký Hiệp ước hữu nghị, liên minh và tương trợ giữa Liên Xô và Trung Quốc. Rất có thể, cuộc gặp diễn ra vào những ngày đầu tháng 1 năm 1950. Cuộc đối thoại này không được ghi chép lại, vì vậy chỉ những mảnh rời rạc của cuộc trò chuyện trong hồi ký của các nhà ngoại giao Trung Quốc còn lưu lại đến ngày nay. "Trong bữa tiệc, Hồ Chí Minh quay sang Stalin: "Đồng chí Stalin, tôi muốn nhận được chỉ dẫn của đồng chí". Stalin mỉm cười: "Tại sao đồng chí lại xin tôi chỉ dẫn? Tôi chỉ là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, còn đồng chí là nguyên thủ quốc gia. Địa vị của đồng chí cao hơn tôi. Đáng lẽ tôi mới là người phải xin đồng chí chỉ dẫn". Hồ Chí Minh nửa đùa nửa thật tiếp lời: "Đồng chí đã ký hiệp ước với các đồng chí Trung Quốc rồi. Nhân dịp tôi đang ở đây, chúng ta hãy ký một hiệp ước đi!". Stalin nói: "Đồng chí đến với chúng tôi một cách bí mật. Làm sao chúng ta có thể ký hiệp ước? Mọi người có thể hỏi, người này từ đâu rơi xuống vậy?". Hồ Chí Minh trả lời hóm hỉnh: "Chuyện đó đơn giản thôi. Hãy cho một chiếc máy bay, đưa tôi lên đó, bay lên trời; hãy để nó lượn một vòng, rồi đồng chí cử ai đó ra sân bay đón tôi. Sau đó công bố tin này trên báo chí. Chẳng phải bằng cách đó chúng ta có thể hợp thức hóa chuyến thăm của tôi hay sao? Và sau đó hai quốc gia chúng ta có thể ký hiệp ước!". Stalin không nói gì về điều đó. "Ông rít một hơi thuốc, mỉm cười và nói: "Đúng, các đồng chí phương Đông có sức tưởng tượng phong phú thật"" [52, tr. 400-402].

Hiệp ước tương trợ không được ký kết, và khó có khả năng chính Hồ Chí Minh hy vọng rằng kết quả như vậy là có thể. Pháp là thành viên của khối NATO, và việc ký kết một liên minh quân sự trên thực tế vào thời điểm chiến sự đang diễn ra ác liệt tại Việt Nam là một cuộc phiêu lưu với những hậu quả khó lường. Dù sao thì Liên Xô cũng chính thức công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và đó chắc chắn là một bước tiến đáng kể trong quan hệ Liên Xô - Việt Nam. N. S. Khrushchev trong hồi ký của mình đã viết rằng I. V. Stalin có thái độ tiêu cực đối với Hồ Chí Minh và thường mắng ông bằng "những lời lẽ lăng mạ khác nhau" [53, tr. 113]. Có thể giả định rằng I. V. Stalin có thể chỉ trích Hồ Chí Minh và có đủ lý do để làm như vậy. Những sự kiện gần đây liên quan đến Nam Tư cũng có thể ảnh hưởng đến đánh giá về nhà lãnh đạo Việt Nam. Rất có thể, trong cuộc gặp, I. V. Stalin đã thấy rằng nhà lãnh đạo nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ không mù quáng đi theo đường lối của Moscow và ưu tiên lợi ích của Việt Nam trước hết. Trong những năm nắm quyền của N. S. Khrushchev và L. I. Brezhnev, sẽ có không ít mâu thuẫn và tình huống xung đột với ban lãnh đạo Việt Nam. Tuy nhiên, tiểu sử và thành tựu của Hồ Chí Minh đã gây ấn tượng với nhà lãnh đạo, và vào ngày 6 tháng 1 năm 1950 (có thể giả định rằng bức thư này được viết ngay trước cuộc gặp giữa I. V. Stalin và Hồ Chí Minh – Đ. Z.) trong bức thư gửi Mao Trạch Đông, ông (I. V. Stalin – Đ. Z.) đã đưa ra đánh giá như sau về Hồ Chí Minh: "Những ngày gần đây tôi đã có cơ hội xem xét các tài liệu về Việt Nam và đồng chí Hồ Chí Minh. Tôi đi đến niềm tin rằng đồng chí Hồ Chí Minh là một người cộng sản sáng suốt, lãnh đạo công việc của mình tốt và xứng đáng được mọi sự ủng hộ" [33, tr. 38].

Theo tất cả các biểu hiện, I. V. Stalin không hề bối rối trước những tuyên bố và hành động của Hồ Chí Minh. Là một chính trị gia tài ba, I. V. Stalin hiểu rõ rằng nếu Hồ Chí Minh tuyên bố một cách ầm ĩ vào năm 1945 hay 1946 rằng ông là người cộng sản, điều đó sẽ gây ra hậu quả tai hại, tương đương với hành động tự sát. Hơn nữa, lúc đó không có sự liên hệ với Moscow và không có nơi nào để mong đợi sự giúp đỡ. Có lẽ, hành động của ông là bước đi duy nhất có thể trong tình hình mà Việt Nam gặp phải năm 1945. Sau khi công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sự ủng hộ đối với nhân dân Việt Nam không chỉ thể hiện qua các tuyên bố. Đến năm 1950, khoản viện trợ kinh tế đầu tiên cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có thể truy xuất được trong các tài liệu. Trong ghi chú của Hồ Chí Minh gửi M. A. Suslov vào tháng 2 năm 1950 (không muộn hơn ngày 17 tháng 2 năm 1950 – Đ. Z.) có thông tin sau: "Về việc sử dụng viện trợ tài chính do đồng chí Stalin cung cấp, tôi đề nghị áp dụng phương thức sau: tiền sẽ được gửi đến Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khi chúng tôi cần, Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ chuyển cho chúng tôi qua các kênh của họ. Mỗi học kỳ chúng tôi sẽ báo cáo lên Đảng Cộng sản toàn liên bang" [54, tr. 8]. CIA đã ghi nhận những chuyến hàng quân sự đầu tiên từ Liên Xô tới Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào tháng 3 năm 1951 [55]. Trước đó, chưa tìm thấy bằng chứng về việc tài trợ hoặc cung cấp quân sự từ Liên Xô sang Việt Nam, mặc dù từ "Hồ sơ Lầu Năm Góc" cho thấy rõ rằng tình báo Mỹ đã nỗ lực đáng kể để phát hiện những sự kiện tương tự.

Có được sự ủng hộ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Liên Xô, Việt Minh đã có thể đạt được những thành công khá nhanh chóng trên bình diện quân sự. Nếu như năm 1947, chiến sĩ Việt Minh chủ yếu sử dụng chiến thuật du kích, hơn nữa, vào ngày 7 tháng 10 năm 1947, trong một chiến dịch đặc biệt của lính dù Pháp tại khu vực Bắc Cạn, Hồ Chí Minh và Tướng Võ Nguyên Giáp suýt bị bắt làm tù binh và chỉ thoát được nhờ các hành động nhanh chóng của tình báo [56, tr. 59-61], thì đến năm 1950, người Việt Nam đã thực hiện những chiến dịch tấn công thành công đầu tiên. Các đơn vị Pháp gần Đông Khê đã bị đánh bại, đồn Pháp ở Lạng Sơn thất thủ, và các chiến sĩ Việt Minh đã chiếm được một lượng lớn vũ khí và đạn dược. Chỉ sau 4 năm đấu tranh, người Việt Nam đã có thể đập tan hoàn toàn quân đội Pháp trong trận Điện Biên Phủ. Tháng 7 năm 1954, các Hiệp định Geneva được ký kết, kết thúc cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất.

Các nguồn tài liệu mới được mở cho phép chúng ta có cái nhìn khác về quá trình hình thành quan hệ Liên Xô - Việt Nam. Rõ ràng là trong giai đoạn 1945-1946, trong lịch sử Việt Nam đã có một ngã rẽ lịch sử đặc biệt, khi trong trường hợp Mỹ và Pháp có sự nhượng bộ, Việt Nam có thể đã chọn con đường phát triển phương Tây. Sự không chắc chắn trong việc lựa chọn định hướng chính sách đối ngoại là do thiếu sự quan tâm đáng kể của giới lãnh đạo Liên Xô đối với Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám. Trong bối cảnh này, Hồ Chí Minh buộc phải cân bằng giữa các cường quốc và thực hiện chính sách kép, vừa cố gắng thiết lập quan hệ với các nước phương Tây (Mỹ và Pháp – Đ. Z.), vừa nỗ lực hết sức để thu hút sự chú ý của giới lãnh đạo Liên Xô vào vấn đề cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam. Sau khi Việt Nam nhượng bộ Pháp và chủ nghĩa thực dân trỗi dậy ở Đông Nam Á, đối với ban lãnh đạo Việt Nam, rõ ràng là bất chấp những tuyên bố chính thức của các chính trị gia Mỹ, triển vọng giành độc lập của Việt Nam trong những năm tới là khá mù mờ. Liên quan đến điều đó, họ đã đặt cược vào sự hợp tác tích cực với Liên Xô, tuy nhiên, để thiết lập liên lạc giữa hai nước cần có thời gian và nỗ lực đáng kể của các nhà ngoại giao từ cả hai phía. Sau này, L. I. Brezhnev đã đánh giá cao Hồ Chí Minh: "Những nhà lãnh đạo vĩ đại của cuộc cách mạng đã đặt nền móng cho các quốc gia của chúng ta, tạo động lực quyết định cho sự phát triển của họ và vạch ra con đường của chúng ta – Vladimir Ilyich Lenin ở nước Nga Xô Viết và Hồ Chí Minh ở Việt Nam" [8, tr. 11]. Hồ Chí Minh đã trở thành người cha của dân tộc mình nhờ thực hiện chính sách độc lập, đáp ứng lợi ích của Việt Nam. Trải qua nhiều thế kỷ, những người yêu nước Việt Nam đã mơ ước về sự độc lập của đất nước mình. Có thể đạt được mục tiêu này bằng nhiều con đường khác nhau, đối với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cộng sản là con đường đáng tin cậy và đúng đắn nhất. Không phải ngẫu nhiên mà trong sử học, nhiều tác giả so sánh niềm đam mê của ông với các ý tưởng cộng sản như "thanh gươm thần" từ các truyền thuyết Việt Nam, nhờ đó ông có thể đánh bại kẻ thù và giải phóng Việt Nam. Như vậy, chủ nghĩa cộng sản đúng hơn là phương tiện để đạt được mục tiêu, còn bản thân mục tiêu có thể được đặc trưng bởi câu nói nổi tiếng nhất của Hồ Chí Minh: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do".

Thư mục tài liệu tham khảo

  1. Bukharkin I. V. Điện Kremlin và Hồ Chí Minh. 1945-1969. // Tạp chí Lịch sử Cận đại và Hiện đại 1998, số 3, tr. 125-141.

  2. Sokolov A. A. Quốc tế Cộng sản và Việt Nam. Đào tạo cán bộ chính trị Việt Nam tại các trường đại học cộng sản Liên Xô, thập niên 20-30. M., Viện Viễn Đông thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga, 1998. 180 tr.

  3. Ognetov I. A. Trên hướng Việt Nam. M., Gumanitariy, 2007. 322 tr.

  4. Konoreva I. A. Liên Xô và Đông Dương: 1943-1976. Kursk, NXB Đại học Quốc gia Kursk, 2011. 369 tr.

  5. Selivanov I. N. Stalin, Hồ Chí Minh và "vụ việc" Trần Ngọc Danh: sự kiện, giả thuyết, tài liệu lưu trữ. Kursk, Đại học Quốc gia Kursk, 2014. 269 tr.

  6. Liên Xô - Việt Nam 30 năm quan hệ, 1950-1980. Tài liệu và tư liệu. M., NXB Chính trị, 1982. 792 tr.

  7. Kobelev E. V. Hồ Chí Minh. M., Molodaya Gvardiya, 1979. 364 tr.

  8. Afonin S. N., Kobelev E. V. Đồng chí Hồ Chí Minh. M., NXB Chính trị, 1980. 239 tr.

  9. Duiker W. Hồ Chí Minh. N.Y., Hyperion, 2000. 695 tr.

  10. Fenn C. Hồ Chí Minh. L., Vista Cop., 1973. 144 tr.

  11. Warbey W. Hồ Chí Minh và cuộc đấu tranh vì một Việt Nam độc lập. L., Merlin press Cop., 1972. 274 tr.

  12. Mikheev Yu. Ya. Người Mỹ ở Đông Dương. Phê phán học thuyết và chính sách phi pháp của Hoa Kỳ. M., NXB Quan hệ Quốc tế, 1972. 477 tr.

  13. Divilkovskiy S. I., Ognetov I. A. Con đường tới chiến thắng. Phác thảo cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, thống nhất, hòa bình và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (1945-1976). M., NXB Chính trị, 1978. 278 tr.

  14. Hồ sơ Lầu Năm Góc [Phần I] Việt Nam và Hoa Kỳ, 1940-1950. // [Tài nguyên điện tử] – URL: https://nara-media-001.s3.amazonaws.com/arcmedia/research/pentagon-papers/Pentagon-Papers-Part-I.pdf (truy cập ngày 24.08.2017)

  15. Prados J. Việt Nam. Lịch sử của một cuộc chiến không thể thắng, 1945-1975. Lawrence, Kan., NXB Đại học Kansas, 2009. 665 tr.

  16. Tehran-Yalta-Potsdam. Tuyển tập tài liệu [của ba hội nghị các quốc gia thuộc khối đồng minh chống Hitler]. M., NXB Quan hệ Quốc tế, 1970. 295 tr.

  17. Schlesinger A. Di sản cay đắng. L., Deutsch, 1967. 127 tr.

  18. Erofeev N. A. Sự suy tàn của Đế quốc Anh. M., NXB Mysl, 1967. 277 tr.

  19. Pechatnov V. O., Mynykin A. S. Lịch sử chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. M., NXB Quan hệ Quốc tế, 2012. 672 tr.

  20. Mead W. R. Quyền lực, khủng bố, hòa bình và chiến tranh. Chiến lược lớn của Mỹ trong xã hội rủi ro / Dịch từ tiếng Anh bởi A. Georgiev, M. Nazarova. M., Progress-Traditsiya, 2006. 208 tr.

  21. Utkin A. I. Chiến tranh Lạnh thế giới. M., NXB Eksmo, 2005. 732 tr.

  22. Lawrence M. Chiến tranh Việt Nam lần thứ nhất: xung đột thuộc địa và khủng hoảng chiến tranh lạnh. Cambridge, Mass.; NXB Đại học Harvard, 2007. 374 tr.

  23. Anderson D. Mắc bẫy bởi thành công. N.Y., NXB Đại học Columbia, 1991. 276 tr.

  24. Quan hệ đối ngoại của Hoa Kỳ, 1946, Viễn Đông, Tập VIII, tài liệu 72. Đại sứ tại Pháp (Caffery) gửi Bộ trưởng Ngoại giao. // [Tài nguyên điện tử] – URL: https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1946v08/d72 (truy cập ngày 24.08.2017)

  25. Việt Nam và Hoa Kỳ: Một lịch sử tư liệu. Biên tập bởi Gettleman M., Franklin J., Young V., Franklin B. N.Y., Grove press, 1985. 524 tr.

  26. Cooper C. Cuộc thập tự chinh đã mất. N.Y., Dodd, Mead & co., 1970. 559 tr.

  27. Irving R. Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. L., Helm, 1975. 169 tr.

  28. Pike D. Lịch sử chủ nghĩa cộng sản Việt Nam, 1925-1976. Stanford (Calif.). NXB Viện Hoover, 1978. 181 tr.

  29. Chỉ thị và dự thảo thư của Ban Thư ký Phương Đông thuộc Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản. 1 tháng 2 năm 1933 – 1 tháng 11 năm 1933. // RGASPI. Quỹ 495. Danh mục 154. Hồ sơ 577. // [Tài nguyên điện tử] – URL: http://sovdoc.rusarchives.ru/#showunit&id=213828 (truy cập ngày 24.08.2017)

  30. Ognetov I. A. Những khía cạnh ít được biết đến trong quan hệ Xô-Việt // Các vấn đề lịch sử. 2001. Số 8. tr. 134-139.

  31. Pike D. Việt Nam và Liên Xô: Giải phẫu một liên minh. L., Westview press, 1987. 271 tr.

  32. Ghi chép về tình hình trong Đảng Cộng sản Đông Dương và tuyên ngôn của Đảng. 25 tháng 6 năm 1940 – 27 tháng 6 năm 1940. RGASPI. Quỹ 495. Danh mục 14. Hồ sơ 404 // [Tài nguyên điện tử] – URL: http://sovdoc.rusarchives.ru/#showunit&id=200876 (truy cập ngày 24.08.2017)

  33. Konoreva I. A., Selivanov I. N. Lịch sử tư liệu về quan hệ Xô-Việt: 1945-1955 (kỷ niệm 65 năm quan hệ ngoại giao Xô-Việt). Kursk, Đại học Quốc gia Kursk, 2016. 267 tr.

  34. Ognetov I. A. Hồ Chí Minh bay tới Moscow từ trong rừng rậm // Đời sống quốc tế 2003. Số 8. tr. 128-140.

  35. Việt Minh – Liên minh Đấu tranh vì độc lập Việt Nam. Bản tóm tắt. // Lưu trữ Chính sách đối ngoại Liên bang Nga (AVP RF). Quỹ 079. Danh mục 2, Mục 1. Hồ sơ 4.

  36. Bogaturov A. D. Các cường quốc tại Thái Bình Dương. M., Konvert. 1997. 349 tr.

  37. Mkhitaryan S. A. Lịch sử Việt Nam thời kỳ Hiện đại (1917-1965). M., NXB Nauka, 1970. 477 tr.

  38. Young M. Bạn đồng hành của Chiến tranh Việt Nam. Malden (MA). Blackwell, 2002. 514 tr.

  39. Các vấn đề chính trong lịch sử chiến tranh Việt Nam. Lexington, v.v. Heath, 1990. 635 tr.

  40. Quan hệ đối ngoại của Hoa Kỳ, 1946, Viễn Đông, Tập VIII, tài liệu 71. Quyền Bộ trưởng Ngoại giao gửi Lãnh sự tại Sài Gòn (Reed). // [Tài nguyên điện tử] – URL: https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1946v08/d71 (truy cập ngày 24.08.2017)

  41. Quan hệ đối ngoại của Hoa Kỳ, 1946, Viễn Đông, Tập VIII, tài liệu 81. Đại sứ tại Pháp (Caffery) gửi Bộ trưởng Ngoại giao. // [Tài nguyên điện tử] – URL: https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1946v08/d81 (truy cập ngày 24.08.2017)

  42. Thư viện CIA. Các cố vấn Liên Xô đối với Việt Minh // [Tài nguyên điện tử] – URL: https://www.cia.gov/library/readingroom/docs/CIA-RDP82-00457R000700020011-4.pdf (truy cập ngày 24.08.2017)

  43. Qiang Zhai. Trung Quốc và các cuộc chiến tranh Việt Nam 1950-1970. Chapel Hill và London, NXB Đại học Bắc Carolina, 2000.

  44. Nhật ký của Công sứ Liên Xô tại Thụy Sĩ A. G. Kulazhennakov. Cuộc trò chuyện với Phó Quốc vụ khanh phủ Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Việt Nam Phạm Ngọc Thạch. 9 tháng 9 năm 1947. // AVP RF. Quỹ 079. Danh mục 1, Mục 1, Hồ sơ 1.

  45. Ognetov I. A. Những khía cạnh ít được biết đến trong quan hệ Xô-Việt // Các vấn đề lịch sử 2001. Số 8. tr. 134-139.

  46. Đông Dương. Bản tóm tắt. // AVP RF. Quỹ 079. Danh mục 9, Mục 7, Hồ sơ 16.

  47. Hồ sơ Lầu Năm Góc [Phần V. B. 2. a.] Sự biện minh cho chiến tranh. Tài liệu nội bộ. Chính quyền Truman. Tập I: 1945-1949 // [Tài nguyên điện tử] – URL: https://nara-media-001.s3.amazonaws.com/arcmedia/research/pentagon-papers/Pentagon-Papers-Part-V-B-2a.pdf (truy cập ngày 24.08.2017)

  48. Chính sách bành trướng của Hoa Kỳ tại Đông Dương. Biên soạn bởi Bí thư thứ hai bộ phận Đông Nam Á S. A. Mkhitaryan. // AVP RF. Quỹ 079. Danh mục 4, Mục 2, Hồ sơ 9.

  49. Lawrence M. Chiến tranh Việt Nam. N.Y., NXB Đại học Oxford, 2008. 214 tr.

  50. Chính sách xâm lược của Mỹ tại Việt Nam. Biên soạn bởi Bí thư thứ hai bộ phận Đông Nam Á S. A. Mkhitaryan. 30 tháng 1 năm 1950. // AVP RF. Quỹ 79. Danh mục 4, Mục 1. Hồ sơ 4.

  51. Gaiduk I. V. Đối diện với Việt Nam: Chính sách của Liên Xô đối với xung đột Đông Dương, 1954-1963. Washington, NXB Đại học Stanford, 2003. 286 tr.

  52. Galenovich Yu. M. Stalin và Mao. Hai nhà lãnh đạo. M., NXB Vostochnaya Kniga, 2009. 574 tr.

  53. Khrushchev N. S. Thời gian, con người, quyền lực: (Hồi ký): trong 4 quyển. Quyển 3. M., Moskovskiye Novosti, 1999. 703 tr.

  54. Selivanov I. N. Hồ Chí Minh. Các mối liên hệ trong những năm 1950-1952. // Các vấn đề lịch sử 2012. Số 8. tr. 3-13.

  55. Thư viện CIA. Viện trợ quân sự của Cộng sản Trung Quốc và Liên Xô cho Việt Minh // [Tài nguyên điện tử] – URL: https://www.cia.gov/library/readingroom/docs/CIA-RDP82-00457R007100400002-1.pdf (truy cập ngày 24.08.2017)

  56. Davidson P. Chiến tranh Việt Nam (1946-1975). M., NXB Izografus, 2002. 814 tr.