Sự hỗ trợ tư tưởng của Liên Xô đối với những người ủng hộ Hồ Chí Minh trong những năm của cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ nhất


Irina Aleksandrovna Konoreva, Tiến sĩ Khoa học Lịch sử, Trưởng khoa Lịch sử Đại học Quốc gia Kursk, Kursk.

E-mail: ikonoreva@yandex.ru

Igor Nikolayevich Selivanov, Tiến sĩ Khoa học Lịch sử, Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Thế giới Đại học Quốc gia Kursk, Kursk.

E-mail: sin@kursknet.ru

Trong bài viết, dựa trên các tài liệu lưu trữ, vấn đề hỗ trợ tư tưởng của Liên Xô đối với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau khi nhà nước này được Liên Xô chính thức công nhận và cho đến khi I.V. Stalin qua đời và N.S. Khrushchev lên nắm giữ chức vụ cao nhất trong đảng đã được xem xét.

Từ khóa: sự hỗ trợ của Liên Xô dành cho Việt Nam, chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, các phương pháp công tác tuyên truyền ở Liên Xô hướng tới nước ngoài.

Một trong những trang sử ít được nghiên cứu của giai đoạn đầu quan hệ Xô - Việt chính là tính chất và quy mô của sự viện trợ do phía Mát-xcơ-va dành cho những người cộng sản địa phương sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (DVDR) được tuyên bố thành lập vào tháng 9 năm 1945. Đứng đầu phong trào chính trị Việt Minh do Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập vào tháng 5 năm 1941 là Nguyễn Ái Quốc, người sau đó đã trở nên nổi tiếng toàn thế giới với tư cách là vị Chủ tịch đầu tiên của VNDCCH là Hồ Chí Minh. Chính Người, vào tháng 12 năm 1946 sau khi các hoạt động quân sự của Pháp nhằm tái lập hình thức quản lý thuộc địa của họ được bắt đầu, đã kêu gọi nhân dân Việt Nam tiến hành “cuộc chiến tranh kháng chiến” toàn diện chống lại quân đội của chính quốc và các đồng minh của chúng bên trong Đông Dương.

Cho đến nay, cả ở Nga lẫn ở Việt Nam, vẫn chưa công bố đầy đủ thông tin về quy mô viện trợ quân sự của Liên Xô, về các khoản cung cấp phi quân sự các nguyên liệu và vật liệu của Liên Xô cho VNDCCH, cũng như về sự tham gia trực tiếp của các công dân Xô-viết (nếu có) vào các sự kiện của cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất.

Tuy nhiên, dần dần các tài liệu của các kho lưu trữ Nga có chứa thông tin về các vấn đề quan hệ Xô - Việt đang được giải mật. Một trong những chủ đề có thể được xem xét dựa trên các nguồn tư liệu lưu trữ chính là việc Liên Xô cung cấp sự hỗ trợ tư tưởng cho những người cùng chí hướng ở Việt Nam thông qua đường lối của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Hội hữu nghị và quan hệ văn hóa đối ngoại toàn Xô-viết (VOKS).

Vấn đề hỗ trợ tư tưởng cho VNDCCH phát sinh vào giữa tháng 2 năm 1950 sau cuộc gặp trực tiếp tại Mát-xcơ-va giữa I.V. Stalin và Hồ Chí Minh [1, tr. 120–124; 2, tr. 91–104], người vào thời điểm đó đang lãnh đạo cuộc đấu tranh của những người ủng hộ mình không chỉ chống lại quân viễn chinh Pháp mà còn chống lại các lực lượng vũ trang của chế độ Bảo Đại. Cho đến tháng 8 năm 1945, Bảo Đại là Hoàng đế Việt Nam, nhưng sau đó ông đã thoái vị và rút lui khỏi hoạt động chính trị tích cực. Theo yêu cầu của chính phủ Pháp vào mùa xuân năm 1949, ông đã đồng ý đứng đầu nhà nước Việt Nam "đồng minh" của Pháp và do đó làm trầm trọng thêm việc chia cắt đất nước thành hai phần.

Liên Xô, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) và các nhà nước đồng minh với họ thực tế gần như đồng thời vào đầu năm 1950 đã công nhận chính phủ của Hồ Chí Minh là lực lượng duy nhất mà họ muốn có quan hệ trên lãnh thổ Việt Nam: CHNDTH công nhận chế độ của Hồ Chí Minh vào ngày 14 tháng 1, Liên Xô công nhận vào ngày 30 tháng 1 năm 1950. Mỹ và Anh công nhận chế độ Bảo Đại vào ngày 7 tháng 2 năm 1950 [3, tr. 84–89].

Trước các sự kiện nêu trên, vị lãnh tụ của những người cộng sản Việt Nam không có mong muốn và cơ hội đặc biệt nào để nhận trực tiếp các chỉ thị tư tưởng từ Liên Xô, bởi vì ông tự định vị mình là một nhà lãnh đạo toàn dân tộc, đứng "cách đều" khỏi các lực lượng chính trị đang thù địch lẫn nhau cả bên trong lẫn bên ngoài đất nước mình.

Trong nửa cuối năm 1945 — đầu năm 1946, Hồ Chí Minh đã kêu gọi sự giúp đỡ từ các nhà lãnh đạo Mỹ và Liên Xô, những người từng bày tỏ sự bất mãn đối với chính phủ Pháp vì ý định theo đuổi chính sách thuộc địa cũ của họ, tuy nhiên mọi lời kêu gọi của Hồ Chí Minh tới Washington và Mát-xcơ-va đều không có lời đáp [4, tr. 126–128; 5, tr. 111–113]. Hơn nữa, vào tháng 11 năm 1945, mà không có sự tham vấn trước với Mát-xcơ-va, Hồ Chí Minh đã tuyên bố "tự giải thể" Đảng Cộng sản Đông Dương và thay thế các tổ chức đảng bằng các "câu lạc bộ nghiên cứu chủ nghĩa Mác", sau đó được hợp nhất thành Hiệp hội. Tất nhiên, đây là một bước đi chiến thuật, và các nhà lãnh đạo của Đảng không có ý định giải thể các chi bộ của mình. Rất có thể, Hồ Chí Minh không muốn tên gọi của đảng mình làm phật lòng nhà lãnh đạo Trung Quốc Tưởng Giới Thạch, lực lượng quân đội có mặt tại miền Bắc Việt Nam từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 3 năm 1946.

Trong bốn năm tiếp theo, không có bất kỳ yêu cầu nào về sự hỗ trợ tư tưởng cho các "câu lạc bộ" theo chủ nghĩa Mác được gửi từ các nhà lãnh đạo VNDCCH. Hơn nữa, từ Hồ Chí Minh và các cận vệ của ông vào thời điểm đó, người ta chỉ có thể nghe thấy những đánh giá tích cực về ý nghĩa của kinh nghiệm của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đối với đất nước họ trong cuộc đấu tranh giành độc lập. Ví dụ, trong một bản ghi nhớ mang mốc "mật", được gửi ngày 20 tháng 7 năm 1949 tới Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản toàn Liên Xô (bôn-sê-vích), Trưởng phòng Đông Nam Á của Bộ Ngoại giao Liên Xô K.A. Mikhailov đã trích dẫn với sự bối rối rõ rệt nội dung cuộc phỏng vấn của Hồ Chí Minh với hãng thông tấn Indonesia Antara, trong đó ông nói về sự "cách đều" của mình giữa Liên Xô và Mỹ [RGASPI. Ph. 17. Op. 137. D. 147. L. 28–31].

Những hành động như vậy định kỳ gây ra phản ứng tiêu cực từ phía những người cách mạng có tư tưởng giáo điều hơn, những người hướng tới việc áp dụng không phê phán kinh nghiệm xây dựng đảng và nhà nước của Liên Xô vào Việt Nam. Một trong số họ, ứng cử viên ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, đại biểu Quốc hội VNDCCH Trần Ngọc Danh vào cuối năm 1949 – đầu năm 1950 đã khiếu nại về Hồ Chí Minh lên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản toàn Liên Xô (bôn-sê-vích), cáo buộc nhà lãnh đạo của mình rằng ông ta "không phải là một người cộng sản thực sự" [7, tr. 68–111; 8, tr. 10–11]. Ngoài ra, một số nhà quan sát ở phương Tây trong những năm 1948–1949 đã nuôi hy vọng về sự xuất hiện trong phong trào cộng sản quốc tế dưới hình bóng của Hồ Chí Minh như là một "Tito thứ hai" [8, tr. 12], điều mà tất nhiên Liên Xô không muốn dung thứ.

Một yếu tố không kém phần quan trọng là ở Mát-xcơ-va trong những năm 1945–1949, họ không bày tỏ mong muốn lớn lao nào vì Hồ Chí Minh mà làm hỏng thêm mối quan hệ vốn dĩ đã không hề đơn giản với Pháp, bởi vì kể từ tháng 12 năm 1944 giữa hai nước đã có hiệu lực chính thức một hiệp ước hữu nghi. Ở Mát-xcơ-va, người ta quyết định không trả lời các bức điện tín của Hồ Chí Minh nhận được vào tháng 9 và tháng 10 năm 1945, trong đó ông kêu gọi sự giúp đỡ và công nhận VNDCCH. Trên báo chí Liên Xô thời kỳ đó, người ta chỉ hiếm hoi lắm mới bắt gặp được một bài báo hoặc mẩu tin về quốc gia nằm cách xa Liên Xô về mặt địa lý này. Cũng được biết rằng các cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa các đại diện của Liên Xô và VNDCCH diễn ra vào năm 1947–1948 trên lãnh thổ Thụy Sĩ, tại thành phố Bangkok và ở Mát-xcơ-va, nhưng các bên được đại diện bởi những nhân vật cấp thứ yếu, không được trao phó bất kỳ thẩm quyền nghiêm túc nào [9, tr. 127–134; 10, tr. 73–74]. Các chuyên gia của Bộ Ngoại giao Liên Xô, cụ thể là S.A. Mkhitaryan (người sau này trở thành một nhà sử học nổi tiếng), vào những năm đó trong các bản ghi nhớ phân tích "gửi lên trên" đã đánh giá một cách khá thận trọng về khả năng của những người ủng hộ Hồ Chí Minh trong việc thực hiện bất kỳ hành động nghiêm túc nào đối với người Pháp, đồng thời nhấn mạnh sự phụ thuộc mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam vào Trung Quốc. Chẳng hạn, trong bản ghi nhớ phân tích của S.A. Mkhitaryan ngày 9 tháng 1 năm 1948, tình hình xung quanh VNDCCH và vai trò của "yếu tố Trung Quốc" trong phong trào cách mạng Việt Nam đã được xem xét chi tiết [AVP RF. Ph. 79. Op. 2. D. 720. P. 1. L. 4–18].

Với việc Chiến lược Chiến tranh Lạnh bước sang giai đoạn “khối” và việc Pháp gia nhập tổ chức quân sự - chính trị NATO do Mỹ khởi xướng vào tháng 4 năm 1949, điện Kremlin bắt đầu suy nghĩ về việc thay đổi chiến thuật đối với Paris, bao gồm cả “vấn đề thuộc địa”.

Vào mùa hè năm 1949, Viện Thái Bình Dương thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô đã xuất bản cuốn sách “Cuộc khủng hoảng của hệ thống thuộc địa: Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của các dân tộc Đông Á”, trong đó tác giả của chương về Việt Nam là V.Ya. Vasilyeva, người vào những năm 1930 từng phụ trách theo đường lối của Quốc tế Cộng sản đối với Hồ Chí Minh khi ông đang học tập tại Mát-xcơ-va. Có quan hệ rất tin cậy với Hồ Chí Minh, bà đã bảo vệ ông trước các cuộc tấn công từ một số quan chức đảng và nhân viên bộ máy của Quốc tế Cộng sản. Chính V.Ya. Vasilyeva đã kiên quyết yêu cầu Hồ Chí Minh rời khỏi Liên Xô vào năm 1938. Từ cuốn sách của bà, độc giả Xô-viết được biết rằng Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ lâu năm, nổi tiếng và được yêu mến của nhân dân Đông Dương, người sáng lập Đảng Cộng sản Đông Dương, đứng đầu chính phủ và kiên định lãnh đạo “cuộc đấu tranh của nhân dân và công cuộc xây dựng nước cộng hòa kể từ khi thành lập” [12, tr. 187, 193–194].

Sau chiến thắng của các lực lượng do Mao Trạch Đông lãnh đạo trên lãnh thổ Trung Quốc đại lục và việc tuyên bố thành lập nước CHNDTH vào ngày 1 tháng 10 năm 1949, ban lãnh đạo Liên Xô đã có cơ hội thực tế để gây ảnh hưởng thông qua Bắc Kinh đối với nhà lãnh đạo Việt Nam. Vào cuối tháng 1 năm 1950 (trong thời gian Mao Trạch Đông lưu lại Mát-xcơ-va), quyết định đã được đưa ra là chính thức công nhận chính phủ của VNDCCH, mời Hồ Chí Minh sang Liên Xô và thảo luận với ông về các phương án hợp tác có thể có. Bức điện tín tương ứng mang chữ ký của I.V. Stalin đã được gửi vào ngày 1 tháng 2 năm 1950 tới Bắc Kinh (nơi Hồ Chí Minh đang có mặt lúc bấy giờ) [RGASPI. Ph. 558. Op. 11. D. 295. L. 1]. Cần phải nói thêm rằng, trong sử học trong nước và nước ngoài, thời điểm Hồ Chí Minh đến Mát-xcơ-va thường bị quy kết nhầm sang tháng 12 năm 1949, thời điểm diễn ra các sự kiện liên quan đến lễ kỷ niệm 70 năm ngày sinh của I.V. Stalin.

Theo kết quả của chuyến thăm mang tính chất bí mật (chính Hồ Chí Minh trong một bức thư gửi I.V. Stalin đã tự đề nghị điều này, với lý do là không muốn trao thêm cho kẻ thù những lợi thế trong cuộc đấu tranh tư tưởng chống lại những người ủng hộ ông [Tài liệu đã dẫn. L. 2]), Mát-xcơ-va và Bắc Kinh đã nhận “đỡ đầu” cho những người cùng chí hướng ở Việt Nam. Để nhận được sự giúp đỡ trong cuộc chiến chống lại người Pháp và các đối thủ chính trị bên trong Việt Nam, Hồ Chí Minh đã chấp nhận việc chính thức thừa nhận “vị thế đàn anh” của Stalin và Mao Trạch Đông, đổi lại sự kỳ vọng gia tăng các khoản viện trợ quân sự và các mặt hàng thiết yếu vô cùng quan trọng trong điều kiện chiến tranh du kích.

Cái giá phải trả của liên minh như vậy là việc áp đặt lên các nhà cách mạng Việt Nam (những người trong nhiều năm bị cắt đứt khỏi “những luồng gió mới”) loại hệ tư tưởng mác-xít đã định hình ở Liên Xô. Điều này áp dụng cho cả hình thức bên ngoài lẫn việc đưa các tài liệu mác-xít đặc biệt vào Việt Nam.

Vì thiếu hiểu biết về thực tế Việt Nam và giao phó cho các nhà lãnh đạo CHNDTH đại diện cho lợi ích của Liên Xô trong quan hệ với VNDCCH [RGASPI. Ph. 17. Op. 3. D. 1080. L. 55], các nhà lãnh đạo Liên Xô tuy nhiên vẫn thông qua tại các phiên họp của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản toàn Liên Xô (bôn-sê-vích), như chúng tôi đã lưu ý trước đó, các quyết định “bí mật” đặc biệt về việc cung cấp hỗ trợ tư tưởng cho Việt Nam đang chiến đấu. Hoàn cảnh này có thể được giải thích bằng thực tế là người Việt Nam từ lâu đã tỏ ra cảnh giác với những người láng giềng phương bắc của mình — những kẻ dưới các hình thức khác nhau đã phụ thuộc gần như suốt một thiên niên kỷ — và nghi ngờ rằng nếu định hướng một chiều vào CHNDTH, một sự “nô dịch” mới đối với Việt Nam có thể xảy ra dưới chiêu bài xây dựng chủ nghĩa xã hội “chung”. Cơ sở cho điều này là khá xác đáng — kể từ mùa hè năm 1949, Mao Trạch Đông đã nung nấu kế hoạch thành lập một “Quốc tế Châu Á”, trong đó ĐCSTQ có thể đóng vai trò chủ đạo. Theo quan điểm của ông, ĐCS(b) nên giữ vai trò là “người giám sát” các vấn đề “chung” và là người trực tiếp lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ ở các nước Đông Âu [13, tr. 358–359, 372]. Đồng thời, Liên Xô — quốc gia đầu tiên giành chiến thắng xã hội chủ nghĩa — lại nằm ở một khoảng cách đáng kể so với Việt Nam và không gây ra cho các nhà lãnh đạo VNDCCH bất kỳ mối e ngại nào từ góc độ địa chính trị. Do đó, Hồ Chí Minh đã tìm cách thiết lập quan hệ trực tiếp với Mát-xcơ-va mà không có sự trung gian của Trung Quốc. Và cơ hội như vậy đã xuất hiện chính nhờ thành phần tư tưởng.

Ở Mát-xcơ-va, người ta đối xử ghen tị với vai trò của Liên Xô là “Quốc gia xã hội chủ nghĩa đầu tiên”, và của ĐCS(b) là đảng “Chủ chốt”, đứng đầu là “Stalin vĩ đại”. Cố gắng duy trì uy tín tuyệt đối trong phong trào cộng sản thế giới, nhà lãnh đạo Xô-viết đã đối xử với sự nghi ngờ đối với các nỗ lực thể hiện “tính thay thế” sau khi cắt đứt quan hệ với Nam Tư vào giữa năm 1948.

Ngày nay có các tài liệu lưu trữ gián tiếp xác nhận xu hướng nêu trên. Trong nghị quyết của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương ĐCS(b) được thông qua vào ngày 6 tháng 4 năm 1950, người ta giả định gửi thông qua VOKS (Hội Liên hiệp Quan hệ Văn hóa với nước ngoài) các tài liệu chính trị bằng tiếng Pháp cho Việt Minh, bao gồm các tác phẩm của V.I. Lenin và I.V. Stalin, ảnh khắc kẽm của các nhà lãnh đạo ĐCS(b) và nhà nước Xô-viết, các album ảnh “Nông phụ Xô-viết”, “Làng quê Xô-viết”, bộ sưu tập ảnh “Mát-xcơ-va”, các bản nhạc và bài hát Xô-viết, máy chiếu phim lưu động kèm các bộ phim được lồng tiếng Pháp “Vladimir Ilyich Lenin”, “Ngày 1 tháng 5 năm 1949”, cũng như (có lẽ dành cho những người cách mạng từng học tập ở Liên Xô và thông thạo tiếng Nga) các phim “Những ngày Volochayev”, “Sự sụp đổ của Berlin”, “Bí thư huyện ủy”, “Thép đã tôi thế đấy”, “Alisher Navoi”, “Arshin mal alan”. Ngoài ra, để gửi sang Việt Nam, người ta dự định phân bổ ba máy hát đĩa kèm theo đĩa nhạc, một máy thu thanh, cũng như các vật dụng đội thiếu niên (cờ, kèn, trống, khăn quàng đỏ, cờ nhỏ, huy hiệu thiếu niên, v.v.) [RGASPI. Ph. 17. Op. 3. D. 1080. L. 78, 259; 2, tr. 338–339].

Trong suốt cả năm, các tài liệu tuyên truyền đã được gửi vào rừng rậm Việt Nam theo danh sách đã định, việc VOKS gửi đi các tài liệu này được kiểm soát bởi Ủy ban Đối ngoại của Ban Chấp hành Trung ương ĐCS(b). Dựa trên nội dung của bản báo cáo mật được lập ngày 16 tháng 3 năm 1951, có thể thấy rằng kế hoạch gửi tài liệu tuyên truyền thậm chí còn vượt mức: ngoài các ấn phẩm định kỳ, đĩa hát, phim điện ảnh và vật phẩm thiếu niên, người ta còn gửi đi các bộ sưu tập tranh biếm họa chính trị Xô-viết, bộ sưu tập ảnh “Cung văn hóa mang tên Shahumyan” và các tài liệu khác được thiết kế cho nhận thức trực quan về những thành tựu của Liên Xô [RGASPI. Ph. 17. Op. 137. D. 740. L. 30–31; 14, tr. 85–86, 91–92].

Ngoài ra, trong các quỹ lưu trữ của RGASPI còn có hai tài liệu khác liên quan đến lĩnh vực tư tưởng trong quan hệ Xô - Việt: các bức thư của Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Ban Chấp hành Trung ương ĐCS(b) V.G. Grigoryan gửi I.V. Stalin, trong một bức thư (đề ngày 8 tháng 5 năm 1951), ông đã đề nghị cho phép gửi sang Việt Nam (theo yêu cầu của liên đoàn thanh niên địa phương) bộ phim điện ảnh Xô-viết “Tuổi trẻ thế giới” bằng tiếng Pháp. Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương ĐCS(b) đã thảo luận cụ thể về vấn đề cử một đoàn đại biểu gồm các thành viên của tổ chức này sang Liên Xô bằng kinh phí của bên tiếp nhận. Đoàn thanh niên Việt Nam được mời sang Liên Xô dựa trên quyết định ngày 13 tháng 8 năm 1951 [RGASPI. Ph. 17. Op. 3. D. 1090. Biên bản số 83, câu hỏi số 105]. Có lẽ, các thành viên trong đoàn đã xem bộ phim được nhắc đến ở Mát-xcơ-va, và khi trở về Việt Nam, họ đã có mong muốn để những đồng bào khác cũng được xem bộ phim đó. Trong một bức thư khác, xuất phát từ yêu cầu của những “đồng chí Việt Nam”, người ta đề nghị tổ chức chiếu các bộ phim từ Liên Xô tại các vùng được giải phóng và cử đến đó một nhóm các nhà quay phim Xô-viết để quay một bộ phim tài liệu về cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Vị đạo diễn Xô-viết đó chính là nhà làm phim tài liệu nổi tiếng Roman Karmen, người đã thực hiện chuyến đi đến các vùng của Việt Nam được giải phóng bởi những người ủng hộ Hồ Chí Minh và quay bộ phim tài liệu “Việt Nam” ở đó.

Gắn liền với mỗi bức thư, V.G. Grigoryan đã đính kèm các dự thảo nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương ĐCS(b) đã được chuẩn bị trước về các vấn đề này [RGASPI. Ph. 82. Op. 2. D. 1156. L. 121–125].

Như có thể thấy từ thông tin dẫn trên, các quyết định về việc gửi các tài liệu có nội dung tư tưởng sang Việt Nam được đưa ra ở cấp độ cao nhất. Sự tỉ mỉ đến ngạc nhiên mà Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương ĐCS(b) phê duyệt số lượng chính xác các đĩa hát, ấn phẩm định kỳ, máy chiếu phim lưu động, tên gọi cụ thể của các bộ phim truyện, và các tài liệu tuyên truyền khác để bổ sung cho các “góc đỏ” tại các căn cứ du kích hoặc các địa điểm khác thích hợp cho công việc tuyên truyền, quả thực là điều đáng chú ý.

Khát vọng của các nhà lãnh đạo Liên Xô muốn được nhận diện ở Việt Nam là hoàn toàn dễ hiểu, với mục đích đó, bản khắc kẽm của các bức ảnh chính thức của họ đã được gửi đi. Tuy nhiên, gánh nặng tư tưởng mà bộ sưu tập ảnh “Cung văn hóa mang tên Shahumyan” hoặc album “Nông phụ Xô-viết” phải thực hiện lại gây ra sự khó hiểu. Có cảm giác rằng các quan chức Xô-viết đang thuyết phục cấp trên gửi những thứ đã tồn đọng trong kho hàng thành phẩm, không được các tổ chức thương mại Xô-viết ưa chuộng. Giả định này được xác nhận gián tiếp bởi thông tin từ phó tiến sĩ sử học A.V. Simonenok, người đã nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề phát triển quan hệ văn hóa giữa Liên Xô và Thái Lan — quốc gia láng giềng với Việt Nam. Trong Lưu trữ Nhà nước Liên bang Nga, bà đã phát hiện ra thông tin cho thấy VOKS đã gửi các tài liệu tuyên truyền tương tự sang Thái Lan, kể cả bằng tiếng Nga. Cần tính đến thực tế là Thái Lan là một quốc gia mà ở mọi cấp độ đều thống trị hệ tư tưởng chống cộng [15, tr. 84].

Có cảm giác rằng đối với các quan chức thực hiện “nhiệm vụ của đảng”, điều quan trọng nhất là báo cáo trước cấp trên, đôi khi không cần suy nghĩ xem các tài liệu đó có thực sự cần thiết ở vùng Đông Dương xa xôi hay không. Và những quan niệm về Liên Xô khó có thể trở nên thực tế hơn sau khi xem một bộ phim tuyên truyền hoặc đọc một bài báo trên tạp chí “Thời đại mới”, huống hồ là các du kích thông thường hầu như không biết tiếng Pháp. Rất có thể, các tài liệu này nhắm đến tầng lớp lãnh đạo cấp cao và trung cấp của VNDCCH, các nhà tuyên truyền từ tầng lớp trí thức địa phương đã chuyển sang hàng ngũ cộng sản, những người có nhiệm vụ thích ứng các văn bản nhận được cho phù hợp với nhu cầu của những người cách mạng “thường” và sử dụng chúng trong công tác tuyên truyền miệng.

Tất cả những điều liệt kê trên có thể được tính vào ưu điểm của các nhà tuyên truyền đảng Xô-viết, những người không bỏ mặc những người cùng chí hướng ở Việt Nam trong giai đoạn khó khăn của cuộc đấu tranh vũ trang chống lại người Pháp và chế độ Bảo Đại.

Ở Việt Nam sau khi sùng bái cá nhân Stalin bị lên án, nhiều năm sau, người ta vẫn hoài niệm nhớ về những thời điểm mà “lãnh tụ của các dân tộc” đưa ra những chỉ dẫn “vô giá, duy nhất đúng” cho những người theo đuổi ông ở đất nước này. Vào thời kỳ đó, những người mang “tri thức thiêng liêng” đối với người Việt Nam đã trở thành Mao Trạch Đông và Enver Hoxha, những người không từ bỏ di sản của Stalin, trong khi “thầy tế” chính của “giáo lý duy nhất đúng” cho nhân dân của mình lại chính là Hồ Chí Minh, người đã duy trì tư cách này cho đến khi qua đời vào đầu tháng 9 năm 1969.

Như một giải pháp thay thế cho kinh nghiệm tư tưởng của Liên Xô và Trung Quốc, ở Việt Nam từ cuối những năm 1940 – đầu những năm 1950 đã bắt đầu phát triển các phương pháp công tác tư tưởng và giáo dục của riêng mình. Chẳng hạn, các sùng bái đối với các nhà cách mạng địa phương, những người chiến đấu dũng cảm chống thực dân và hy sinh trong cuộc đấu tranh chống lại chúng, đã được tạo ra [16, tr. 167–176; 17].

Kết quả là sau năm 1956, không còn cần bất kỳ sự hỗ trợ tư tưởng nào từ một quốc gia “theo chủ nghĩa xét lại”. Những ảo tưởng cuối cùng về việc Liên Xô quay trở lại con đường “theo kiểu Stalin” đã tiêu tan vào mùa hè năm 1957 sau khi loại bỏ khỏi quyền lực cái gọi là “nhóm phản đảng”. Mối quan hệ giữa hai nước từ đó được xây dựng với trọng tâm đặt vào cấu phần kinh tế, và sau đó là cấu phần quân sự, điều vốn cần thiết để thực hiện ý tưởng thống nhất Việt Nam dưới quyền lực của những người cộng sản.

Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo Việt Nam vẫn cư xử với các đồng nghiệp Xô-viết theo đúng các chuẩn mực của “sự lịch sự phương Đông” và phép tắc “của đảng”, gây ra cho N.S. Khrushchev và sau đó là L.I. Brezhnev những cảm xúc tích cực là chính. Kết quả là, Hồ Chí Minh đã được phép làm điều mà chưa bao giờ được tha thứ cho Mao Trạch Đông hay nhà lãnh đạo Albania Enver Hoxha — đó là sự không sẵn lòng mang tính nguyên tắc trong chính sách đối nội nhằm sao chép kinh nghiệm của Liên Xô thời hậu Stalin trong công cuộc “xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Ở Việt Nam, người ta tiếp tục sử dụng phần kinh nghiệm tư tưởng của Liên Xô liên quan đến “thời đại của Stalin” hoặc nhìn chung không mâu thuẫn với các chỉ thị tư tưởng trước đó.

Theo quan điểm của chúng tôi, chiến thuật của Hồ Chí Minh trong quan hệ với Liên Xô là đúng đắn nhất trong giai đoạn lịch sử đó và đáp ứng ở mức độ cao nhất các lợi ích quốc gia của bộ phận nhân dân Việt Nam nằm dưới quyền tài phán của VNDCCH.

Về phần sự hỗ trợ tư tưởng của Liên Xô dành cho Việt Nam, có lẽ không đáng để đánh giá quá cao nó. Sự hỗ trợ ấy chắc chắn đã đóng một vai trò tích cực nhất định trong quá trình giáo dục theo tinh thần “cộng sản” cho cư dân ở các vùng dưới sự kiểm soát của những người ủng hộ Hồ Chí Minh và sự hội nhập đầy đủ hơn vào khối xã hội chủ nghĩa, nhưng nó hoàn toàn không trở thành một yếu tố quyết định nào trong quá trình hình thành mô hình phát triển chính trị “mang tính Việt Nam”.