I. N. SELIVANOV - CÁC CHUYẾN THĂM HÀ NỘI VÀ BẮC KINH CỦA A. I. MIKOYAN SAU ĐẠI HỘI 20 CỦA ĐCSLX
I. N. SELIVANOV Tiến sĩ Khoa học Lịch sử, Đại học Quốc gia Kursk
(Lưu ý: tài liệu tham khảo từ các sử gia tư sản nước Nga - không phản ánh hoàn toàn sự thật, mà là góc độ nghiên cứu của họ)
Từ khóa: quan hệ Xô - Việt, quan hệ Xô - Trung, chính sách đối ngoại của Liên Xô sau Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô (CPSU), những sai lầm trong xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đại hội lần thứ XX của Đảng Cộng sản Liên Xô, diễn ra vào tháng 2 năm 1956, đã trở thành một cột mốc đặc biệt trong quan hệ của Liên Xô với các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Á, làm suy yếu đáng kể ảnh hưởng của Liên Xô tại khu vực này. Mặc dù đại đa số các "đảng anh em", dù một số chỉ là trên hình thức, đã ủng hộ các quyết định của Đại hội, họ vẫn đón nhận với sự lo lắng những thông tin về việc phê phán sùng bái cá nhân I. V. Stalin và những phương pháp mà ông đã sử dụng khi thực hiện đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội cả ở Liên Xô cũng như ở các "nước dân chủ nhân dân" tại Đông Âu và Đông Á.
Phản ứng tiêu cực nhất được ghi nhận ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHND Trung Hoa), Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (CHDCND Triều Tiên) và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH), những quốc gia chưa từng có kinh nghiệm phát triển dân chủ trong lịch sử và coi "mô hình Stalin" về chủ nghĩa xã hội như một sự "tái sinh" tiếp theo của hệ thống chính trị phương Đông truyền thống. Lo sợ mất đi sự hỗ trợ kinh tế và quân sự của Liên Xô, các nhà lãnh đạo của họ vẫn buộc phải công khai tán thành các quyết định của Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô.
Đối với nhiều người trong số họ, nảy sinh mối đe dọa thực sự trở thành nạn nhân của việc thanh trừng chính trị và bị gạt ra khỏi bộ máy quyền lực, như đã từng xảy ra trong giai đoạn 1948 - 1952 khi chuẩn bị các phiên tòa ở một số nước Đông Âu chống lại những người ủng hộ I. B. Tito.
Nỗ lực không thành công nhằm loại bỏ Kim Nhật Thành khỏi quyền lực dưới chiêu bài phê phán sùng bái cá nhân ông đã diễn ra vào mùa hè năm 1956 tại CHDCND Triều Tiên trong một kỳ họp toàn thể của Đảng Lao động cầm quyền. Trước phiên họp này, Kim Nhật Thành, để tranh thủ sự ủng hộ cho đường lối của mình, đã thực hiện các chuyến thăm tới hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, cũng như tới Liên Xô và Mông Cổ. Vì lý do nào đó, CHND Trung Hoa và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã không nằm trong chuỗi hành trình này.
Đối với các nhà lãnh đạo CHND Trung Hoa, vào thời điểm đó, họ đã xác định rõ ràng sự ủng hộ của mình đối với vị lãnh tụ duy nhất - Mao Trạch Đông - và lúc đầu chỉ giới hạn ở việc khẳng định chung về "những hậu quả tiêu cực" của sùng bái cá nhân, cố gắng quy chúng về những "sai lầm" chủ quan của I. V. Stalin, trước hết là trong các vấn đề liên quan đến đất nước của họ.
NHỮNG "SAI LẦM" TÀN KHỐC VÀ VỊ ĐẠI SỨ LO ÂU
Có lẽ ở vào tình thế khó khăn nhất là Bắc Việt Nam, nơi lãnh tụ không thể tranh cãi Hồ Chí Minh, dựa vào sự ủng hộ rộng rãi của quần chúng, đã tìm cách thực hiện các cải cách quy mô lớn trong nông nghiệp trên cơ sở "chương trình nông nghiệp của Đảng Lao động Việt Nam" đã được nhất trí cá nhân với I. V. Stalin và V. M. Molotov vào năm 1952. Luật về việc thực hiện chương trình này trên lãnh thổ các khu vực do chính phủ VNDCCH kiểm soát đã được thông qua vào tháng 12 năm 1953. Khẩu hiệu chính của cải cách - "Người cày có ruộng" - được dự kiến thực hiện chủ yếu thông qua việc tịch thu đất đai nông nghiệp thuộc sở hữu của người Pháp và các địa chủ trung thành với họ. Tuy nhiên, như thường xảy ra trong những trường hợp như vậy, chính quyền địa phương, đặc biệt là sau khi Việt Nam bị chia cắt vào năm 1954 thành hai phần theo vĩ tuyến 17, đã dần dần đưa cả những nông dân trung bình và thậm chí nông dân nghèo tỏ ý bất bình với chế độ mới vào danh mục địa chủ và "kẻ thù".
Từ đầu năm 1956, các cuộc đàn áp quy mô lớn chống lại "kẻ thù của chủ nghĩa xã hội" đã được tiến hành trên cả nước, chính là hậu quả của những cải cách đang được thực hiện ở nông thôn. Sau đó, guồng máy này bắt đầu bao trùm cả cư dân thành phố, bao gồm cả các đảng viên của đảng cầm quyền. Các nhà lãnh đạo VNDCCH khi đó cũng hướng tới ý định "tăng tốc" đưa miền Bắc Việt Nam đi theo con đường xã hội chủ nghĩa và làm gương cho "người miền Nam".
Các quyết định của Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô đã gây ra cú sốc thực sự cho ban lãnh đạo VNDCCH. Tương lai phát triển chính trị của đất nước mà Hồ Chí Minh muốn thấy là thống nhất và toàn vẹn đã bị đặt dấu hỏi. Các cuộc tổng tuyển cử đã được dự kiến vào năm 1956, và như nhiều nhà quan sát nhận định, Đảng Lao động Việt Nam dưới sự lãnh đạo của vị lãnh tụ dày dạn kinh nghiệm chắc chắn sẽ giành chiến thắng áp đảo trước những người ủng hộ tay sai của Mỹ là Tổng thống miền Nam Việt Nam Ngô Đình Diệm. Và chính trong bối cảnh đó, những người ủng hộ Ngô Đình Diệm đã có được một lập luận "đanh thép": Việt Nam thống nhất sẽ trở thành một "chế độ độc tài toàn trị kiểu Stalin" với tất cả những hậu quả kéo theo cho người dân.
Uy tín của Hồ Chí Minh trong mắt người dân miền Nam bắt đầu giảm sút. Hơn nữa, những thành công lớn trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc không được ghi nhận do một loạt các lý do cả khách quan và chủ quan. Theo một số nguồn tin, trong quá trình thực hiện "cải cách ruộng đất", cứ hai đảng viên Đảng Lao động thì có một người bị đàn áp. Hàng chục ngàn người đã phải làm việc trong điều kiện khắc nghiệt tại các trại gọi là cải tạo. Sự cuồng tín của những "nhà cải cách" địa phương được thổi bùng lên bởi các cố vấn Trung Quốc, những người đã được cử đến VNDCCH vào năm 1953.
VỊ ĐẠI SỨ LO ÂU
Và rồi một đại sứ mới đầy năng lượng của Liên Xô xuất hiện với những quan điểm của riêng mình về những việc cần làm và không cần làm khi xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Mikhail Vasilievich Zimyanin đã trình quốc thư lên Hồ Chí Minh vào tháng 3 năm 1953. Đại sứ tiền nhiệm A. A. Lavrishchev hoặc đã lờ đi thông tin liên quan gửi đến Đại sứ quán Liên Xô tại Hà Nội mở vào mùa hè năm 1954, hoặc các báo cáo của ông gửi về Moscow (nếu có) đã không gây được sự quan tâm ở đó.
Trong thời gian làm công tác ngoại giao tại VNDCCH, Mikhail Vasilievich Zimyanin đã thể hiện mình từ khía cạnh tích cực. Ông nhiều lần gửi các điện tín báo động về tình hình tại nước sở tại về Moscow, nhưng ở Điện Kremlin, nơi đang bận rộn chuẩn bị thực hiện các quyết định của Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô, ban đầu họ cố gắng không chú ý đến các tín hiệu của ông và thậm chí còn bày tỏ thái độ tiêu cực về chúng. Có lẽ, thái độ chủ quan đối với một người không may mắn, dù không phải do ý muốn của mình, trên con đường tiến tới đỉnh cao đảng phái đã ảnh hưởng đến điều đó. Trước khi được bổ nhiệm vào vị trí này, Zimyanin, người chỉ mới 41 tuổi, đã giữ chức Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản (b) Belarus, năm 1952 được bầu làm Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Nhưng sau đó sự nghiệp đang bắt đầu rực rỡ đã đi xuống, phần lớn là vì sau cái chết của Stalin, ứng cử của ông cho vị trí Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng Cộng sản Belarus đã bị L. P. Beria, người bị bắt vào tháng 6 năm 1953, vận động hành lang vì những lý do riêng của mình, có thể liên quan đến quá khứ hoạt động du kích của Zimyanin. Khi đó, Zimyanin được chuyển công tác về Moscow, làm việc tại Bộ Ngoại giao Liên Xô, nơi ông giữ chức Trưởng phòng. Sau Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô, Zimyanin mất tư cách Ủy viên Trung ương, nhưng được bầu vào thành viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Ông giữ chức Đại sứ tại VNDCCH cho đến năm 1958. Ngầm định, các quan chức đảng và nhà nước cao cấp được cử đến các quốc gia xa xôi khỏi Liên Xô đều bị coi là "thất sủng". Thu thập được với sự giúp đỡ của các nhân viên đại sứ quán và tình báo nước ngoài một số lượng lớn sự kiện không mấy tốt đẹp về ban lãnh đạo miền Bắc Việt Nam, Zimyanin đã gửi một bức điện mã hóa tương ứng về Moscow cho N. S. Khrushchev. Theo chứng nhân, Khrushchev đã không tin và trong cơn nóng giận đã thốt lên: "Cậu nhóc này viết cái quái gì thế?".
"MỔ XẺ" VÀ GIẢI THÍCH
Tuy nhiên, vị đại sứ vẫn kiên quyết, và Khrushchev đã quyết định sau khi kết thúc các chuyến thăm của A. I. Mikoyan tới các nước Nam Á, sẽ cử ông đến Hà Nội để trực tiếp làm rõ tình hình. Nhà hoạt động đảng và nhà nước Xô viết này trong những năm đó thường xuyên thực hiện các nhiệm vụ đối ngoại nhạy cảm, và nhiều người nhớ đến ông qua bài phát biểu tại Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô. Ngay cả trước khi có báo cáo mật của Khrushchev, khi phát biểu trong phần thảo luận về báo cáo tổng kết, ông, cụ thể, đã chỉ trích công tác tuyên truyền của đảng dựa trên "Giáo trình tóm tắt lịch sử Đảng Cộng sản (b) Liên Xô", cũng như tình trạng đáng buồn của ngành Đông phương học Xô viết, vốn không đáp ứng được mức độ quan hệ ngày càng mở rộng của Liên Xô với các nước phương Đông.
Để không gây ra những câu hỏi và suy đoán dư thừa, chuyến đi "thanh tra - kiểm soát" của Mikoyan đã được ngụy trang dưới hình thức chuyến thăm chính thức của một trong những nhà lãnh đạo cao cấp của Liên Xô tới một quốc gia thân thiện.
Phải nói thêm rằng, Mikoyan có quen biết cá nhân với Hồ Chí Minh. Ông đã tham gia buổi tiếp Hồ Chí Minh tại Moscow trong chuyến thăm bí mật của nhà lãnh đạo Việt Nam vào năm 1950 và đã có những lời không tán thành trong vòng đồng nghiệp của mình rằng Stalin đã "ép" Hồ Chí Minh phải đổi tên Đảng Cộng sản thành Đảng Lao động, bất chấp sự phản đối của người sau. "Về mặt thực tế, không thể áp đặt các cách diễn đạt", Mikoyan tuyên bố tại một cuộc họp của Đoàn Chủ tịch Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô khi trao đổi ý kiến về dự thảo báo cáo tổng kết tại Đại hội XX của Đảng.
Không biết liệu A. I. Mikoyan và Hồ Chí Minh có liên lạc với nhau trong chuyến đi bí mật thứ hai của Hồ Chí Minh tới Liên Xô vào mùa thu năm 1952, trong những ngày diễn ra Đại hội XIX Đảng Cộng sản Liên Xô hay không, nhưng vào mùa hè năm 1955, trong chuyến thăm chính thức thứ ba của Chủ tịch VNDCCH tới Moscow, họ đã gặp nhau, thảo luận về triển vọng và khả năng hỗ trợ kinh tế của Liên Xô cho VNDCCH.
Có vẻ như giữa Mikoyan và Hồ Chí Minh đã hình thành mối quan hệ bình đẳng, nếu không muốn nói là thân thiết, nhất là khi cả hai đều được coi là những bậc thầy về thỏa hiệp chính trị.
Khi đến Hà Nội vào ngày 2 tháng 4, Mikoyan lúc đầu có thái độ tiêu cực đối với Zimyanin đang đón ông tại sân bay. Theo lời của người sau, "đã có một cuộc tranh cãi, thậm chí là lăng mạ", nhưng sau cuộc trò chuyện thẳng thắn đầu tiên, Mikoyan hiểu rằng mình lại rơi vào vai trò quen thuộc từ thời Stalin, dùng ngôn ngữ hiện đại là "nhà quản lý khủng hoảng".
Để không tự chịu trách nhiệm toàn bộ và không làm phật lòng các nhà lãnh đạo CHND Trung Hoa, ông đã yêu cầu Hồ Chí Minh mời đại diện lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc đến Hà Nội để cùng nhau thảo luận về những vấn đề tồn đọng. Vì các vấn đề kinh tế, bao gồm cả những vấn đề liên quan đến Việt Nam, do Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Trần Vân phụ trách, nên sự lựa chọn đã rơi vào ông. Ông này đã nhanh chóng bay đến Hà Nội và cùng với Đại sứ Trung Quốc tại VNDCCH La Quý Ba tham gia cùng các đại diện Liên Xô.
Những người tháp tùng Mikoyan đã viết nhật ký chi tiết về thời gian lưu trú của ông, trong đó bao gồm toàn văn tất cả các điện tín ông gửi từ Hà Nội về Moscow. Theo những ghi chép này, Mikoyan cùng với Trần Vân đã tham gia năm cuộc họp của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và phát biểu tại cuộc mít tinh 150.000 người về tình hữu nghị Xô - Việt, được tổ chức để vinh danh chuyến thăm của ông tại quảng trường trung tâm Hà Nội - Ba Đình.
Cuộc họp đầu tiên của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã khai mạc vào ngày các đại diện Liên Xô đến. Theo báo cáo về Moscow, A. I. Mikoyan và Trần Vân quyết định phát biểu tại cuộc họp này với "đường lối thống nhất về các vấn đề phát triển cách mạng Việt Nam".
Bày tỏ quan điểm chung, Trần Vân tuyên bố rằng các đồng chí Việt Nam không nên nhảy vọt qua các giai đoạn phát triển cần thiết của đất nước mình, đồng thời trích dẫn câu nói của Mao Trạch Đông: "Nên nói ít về chủ nghĩa xã hội, mà làm nhiều hơn".
Sau đó, Tổng Bí thư Trung ương Đảng Lao động Việt Nam Trường Chinh và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp được mời phát biểu. Theo quan sát của Mikoyan, họ có "xu hướng thúc đẩy xây dựng chủ nghĩa xã hội". Trường Chinh, khi lập luận cho quan điểm của mình, đã trích dẫn các bài phát biểu của các nhà lãnh đạo CHDC Đức và CHDCND Triều Tiên, phù hợp với quan niệm của ông về vấn đề này, còn Võ Nguyên Giáp phát biểu theo hướng "với việc hoàn thành cách mạng ruộng đất trong năm nay, cách mạng dân chủ tư sản ở VNDCCH cũng sẽ kết thúc và giai đoạn phát triển cách mạng xã hội chủ nghĩa sẽ bắt đầu". A. I. Mikoyan viết về Moscow: "Đối với những đồng chí có sự quan tâm lớn đến các vấn đề lý luận này, đã được giải thích theo tinh thần chỉ thị của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô", sau đó "... tất cả các đồng chí phát biểu đều bày tỏ sự tán thành nhất trí với những suy nghĩ được tôi và đồng chí Trần Vân trình bày, và gửi lời cảm ơn".
Ngày hôm sau đã diễn ra cuộc họp thứ hai của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, tại đó Mikoyan và Trần Vân đã chỉ ra cho các đồng nghiệp miền Bắc Việt Nam sự cần thiết phải "tăng cường các mối quan hệ kinh tế và văn hóa với miền Nam Việt Nam và mọi cách củng cố ảnh hưởng của VNDCCH ở đó", vì với sự rút lui của người Pháp, cuộc đấu tranh cho Hiệp định Geneva vẫn chưa kết thúc. Việc rút quân đội viễn chinh Pháp khỏi miền Nam đất nước, theo họ, nên được thể hiện "như kết quả thắng lợi của VNDCCH, đã đập tan thực dân", "để Diệm không gặt hái những quả ngọt của thắng lợi này".
Các đại diện Liên Xô và Trung Quốc đã ủng hộ ý định của ban lãnh đạo VNDCCH nhằm cải thiện quan hệ với nước láng giềng Campuchia, vì Liên Xô đã thực hiện các bước để thiết lập quan hệ ngoại giao với quốc gia này. Về Lào, Mikoyan khuyên các đồng chí Việt Nam "hãy xem xét tình hình một cách cẩn thận" và hành động để tránh những cáo buộc của cộng đồng thế giới về việc vi phạm Hiệp định Geneva năm 1954 ở phần liên quan đến quốc gia này.
Vào nửa sau ngày hôm đó, tại quảng trường Ba Đình đã diễn ra cuộc mít tinh nhân dịp chuyến thăm VNDCCH của A. I. Mikoyan, được Hồ Chí Minh khai mạc bằng bài phát biểu của mình. Cụ thể, ông tuyên bố: "Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô đã tổng kết kinh nghiệm phong phú của nhân dân Liên Xô trong nhiều năm. Các Chỉ thị về kế hoạch 5 năm lần thứ sáu phát triển kinh tế quốc dân nhằm mục đích phát triển và thịnh vượng hơn nữa của đất nước đã được phê duyệt. Đại hội là nguồn cảm hứng cho các dân tộc trên toàn thế giới, làm sáng tỏ hơn nữa con đường đến thắng lợi cho nhân dân Liên Xô và đồng thời đã giúp nhân dân ta và nhân dân toàn thế giới xác định rõ con đường đấu tranh cho độc lập, dân chủ và hòa bình". Không có một lời nào được nói về việc phê phán sùng bái cá nhân.
Trong bài phát biểu của mình, nhà lãnh đạo miền Bắc Việt Nam đã khéo léo lồng ghép cuộc trò chuyện thẳng thắn diễn ra trước đó về cải cách ruộng đất và về sự thống nhất "hòa bình" của đất nước: "Trong năm nay, chúng ta phải hoàn thành thắng lợi cải cách ruộng đất, chuyển giao ruộng đất vào tay nông dân miền Bắc Việt Nam. Chúng ta phải thực hiện kế hoạch nhà nước, khôi phục nền kinh tế và bắt đầu phát triển văn hóa", cũng như "đấu tranh trên cơ sở Hiệp định Geneva vì sự thống nhất đất nước ta bằng con đường hòa bình".
Vào buổi tối, cuộc họp thứ ba của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã diễn ra. Trước đó, Mikoyan đã gửi bức điện tiếp theo của mình về Moscow, từ nội dung đó cho thấy "sẽ lấy đường lối không phải là thổi phồng xây dựng cơ bản ở VNDCCH, mà là một số cắt giảm". Người Trung Quốc, theo ông, đã đồng ý với đề nghị này.
Tại cuộc họp, Mikoyan đã phải trả lời chi tiết một loạt các câu hỏi khó nghe được Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp đặt ra trước đó.
Chúng nghe như sau: tại sao vấn đề sùng bái cá nhân Stalin trong quá trình làm việc của Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô "được đặt ra một cách bất ngờ, không có sự chuẩn bị trước, điều này làm nhiều nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam bất ngờ và gây ra sự hiểu lầm?"; tại sao Liên Xô lại phản ứng đối với báo cáo về sùng bái cá nhân và tại sao báo cáo này không mang tính cân bằng, tại sao chỉ đưa ra các mặt tiêu cực trong hoạt động của Stalin và bỏ qua những mặt tích cực?; liệu các thành viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô có biết về những sai lầm của Stalin hay chỉ mới biết bây giờ?; làm sao có thể xảy ra việc "phần lớn nội dung báo cáo này đã được công bố trên báo chí tư sản ngay cả trước khi các đồng chí VNDCCH nhận được báo cáo này?". Họ nghi ngờ, Mikoyan viết tiếp, và yêu cầu lời khuyên liệu có thể dịch báo cáo này sang tiếng Việt và cho các thành viên Trung ương biết hay không. "Tôi đã trả lời được... và đưa ra các giải thích thích hợp cho các vấn đề khác".
Ngày 5 tháng 4, với thời gian nghỉ, đã diễn ra các cuộc họp thứ tư và thứ năm của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Ban đầu, cùng với Mikoyan, các nhà lãnh đạo VNDCCH đã thảo luận về dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân của VNDCCH cho giai đoạn 1957 - 1959. Một lần nữa, sự thống nhất ý kiến hình thức với các đại diện CHND Trung Hoa lại được thể hiện, cùng với họ, các ý kiến góp ý cho kế hoạch đã được soạn thảo.
Trong quá trình làm việc của cuộc họp thứ năm, các nhà lãnh đạo VNDCCH lại yêu cầu "giải thích thêm" về các vấn đề sau: tại sao Báo cáo tổng kết của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô gửi đại hội không chứa đựng sự phê phán đối với Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô?; liệu các thành viên Trung ương có biết trước những sai lầm của Stalin hay không và lẽ nào không tìm được cơ hội để kịp thời sửa chữa chúng? Hồ Chí Minh tuyên bố rằng vì uy tín lớn của Stalin, tất cả những điều này khó mà giải thích cho các thành viên Đảng Lao động. "Sau những lời giải thích của tôi - Mikoyan nhấn mạnh - Hồ Chí Minh và các thành viên khác của Bộ Chính trị tuyên bố rằng đối với họ tất cả đã rõ ràng và họ hài lòng với những giải thích này".
"Vào cuối cuộc họp - A. I. Mikoyan báo cáo thêm trong bức điện của mình - Hồ Chí Minh nói rằng viện trợ không hoàn lại của Liên Xô thực tế đã cạn kiệt. Họ sẽ cần sự giúp đỡ trong tương lai. Tất nhiên, họ muốn rằng trong tương lai nó cũng là không hoàn lại, nhưng nếu khó khăn thì xin dưới dạng tín dụng có hoàn lại... Tôi nói rằng sau khi nhận được sự giúp đỡ không hoàn lại lớn như vậy từ chúng tôi và các nước khác, họ lẽ ra phải đứng vững và trong tương lai có thể không cần viện trợ. Đối với điều này, họ tuyên bố rằng, đáng tiếc là không thể thiếu sự giúp đỡ tiếp theo. Đồng chí Giáp đề cập đến vấn đề viện trợ bằng cách cung cấp từ Liên Xô vũ khí mà CHND Trung Hoa không sản xuất. Tôi trả lời rằng yêu cầu của họ đang được xem xét tại Moscow, nhưng vẫn chưa có kết quả".
Tiếp theo, nhà lãnh đạo Xô viết thu hút sự chú ý của những người có mặt vào các tình tiết sau.
Thứ nhất. Tại VNDCCH, 40 ngàn người đã bị khai trừ khỏi đảng. Cần lưu ý xem liệu có những sai lầm khi quy mô khai trừ lớn như vậy hay không, vì "điều này có thể củng cố trại đối lập với chính quyền dân chủ". Thứ hai. Các nhà lãnh đạo VNDCCH trong các bài phát biểu và báo chí định kỳ "ồn ào quá nhiều về việc đàn áp các phần tử phá hoại và lật đổ". Họ đã nhận được lời khuyên: "phải đàn áp phá hoại và tiêu diệt các phần tử lật đổ, nhưng không nên la hét về điều này, vì nó có thể được sử dụng ở miền Nam Việt Nam chống lại các phần tử dân chủ và các thành viên Đảng Lao động. Ngoài ra, điều này có thể tạo ra sự không chắc chắn về sự bền vững của chế độ".
Theo lời của Mikoyan, "các đồng chí Việt Nam đã đồng ý với những nhận xét này". Cùng ngày hôm đó, Hồ Chí Minh đã trao cho người đứng đầu đoàn đại biểu Liên Xô một bức thư gửi Đoàn Chủ tịch Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, trong đó ghi nhận rằng "đồng chí Mikoyan đã giúp chúng tôi giải quyết nhiều vấn đề quan trọng", và bày tỏ sự tiếc nuối rằng "thời gian lưu trú của ông tại chỗ chúng tôi là quá ngắn".
Mikoyan đã làm cho các đồng sự miền Bắc Việt Nam hiểu rằng sự khủng bố đối với phe đối lập trong nước đối với chế độ của họ cần phải tiếp tục, nhưng cần thực hiện điều đó một cách thận trọng và không công khai. Kết quả là, "để nóng", một hội nghị toàn thể Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã được tổ chức tại Hà Nội; về hình thức, hội nghị đã lên án "những sai lầm" và thay vì người khởi xướng là Trường Chinh, Lê Duẩn đã được bổ nhiệm phụ trách cải cách, người không liên quan trực tiếp đến các vụ đàn áp vì vào thời điểm đó ông đang hoạt động bất hợp pháp tại miền Nam Việt Nam. Việc truy đuổi "những người không đồng tình" với chính sách của Đảng Lao động Việt Nam vẫn tiếp tục, nhưng như Mikoyan đã khuyên, là "không công khai".
NẠN ĐÓI KIỂU TRUNG QUỐC
Ngày 6 tháng 4, Mikoyan bay tới Bắc Kinh, nơi ông chờ đợi một cuộc gặp quan trọng khác - với Chủ tịch Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Mao Trạch Đông, Phó Chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ và Thủ tướng Chính phủ Chu Ân Lai.
Sau cái chết của Stalin, Mao Trạch Đông đã nhiều lần đưa ra các sáng kiến về việc tăng tốc độ hợp tác hóa nông nghiệp của CHND Trung Hoa. Giống như ở Việt Nam, từ mùa thu năm 1953 trên khắp Trung Quốc đã bắt đầu việc tịch thu nông sản của các nhà sản xuất trực tiếp. Động cơ cũng giống như ở Liên Xô vào cuối những năm 1920 - đầu những năm 1930: biến đất nước thành một cường quốc hùng mạnh. Chính quyền lý tưởng muốn để lại cho nông dân đủ gạo cần thiết cho sự tồn tại sinh lý - cái gọi là "chế độ ăn cơ bản" với số lượng 200 kg ngũ cốc một năm cho một người với triển vọng giảm xuống 110 - 140 kg. Trong trường hợp nông dân từ chối giao nộp "phần thừa", chính quyền địa phương được đề nghị sử dụng bạo lực, về điều này Mao Trạch Đông đã ra chỉ thị cho Trần Vân vào ngày 1 tháng 10 năm 1953.
Chỉ một năm rưỡi sau khi bắt đầu "chiếm đoạt", nạn đói đã bắt đầu trên cả nước. Ở một số nơi, người ta ăn vỏ cây, lá cây, cỏ rừng, bỏ mặc con cái vì không thể nuôi nổi. Nhiều nông dân đã chết vì đói. Đối với các thông tin báo động từ địa phương, Mao chỉ có một câu trả lời: "Chủ nghĩa Marx là một thứ khá cứng rắn". Từ giữa năm 1955, để tăng cường hơn nữa sự phụ thuộc của nông dân vào chính quyền, họ đã bị ép buộc gia nhập vào các hợp tác xã giống như các nông trang tập thể của Liên Xô. Đối với những người không đồng tình, các biện pháp đàn áp đã được áp dụng.
Vào tháng 1 năm 1956, tại CHND Trung Hoa đã xây dựng dự thảo kế hoạch 12 năm phát triển nông nghiệp, dự kiến tăng đáng kể sản lượng gạo. Trong khi đó, không dự kiến bất kỳ hiện đại hóa nông nghiệp nào và thậm chí cả việc tăng sản xuất phân bón. Vào thời điểm đó, hơn 90% nông dân đã làm việc trong các loại hợp tác xã khác nhau.
Mao trong vấn đề này đã gặp phải sự không đồng tình của gần như toàn bộ thành viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, bao gồm cả những người đồng sự thân cận nhất - Lưu Thiếu Kỳ và Chu Ân Lai. Trong những ngày này, cố vấn kinh tế chính của Liên Xô tại CHND Trung Hoa I. V. Arkhipov báo cáo về Moscow rằng Mao Trạch Đông, theo ý kiến của ông, không có bất kỳ ý niệm gì về kinh tế. Đồng thời, nhà lãnh đạo Trung Quốc, sử dụng các kênh ngoại giao, đã tuyên truyền những ý tưởng "nông nghiệp" của mình cho ban lãnh đạo một số nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Ví dụ, theo hồi ký của nhà lãnh đạo cộng sản Hungary M. Rakosi, Đại sứ Trung Quốc vào đầu năm 1956 theo sự ủy nhiệm của Mao Trạch Đông đã thông báo chi tiết cho ông về tiến trình cải cách ruộng đất, cụ thể là yêu cầu xem xét một sáng kiến "tiến bộ" như việc giữ lại cho các chủ đất lớn trước đây những mảnh đất nhỏ để canh tác bằng bàn tay của chính họ. Các yêu cầu về việc tăng tốc độ các cải cách xã hội chủ nghĩa cũng đã được mở rộng sang cả công nghiệp.
Những ý tưởng này đã được phản ánh rõ nét nhất trong bài phát biểu của Mao Trạch Đông ngày 6 tháng 12 năm 1955 "Về cuộc đấu tranh chống khuynh hướng hữu khuynh và bảo thủ" và trong lời nói đầu của ông cho tập hợp "Sự trỗi dậy xã hội chủ nghĩa ở nông thôn Trung Quốc". Vào tháng 1 năm 1956, nhà lãnh đạo Trung Quốc đã tuyên bố công khai rằng trong vòng ba năm tới "các cải cách xã hội chủ nghĩa" sẽ được hoàn thành trên toàn lãnh thổ CHND Trung Hoa. Trên khắp đất nước đã bắt đầu tuyên truyền các khẩu hiệu về xây dựng chủ nghĩa xã hội theo nguyên tắc "nhiều, nhanh, tốt và tiết kiệm hơn", "nghèo nàn là tốt!" v.v.
NHỮNG LỜI PHÀN NÀN CỦA BẮC KINH
Chính trong bối cảnh đó, tại Bắc Kinh đã biết về các quyết định của Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô, và sau đó - về sự bất bình của ban lãnh đạo Liên Xô đối với cải cách ruộng đất ở VNDCCH, được thực hiện dưới sự bảo trợ của CHND Trung Hoa, và bắt đầu điều chỉnh theo những luồng gió mới từ Moscow.
Một ngày trước khi Mikoyan đến, trong bài xã luận của cơ quan đảng chính "Nhân dân Nhật báo" đã chỉ ra rằng trong hoạt động của Stalin có 30% là sai lầm, còn 70% là công lao. Đồng thời, lời khen ngợi đã được dành cho ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô vì sự phê phán "vô tư" đối với những sai lầm của quá khứ.
Mao Trạch Đông trong cuộc gặp đầu tiên đã chỉ rõ cho Mikoyan những sai lầm của Stalin liên quan đến sự sùng bái cá nhân của ông. Ông chủ yếu quy chúng về sự không sẵn lòng của lãnh tụ Xô viết trong việc ủng hộ Đảng Cộng sản Trung Quốc và vai trò tiêu cực của Quốc tế Cộng sản trong lịch sử phong trào cộng sản Trung Quốc. Ví dụ, theo lời ông, do những sai lầm của Quốc tế Cộng sản và cá nhân Stalin, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã bị tổn hại nặng nề trong nửa đầu những năm 1930, trong thời gian nội chiến với những người ủng hộ Tưởng Giới Thạch. Hồng quân vào thời điểm đó đã giảm từ 300 ngàn xuống còn 25 ngàn chiến sĩ. "Mọi việc đã đi đến chỗ sụp đổ", Mao tuyên bố. Ngoài ra, ông lưu ý rằng lúc đó đã nhận được các chỉ thị sai lầm từ đối thủ chính trị chính của ông - Vương Minh, người đã thành công, sử dụng vốn tiếng Nga tốt và những phẩm chất "kẻ nịnh bợ lớn" của mình, chui vào lòng tin của Stalin và do đó gây ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình trong Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Sau đó, người đứng đầu chính phủ CHND Trung Hoa Chu Ân Lai tham gia vào cuộc trò chuyện. Theo ông, khi ở Moscow vào năm 1939 - 1940, ông đã không thể có được một cuộc gặp cá nhân với Stalin. Mao Trạch Đông nói thêm rằng, khi ở Moscow vào cuối năm 1949 - đầu năm 1950, ông cảm thấy Stalin không tin tưởng mình, mọi thứ đều toát lên vẻ bất bình của ông đối với ông. Lãnh tụ Xô viết so sánh người Trung Quốc với người Nam Tư và lúc đầu không muốn ký hiệp ước hữu nghị với CHND Trung Hoa. Ở Tân Cương, các đại diện Liên Xô đã gieo rắc sự hoài nghi đối với chế độ mới.
Mikoyan, khi báo cáo về những lời phàn nàn của các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc về Moscow, đã lưu ý rằng ông đã cố gắng làm dịu tình hình: "Tôi nói rằng sự đa nghi của Stalin đã đi quá xa trong những năm gần đây, đến mức ông ấy không chỉ đôi khi bày tỏ sự ngờ vực đối với Mao Trạch Đông, mà thậm chí còn không tin tưởng cả chúng tôi, những người đồng chí gần gũi nhất của ông ấy".
Mao Trạch Đông đáp lại rằng "bây giờ, sau Đại hội XX, họ dễ dàng hơn khi gọi mọi thứ bằng tên của chúng". Khi nói đến triển vọng của Cominform, nhà lãnh đạo Trung Quốc khẳng định rằng tổ chức này "không mang lại lợi ích mà ngược lại là có hại" và không nên thay thế nó bằng việc thành lập Cục Liên lạc, như các đại diện Đảng Cộng sản Liên Xô đề xuất.
Chu Ân Lai nhắc lại rằng trong thời gian lưu trú tại Moscow vào năm 1949 - đầu năm 1950 cùng với Mao Trạch Đông, họ đã đặt ra trước Stalin câu hỏi về khả năng Mông Cổ trở về thành phần của CHND Trung Hoa và rằng khi đó họ đã nhận được một câu trả lời "sai". Đổi lại, Lưu Thiếu Kỳ, phát triển chủ đề này, đã nhấn mạnh vào vết thương tâm lý mà người dân Trung Quốc đang "trải qua sâu sắc" do sự tách rời của Ngoại Mông khỏi Trung Quốc. Mikoyan đáp rằng về vấn đề này, tốt nhất hãy hỏi ý kiến của chính những cư dân Mông Cổ. Tất nhiên, phản ứng như vậy của một trong những nhà lãnh đạo cao cấp Xô viết rõ ràng không thể làm hài lòng các nhà lãnh đạo cộng sản Trung Quốc.
Các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể được khích lệ phần nào bởi tình tiết rằng vào ngày 7 tháng 4 năm 1956, A. I. Mikoyan nhân danh Liên Xô đã ký thỏa thuận về việc cung cấp cho CHND Trung Hoa viện trợ kinh tế bổ sung. Việc xây dựng các cơ sở dân sự và quân sự mới đã được dự kiến, bao gồm cả các nhà máy sản xuất vũ khí.
Nhìn chung, các nhà lãnh đạo VNDCCH đã tỏ ra cứng rắn và thẳng thắn hơn trong các đánh giá của họ về những hậu quả tiêu cực của việc vạch trần sùng bái cá nhân so với các đồng nghiệp Trung Quốc, những người đã phản ứng với sự thực dụng vốn có của họ.
Mikoyan đã làm cho hiểu rằng trong trường hợp công khai bày tỏ sự đồng ý với các quyết định của Đại hội XX, sự hỗ trợ kinh tế và quân sự quy mô lớn của Liên Xô đối với VNDCCH và CHND Trung Hoa sẽ được tiếp tục. Kết quả là, ở miền Bắc Việt Nam và Trung Quốc, không lâu sau đó đã tuyên bố về "tự do hóa" đường lối chính trị trong nước, ở quy mô hạn chế đã được cho phép một số "đối lập", cụ thể là ở CHND Trung Hoa đã triển khai chiến dịch tư tưởng với khẩu hiệu "Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng". Sau đó, những người tham gia của họ, những người tin vào sự nghiêm túc trong ý định của Hồ Chí Minh và Mao Trạch Đông, đã bị đàn áp.
Nhưng, sau khi giành được một thắng lợi tạm thời, Liên Xô đã mất đi sáng kiến tại khu vực này, vốn dần dần chuyển sang tay các nhà lãnh đạo CHND Trung Hoa, những người đã đặt dưới sự kiểm soát của mình gần như tất cả các đảng cộng sản ở Đông Nam Á.
Những ảo tưởng cuối cùng về sự hồi sinh mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Stalin ở Liên Xô đối với ban lãnh đạo Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam đã biến mất vào mùa hè năm 1957, khi cái gọi là "nhóm chống đảng" bị loại khỏi quyền lực. Vài năm sau, sự chia rẽ trong phong trào cộng sản quốc tế sẽ bắt đầu, và trong nhiều năm, mối quan hệ của Liên Xô với các quốc gia xã hội chủ nghĩa ở Đông Á sẽ có tính chất phức tạp.