Hồ Chí Minh và những người Trotskyist Trung - Việt. Vương Phàm Tây. HongKong.
(Tài liệu tham khảo - Trotskyist)
Hồ Chí Minh, nhiều người gọi ông là Mao Trạch Đông của Việt Nam, nhưng xét về vị trí và vai trò của ông, ông dường như còn là sự hội tụ của cả Trần Độc Tú và Mao Trạch Đông Trung Quốc vào làm một. Đồng thời, cuộc đời ông sinh ra đúng "gặp thời", mất đi cũng "đúng lúc" — ra đi khi sự nghiệp đang ở đỉnh cao — không giống như Mao Trạch Đông, bị sự thành công của chính mình làm cho hủ hóa, bộc lộ sự ngạo mạn và kiêu hăng. Do đó, bất kể ở Việt Nam hay ở nước ngoài, ông vẫn để lại trong ký ức mọi người hình ảnh của một lãnh tụ cách mạng hoàn mỹ nhất.
Được gọi là "Bác" thay vì gọi tên, Hồ Chí Minh dường như có sự khác biệt một trời một vực với Stalin — vị "thái dương" này, và Mao Trạch Đông — vị "đại cứu tinh" nọ.
Tuy nhiên, nếu bạn biết được thái độ của Hồ Chí Minh đối với phái Trotskyist Việt Nam, đặc biệt là nếu bạn được nhìn thấy ba bức thư mà ông viết từ Quế Lâm, Quảng Cảng (Quảng Tây) gửi cho các đồng chí người Việt vào mùa xuân năm 1939 liên quan đến phái Trotskyist Trung Quốc, thì bạn sẽ thấy rằng vị trưởng bối "từ bi và minh trí" này, trong thái độ đối với những người có ý kiến khác biệt trong hàng ngũ cách mạng, và trong nhận thức của ông đối với phái tả trong phong trào cộng sản quốc tế, thực ra hoàn toàn không có gì khác biệt so với cả hai ông Stalin và Mao.
Các nhà sử học tất nhiên phải khẳng định cống hiến to lớn của Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, đồng thời cũng buộc phải chỉ ra rằng ông từng thuộc về phe Stalin tồi tệ nhất trong cuộc đấu tranh phe phái của phong trào cộng sản quốc tế, và đã có ý thức chấp hành chính sách tội ác vu khống và tàn sát những người cách mạng chân chính của Stalin.
Chỉ ra và xác định thực tế này, không chỉ vì tính chân thực và công bằng của lịch sử, mà còn giúp ích rất nhiều cho việc hiểu một cách đúng đắn về người kế thừa của Hồ Chí Minh, tức là nhà đương cục Việt Nam hiện nay.
Hồ Chí Minh và Tạ Thu Thâu
Phong trào cộng sản Việt Nam, cũng giống như phong trào cộng sản Trung Quốc, từ rất sớm (dù có muộn hơn một chút) đã chia thành hai phái Stalin và Trotsky. Khoảng cuối thập niên 30 hoặc đầu thập niên 40, một số người cộng sản du học hoặc làm việc tại Pháp đã tiếp nhận chủ trương của phái Trotsky, thành lập tổ chức Trotskyist Việt Nam. Những người nổi tiếng nhất trong số này là Tạ Thu Thâu (trên sách báo ngoại văn, chúng ta thường thấy cái tên TA THU THAU, đây là phiên âm tiếng Việt của ba chữ Hán Tạ Thu Thâu). Người này đã trở về Việt Nam trước Chiến tranh thế giới thứ hai, hoạt động tích cực tại Sài Gòn và trở thành thủ lĩnh của công nhân Sài Gòn. Trong thời gian chiến tranh, ông bị bắt vào ngục. Sau khi Nhật đầu hàng, ông cùng tất cả các tù nhân chính trị được phóng thích. Ông lại lao vào chiến đấu, phát triển tổ chức cách mạng, đồng thời tham gia hoạt động chính trị công khai, được bầu làm ủy viên hội đồng thành phố Sài Gòn. Năm 1946, ông đột ngột mất tích tại Sài Gòn, cùng mất tích với ông còn có năm, sáu thủ lĩnh phái Trotsky nổi tiếng khác của Việt Nam.
Tạ Thu Thâu và những người khác rốt cuộc mất tích như thế nào, bị cơ quan nào bắt giữ, số phận của họ rốt cuộc ra sao, vào lúc đó không có cách nào biết chắc chắn. Tuy nhiên, sau đó qua các dấu hiệu khác nhau chứng tỏ rằng, họ đã bị Việt Minh (tổ chức chính trị quân sự của Đảng Cộng sản ở miền Nam Việt Nam) lúc bấy giờ hoạt động mạnh ở miền Nam dụ bắt và bí mật sát hại. Về việc này, phía Việt Nam lại chưa từng đưa ra bất kỳ sự khẳng định hay phủ định nào.
Nhân vật Tạ Thu Thâu ở nước ngoài, đặc biệt là ở Pháp, khá nổi tiếng. Ông có không ít người quen trong giới học giả và hoạt động chính trị phái tả ở Pháp. Họ quan tâm đến sự mất tích của Thâu, quyết tâm làm cho raẽ vụ án bí ẩn này.
Mùa hè năm 1946, Hồ Chí Minh để đàm phán với chính phủ Pháp về địa vị tương lai của Việt Nam đã đến Paris. Những người bạn Pháp của Tạ Thu Thâu bèn nhân cơ hội này đặt câu hỏi với Hồ Chí Minh, muốn làm rõ số phận của Tạ Thu Thâu. Quá trình của những cuộc gặp gỡ này gần đây đã được đăng tải trên tạp chí "Biên niên sử Việt Nam" xuất bản tại Paris. Họ tiết lộ một số chi tiết của vụ án này; và quan trọng hơn cả, chúng cho chúng ta thấy thái độ của Hồ Chí Minh đối với phái Trotsky và cá nhân Tạ Thu Thâu.
Người đầu tiên đến thăm Hồ Chí Minh là Daniel Guérin, nhà sử học từng viết tác phẩm nổi tiếng "Chủ nghĩa phát xít và Đại tư bản". Ông là bạn cũ của Tạ Thu Thâu. Trong cuốn sách mang tên "Phục vụ nhân dân thuộc địa" của ông, đã ghi chép lại quá trình cuộc gặp gỡ đó:
"Năm 1946 khi ông ấy ở Paris, tôi và Hồ Chí Minh từng có một cuộc nói chuyện lâu. Tôi vui vẻ cùng ông ấy ăn mừng sự giải phóng của Việt Nam; tuy nhiên niềm vui của chúng tôi lại bị bao phủ bởi một bóng đen, điều này không chỉ vì sự khác biệt về tư tưởng giữa chúng ta, mà còn vì vấn đề của Tạ Thu Thâu. Một số tín đồ chủ nghĩa Stalin quá nhiệt tình bên cạnh Hồ Chí Minh, lúc bấy giờ đang mưu sát Tạ Thu Thâu — cựu ủy viên hội đồng thành phố Sài Gòn ấy — vì lý do 'chủ nghĩa Trotsky' của ông ấy."
"Hồ Chí Minh nói: 'Ông ấy là một chí sĩ yêu quốc, vì cái chết của ông ấy, chúng tôi từng khóc.' Khi nói như vậy, Hồ Chí Minh thực sự rất xúc động, nhưng ông ấy ngay lập tức bổ sung rằng: 'Tuy nhiên, phàm là những người không tuân theo đường lối do tôi vạch ra, tôi buộc phải nghiền nát họ.'"
Người thứ hai từng nói chuyện với Hồ Chí Minh về Tạ Thu Thâu là một lão thành phái Trotsky người Pháp, RUDOLF PRAGER. Theo những hồi ức gần đây của ông về tình hình cuộc nói chuyện năm xưa, đại khái như sau:
"Tháng 7 năm 1946, Hồ Chí Minh tổ chức một cuộc họp báo tại khách sạn ở Paris nơi ông ở, trong đó ông nêu ra chính sách muốn sáp nhập Đông Dương vào Liên hiệp Pháp. Tôi đợi ông ở lối ra của đại sảnh họp báo, mời ông nói chuyện với tôi. Tôi tự giới thiệu mình là một thành viên của ban thư ký Đảng Cộng sản Quốc tế, nhân danh phong trào của chúng tôi, tôi đề nghị ông tiết lộ một chút về tình hình cái chết của Tạ Thu Thâu, bởi vì sự ra đi của ông ấy khiến chúng tôi vô cùng bất an. Ông ấy trả lời rằng: ông 'vô cùng tiếc nuối trước sự mất tích của Tạ Thu Thâu', bởi vì Tạ Thu Thâu là một 'người cách mạng không thể chê trách được'. Còn về việc ông ấy chết như thế nào, Hồ Chí Minh nói ông hoàn toàn không biết gì cả, bởi vì tình hình trong nước lúc bấy giờ hỗn loạn không thể kiểm soát nổi."
Người thứ ba đến nói chuyện với Hồ Chí Minh về vấn đề này là một nhà cách mạng Việt Nam, Hoàng Đôn Trí (HOANG DON TRI), ông là em trai của Hoàng Đôn Văn (HOANG DON VAN), người từng giữ chức Bộ trưởng Bộ Lao động trong chính phủ lâm thời của Việt Minh năm 1945. Về cuộc hội kiến đó, ông đã kể lại như sau:
"Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp, nhân danh các đồng chí của mình, tôi thỉnh cầu ông cho tôi một cuộc nói chuyện." "Trước tiên, chúng tôi bàn luận về mấy vấn đề khác nhau, sau đó, tôi đột ngột nêu ra vấn đề chính trong chuyến đến thăm ông lần này. Tôi nói: 'Thưa Chủ tịch, tôi là học trò cũ của Tạ Thu Thâu, ông ấy là một trong những người tốt nhất mà đời tôi từng biết, ông ấy yêu nhân dân Việt Nam, đặc biệt yêu các giai cấp nghèo khổ và bị bóc lột ở Việt Nam. Thế nhưng tại sao ông ấy lại bị giết? Rốt cuộc là ai đã giết ông ấy?'" "Hồ Chí Minh lúc đó có vẻ hơi ngạc nhiên, bởi vì không có người Việt Nam nào lại đi đặt câu hỏi này. Ông cầm một điếu thuốc lá, châm lửa, rồi trả lời rằng: 'Tạ Thu Thâu? (không hiểu vì lý do gì, ông phát âm chữ Thu — THU thành THỰC) Đúng vậy, cậu ta là người tốt. Cậu ta đã bị giết oan. Nhưng sao anh lại muốn nêu vấn đề này? Trong thời buổi náo loạn này, hàng vạn người đang chết đi, sao anh lại muốn đơn độc nêu cậu ta ra? Sao lại muốn gây ra sự bất hòa và chia rẽ ở bên trong nhân dân chúng ta đang chiến đấu này?'" "'Thưa Chủ tịch, Tạ Thu Thâu không phải là một người bình thường. Ông ấy đại diện cho một phái chính trị, đại diện cho một quan điểm có lợi cho đời sống và hành động của nhân dân mà hàng vạn người quan tâm. Ông ấy chết một cách mập mờ không rõ ràng, đã gieo rắc hạt giống nghi ngờ trong lòng nhân dân. Nếu chính phủ của ngài hoàn toàn không liên quan đến cái chết bi thảm của Tạ Thu Thâu, thì đem chân tướng công bố ra, đối với các mặt đều sẽ có lợi. Điều này sẽ làm tăng uy tín cho chính phủ của ngài, nhân dân sẽ đoàn kết chặt chẽ hơn nữa để chiến đấu giành tự do. Che đậy mập mờ, chỉ có thể khiến mọi người đoán già đoán non, không biết đâu mà lần.'" "Chủ tịch Hồ từ trước đến nay quen được tung hô ca ngợi, nghe thấy lời nói 'mất lịch sự xúc phạm' như thế này, rõ ràng cảm thấy rất không thoải mái. Ông hút mạnh mấy hơi thuốc, rồi nói: 'Các anh tuổi còn trẻ, có thành kiến bè phái'." "'Không, thưa Chủ tịch, chúng tôi không có thành kiến bè phái, chúng tôi năm 1944 phát động thành lập Tổng đại diện đoàn Việt Nam tại Pháp, bao gồm những người Việt Nam sinh sống tại Pháp, đây chính là bằng chứng cho thấy chúng tôi không có thành kiến bè phái. Chúng tôi yêu cầu dưới sự ủng hộ của chính phủ ngài, thành lập một ủy ban điều tra để điều tra xem ai phải chịu trách nhiệm về cái chết của Tạ Thu Thâu và các đồng chí của ông ấy, tôi tin là sẽ có lợi cho tất cả người Việt Nam.'" "Chủ tịch Hồ không đưa ra cho tôi một câu trả lời trực tiếp, đối với yêu cầu công bố chân tướng hay thành lập ủy ban điều tra do tôi đưa ra, ông đều không hứa hẹn, ông chỉ cho tôi một quả táo lớn." "'Quả táo lớn có bịt được miệng người ta không? Đương nhiên là không.'"
Tạ Thu Thâu và các đồng chí của ông lúc bấy giờ vì sao mất tích, số người mất tích cùng ông rốt cuộc là bao nhiêu, họ bị cơ quan nào bắt đi, họ bị hại ra sao, cũng như việc này rốt cuộc có quan hệ thế nào với Trung ương Việt Minh và bản thân Hồ Chí Minh — những vấn đề này, cho đến nay, chúng ta vẫn chưa thể đưa ra kết luận cuối cùng. Nguồn duy nhất liên quan đến việc này, chỉ là lời kể của một số thành viên phái Trotsky từ Việt Nam chạy trốn sang Pháp, cùng với một đoạn trong cuốn sách "Cách mạng Tháng Tám" do nhà đương cục Hà Nội xuất bản năm 1960. Cuốn sách này khi bàn về sự việc đó, hoàn toàn phù hợp với bản báo cáo của những người phái Trotsky trốn sang Pháp, đều nói rằng năm 1946 từng tiêu diệt đồng thời một số người phái Trotsky ở khá nhiều tỉnh của Việt Nam.
Về phương diện kỹ thuật của việc phái Trotsky Việt Nam bị "tiêu diệt", còn chờ sự điều tra tiếp tục của mọi người mới có thể đưa ra ánh sáng; thế nhưng phương diện chính trị của vấn đề này, tức là việc Hồ Chí Minh có nên gánh chịu trách nhiệm chính trị đối với cái chết thảm thương của Tạ Thu Thâu và những người khác hay không, thì điều đó đã được giải quyết một cách xác định: Hồ Chí Minh chính là kẻ chủ xướng cao nhất sát hại phái Trotsky Việt Nam. Bằng chứng ở đâu? Chính là ba bức thư mà ông viết cho các lãnh đạo Việt Minh vào năm 1939.
Ba bức thư từ Trung Quốc của Hồ Chí Minh
Bức thư thứ nhất
Các đồng chí thân mến:
Trước đây, trong mắt tôi và nhiều đồng chí, chủ nghĩa Trotsky dường như là một vấn đề đấu tranh phe phái bên trong Đảng Cộng sản Trung Quốc. Do đó, chúng ta không chú ý lắm. Nhưng khi chiến tranh bùng nổ chưa lâu, nói chính xác hơn là từ cuối năm 1936 trở đi, đặc biệt trong thời gian chiến tranh, tuyên truyền tội ác của phái Trotsky đã mở mắt cho chúng ta. Kể từ đó, chúng ta bắt tay vào nghiên cứu vấn đề này. Nghiên cứu của chúng ta đã thu được mấy kết luận sau đây:
Thứ nhất, vấn đề chủ nghĩa Trotsky không phải là một loại đấu tranh giữa các phái bên trong ĐCSTQ. Bởi vì, giữa những người cộng sản và những kẻ theo chủ nghĩa Trotsky không có điểm chung nào cả, tuyệt đối không có điểm chung nào. Đây là một vấn đề liên quan đến toàn thể nhân dân: [cuộc đấu tranh của phái Trotsky] là cuộc đấu tranh chống lại tổ quốc.
Thứ hai, những kẻ phát xít Nhật Bản và các nước ngoài khác biết điều này, chính vì thế, họ tìm cách tạo ra một số ý kiến khác biệt, nhằm đánh lừa dư luận, đả kích uy tín của những người cộng sản, khiến người ta tin rằng những người cộng sản và phái Trotsky thuộc cùng một chiến hào.
Thứ ba, phái Trotsky Trung Quốc cũng như phái Trotsky của các nước khác, không phải là một phái chính trị, càng không thể nói là đảng phái gì. Họ đơn thuần chỉ là một lũ lưu manh chuyên làm chuyện xấu xa, đơn thuần chỉ là một lũ sai nha bị phái phát xít Nhật cũng như phát xít quốc tế sai khiến.
Thứ tư, phái Trotsky ở tất cả các nước đều tự đặt cho mình một cái tên hay ho, để có thể che đậy hành động dơ bẩn của lũ phỉ đồ này. Ví dụ, ở Tây Ban Nha, chúng tự xưng là "Đảng Công nhân Thống nhất Mác-xít" (POUM). Các đồng chí có biết không, chính đảng này đã trở thành cơ quan mật thám phục vụ cho Franco ở Madrid, Barcelona và những nơi khác? Chính chúng đã tổ chức ra "Cột thứ năm" nổi tiếng đó, cái cơ quan làm mật thám cho quân đội phát xít Ý và Đức. Ở Nhật Bản, phái Trotsky tự xưng là "Đồng minh Mác, Ăn, Lê" (MEL). Phái Trotsky Nhật Bản hấp thu một số thanh niên vào tổ chức, rồi bán đứng họ cho cảnh sát. Chúng trăm phương nghìn kế chui vào Đảng Cộng sản Nhật Bản, mục đích là để phá hoại ĐCS từ bên trong. Theo tôi thấy, những người theo chủ nghĩa Trotsky ở Pháp hiện đang vây quanh phái "Cách mạng Vô sản", mục đích của họ chính là phá hoại Mặt trận Nhân dân. Về vấn đề này, tôi nghĩ, tin tức các đồng chí thu nhận được sẽ đáng tin cậy hơn tin tức tôi nhận được. Ở Trung Quốc chúng ta, các phần tử Trotsky chia nhau thuộc các tổ chức sau đây: "Đấu tranh", "Kháng Nhật", "Văn hóa và Hồng kỳ".
Các đồng chí có lẽ đã đọc cáo trạng xét xử phái Trotsky của Liên Xô, nếu chưa đọc, tôi xin các đồng chí hãy lấy những bản cáo trạng này ra đọc một chút, còn phải bảo bạn bè đều đọc một chút. Đọc những tài liệu này rất có ích. Nó sẽ giúp các đồng chí nhìn thấy bộ mặt thật xấu xa của chủ nghĩa Trotsky và các phần tử phái Trotsky. Ở đây, chúng ta hãy trích dẫn một số đoạn có liên quan trực tiếp đến Trung Quốc để các đồng chí xem.
Phần tử phái Trotsky Radek sau khi tuyên thệ trước tòa đã khai rằng, năm 1934 khi ông ta đến Tokyo với tư cách đại biểu Hội Chữ thập đỏ Liên Xô, một quan chức cao cấp của chính phủ Nhật Bản từng nói với ông ta rằng: "Chúng tôi đang chờ đợi phái Trotsky đưa ra một sự chuyển biến chiến lược. Ở đây tôi không nói chi tiết, tôi chỉ muốn nói với các ông rằng, chúng tôi chờ đợi phía phái Trotsky có hành động gì đó, có lợi cho việc chúng tôi can thiệp vào sự kiện Trung Quốc."
Theo Radek trả lời người Nhật đó rằng: "Tôi sẽ viết thư kể việc này cho Trotsky." Tháng 12 năm 1935, Trotsky đưa ra một số huấn lệnh cho tín đồ Trung Quốc của ông ta, nhiều lần nhấn mạnh câu này: "Đừng tạo ra trở ngại cho sự xâm lược Trung Quốc của người Nhật."
Chính là như thế đấy, các phần tử phái Trotsky Nga, từng sẵn sàng bán đứng một phần tổ quốc của họ — Siberia và các tỉnh duyên hải — cho người Nhật, bây giờ họ lại muốn bán đứng tổ quốc của chúng ta, Trung Quốc, cho người Nhật!
Các phần tử phái Trotsky Trung Quốc rốt cuộc làm những mưu mô gì? Các đồng chí chẳng phải đang nóng lòng muốn biết đó sao?
Tuy nhiên, các bạn thân mến, tôi chỉ có thể trả lời các đồng chí trong bức thư tiếp theo thôi, các đồng chí chẳng phải bảo tôi viết thư ngắn lại một chút sao?
Hy vọng sớm gặp lại.
P. C. Lâm.
Ngày 10 tháng 5 năm 1939 tại Quế Lâm.
Bức thư thứ hai
Các đồng chí thân mến:
Trước khi kể cho các đồng chí nghe về hoạt động của phái Trotsky Trung Quốc, trước hết hãy để tôi giới thiệu sáu thủ lĩnh của chúng, sáu kẻ phản bội công nhận hoạt động dưới danh nghĩa Quốc tế IV. Họ là Trần Độc Tú, Bành Thuật Chi, La Hán, Diệp Thanh, Trương Mộ Đào, Hoàng Công Độ.
Theo thứ tự thời gian, tôi thuật lại những việc mà chúng đã làm như sau:
Tháng 9 năm 1931, Nhật Bản bắt đầu xâm lược Mãn Châu. Nhưng kể từ lúc đó, cơ quan an ninh của Nhật Bản đã tiếp xúc với ba tên cầm đầu kể trên. Hai bên ký kết thỏa thuận: Phía phái Trotsky không tiến hành bất kỳ tuyên truyền phản Nhật nào; còn phía cơ quan an ninh Nhật Bản thì mỗi tháng trả cho đối phương ba trăm đồng nguyên, sau đó lại tùy theo "thành tích phục vụ" mà tăng thêm tiền phụ cấp.
Từ đó về sau, Trần Độc Tú và một bọn nhận tiền phụ cấp của người Nhật, dựng lên mấy tờ tạp chí, xuất bản một số cuốn sách nhỏ mỉa mai châm biếm, nói rằng "Sau khi Nhật Bản chiếm đóng Mãn Châu, muốn nhanh chóng giải quyết các vấn đề tồn đọng có tranh chấp, chúng hoàn toàn không có ý định chiếm đóng toàn bộ Trung Quốc."
Thế nhưng khi những quan điểm này của Trần Độc Tú vừa mới được truyền bá trên các ấn phẩm của chúng, thì quân đội Nhật Bản lại tiến công vào Thượng Hải vào tháng 1 năm 1932.
Phái Trotsky lúc này nói những gì? Chúng có thừa nhận bản thân bị lừa dối không? Chúng có ngừng hợp tác với kẻ chiếm đóng không? Tuyệt đối không! Khi Lộ quân 19 chiến đấu đẫm máu, bảo vệ tổ quốc, thì những kẻ phái Trotsky này lại tiếp tục làm hết tội ác này đến tội ác khác cả về ngôn luận lẫn hành động. Một mặt, chúng viết: "Cuộc chiến tranh ở Thượng Hải hoàn toàn không liên quan gì đến nhân dân. Nó không phải là cuộc chiến tranh dân tộc cách mạng. Nó là một cuộc chiến tranh giữa các đế quốc..." Mặt khác, chúng tung ra những lời đồn đại giả dối, đưa ra khẩu hiệu mang tính chất bại chủ nghĩa, tiết lộ bí mật quốc phòng, v.v.
Những việc chúng làm còn không chỉ dừng lại ở đó. Những phần tử phái Trotsky như HOA VAN KHOI và CUNG VAN THU (chú thích của người dịch: phiên âm là Hoa Văn Cái, Cung Văn Thu, dưới đây đều như vậy) có liên hệ bí mật với cảnh sát và chủ tử Nhật Bản, trà trộn vào phong trào đình công ở Thượng Hải, dùng mọi biện pháp để phá hoại phong trào đình công. Chúng thậm chí còn làm cho những thủ lĩnh có năng lực nhất trong phong trào đình công bị bắt giữ.
Năm 1937, tướng Phùng Ngọc Tường cùng với tướng Cát Hồng Xương là người cộng sản tổ chức một đội quân kháng Nhật tại Trương Gia Khẩu, lúc bấy giờ ĐCSTQ đang ở trạng thái bí mật, liên lạc giữa Trung ương và Hoa Bắc gặp khó khăn. Trương Mộ Đào thuộc phái Trotsky đã lợi dụng tình hình này, tự xưng là "đại diện đảng cộng sản", đưa ra khẩu hiệu "cùng hành động với người Nhật, chiến đấu phản đối Tưởng Giới Thạch", mưu đồ biến chiến tranh kháng Nhật thành chiến tranh nội bộ. Sau đó, trò lừa bịp của Trương Mộ Đào bị vạch trần, tướng Cát đã đuổi cổ Trương Mộ Đào đi. Chẳng bao lâu sau, khi tướng Cát đi Thiên Tân, trên đường đi đã bị đồng đảng của Trương Mộ Đào mưu sát.
Bức thư tiếp theo, tôi sẽ kể cho các đồng chí nghe phái Trotsky tiến hành mưu mô bán nước ở Trung Quốc như thế nào.
Lời chào huynh đệ!
P. C. Lâm. (chú thích 1)
Bức thư thứ ba
Các đồng chí thân mến:
Trong hai bức thư trước, tôi đã kể cho các đồng chí nghe phái Trotsky tiếp nhận tiền lương do người Nhật trả cho chúng như thế nào, chúng tìm cách phá hoại cuộc chiến đấu anh dũng của chúng ta ở Thượng Hải ra sao, và chúng tìm cách phá hoại phong trào yêu nước ở Trương Gia Khẩu của chúng ta như thế nào. Hôm nay tôi sẽ kể cho các đồng chí nghe hậu quả từ những tội ác của chúng.
Lộ quân 19 rút lui từ Thượng Hải về Phúc Kiến, chúng khôi phục chiến đấu. Chúng ký kết một thỏa thuận với Hồng quân Trung Quốc, thành lập Chính phủ Nhân dân Kháng Nhật tại Phúc Kiến, và tiến hành tuyên truyền thành lập mặt trận thống nhất. Cách đó không lâu, Lộ quân 19 là một trong những đội quân chống cộng dữ dội nhất. Nhưng khi đất nước đối mặt với nguy cơ, họ sẵn sàng quên đi tranh chấp và thù hận trong quá khứ, để theo đuổi mục tiêu duy nhất: chiến đấu phản kháng kẻ xâm lược!
Tuân thủ mệnh lệnh mà người Nhật giao cho chúng, những kẻ phái Trotsky liền lập tức hành động: một mặt, chúng kích động thành kiến cục bộ trong lòng nhân dân — bởi vì Lộ quân 19 xuất thân từ Quảng Đông — phản đối chính phủ mới, mặt khác, chúng trăm phương nghìn kế làm suy yếu sức mạnh của Hồng quân. Chúng hoàn thành nhiệm vụ kép này theo phương thức sau: chúng mang thân phận chiến sĩ cách mạng yêu cầu gia nhập Hồng quân, thoạt đầu, để lấy được lòng tin, chúng làm việc rất tích cực. Một khi đã giành được những chức vụ quan trọng ở mức độ nào đó, chúng bắt đầu làm những việc tội ác đó. Ở đây tôi cử cho các đồng chí mấy ví dụ: trong chiến đấu, khi cần rút lui thì chúng phát lệnh tiến lên. Đến lúc nên tiến công, chúng lại hạ lệnh rút lui. Chúng hộ tống viện binh và vũ khí đến những nơi hoàn toàn không cần đến, còn đối với những nơi cần tiếp viện và đạn dược, chúng kiên quyết không hộ tống. Chúng bôi loại thuốc độc có màu lên vết thương của các chiến sĩ, đặc biệt đối với các cán bộ của quân đội bị thương như vậy, dụng ý của chúng là khiến cho cánh tay và chân vòm vọng v.v. của họ không thể không cưa đi! Tội ác này may mà được phát hiện kịp thời, đối với những người cộng sản đó mà nói, thật là may mắn biết bao!
Sau năm 1935, Đảng Cộng sản phát động một phong trào, muốn mở rộng mặt trận dân tộc kháng Nhật. Nhân dân, đặc biệt là công nhân và nông dân, đều tích cực ủng hộ cương lĩnh này. Nội bộ Quốc dân đảng, tư tưởng về mặt trận dân tộc cũng ngày một tiến triển. Lúc này, chúng ta nhìn thấy phái Trotsky chơi trò hai mặt; vu khống và chia rẽ tiến hành đồng thời. Chúng nói với quần chúng rằng: "Các đồng chí xem, Đảng Cộng sản đã bán đứng cho giai cấp tư sản rồi. Quốc dân đảng không kháng Nhật!" Còn đối với Quốc dân đảng, chúng lại nói: "Mặt trận dân tộc, đây chẳng qua là trò lừa bịp của Đảng Cộng sản. Nếu muốn chiến đấu với người Nhật, nhất định phải tiêu diệt Đảng Cộng sản!"
Cuối năm 1936, do kết quả của sự kiện Tây An, chính sách liên hợp kháng Nhật đạt được thành công. Nhìn thấy chính sách chiến tranh nội bộ của chúng đứng trước nguy cơ thất bại, các phần tử phái Trotsky Trương Mộ Đào và Tạ Duy Liệt (TA DUY LIET) quyết định ám sát Vương Như Tuyết (VUONG DI TRBET - chú thích: Vương Minh), đây là một người đã chấp nhận chính sách mặt trận dân tộc.
Bây giờ tôi đến kể cho các đồng chí nghe năm 1937. Đây là thời kỳ ngay trước chiến tranh. Mọi người trên khắp thế giới, trừ phái Trotsky, đều đoàn kết lại, chiến đấu chống Nhật. Lũ phản bội này liên kết bí mật với nhau, còn thông qua một bản 'quyết nghị', dưới đây là một số đoạn trích dẫn của quyết nghị này: 'Lập trường của chúng ta đối với chiến tranh kháng Nhật là rõ ràng; những kẻ vừa muốn chiến tranh mà lại vừa ôm ảo tưởng đối với Quốc dân đảng, thực ra đã bán đứng chiến tranh rồi. Sự liên hợp giữa Đảng Cộng sản và Quốc dân đảng chẳng qua chỉ là một cuộc phản bội biết rõ mà vẫn phạm phải'. Bản quyết nghị ngoài ra còn viết một số ngôn từ vô liêm sỉ tương tự.
Khi chiến tranh kéo đến, Nhật Bản đã thực hiện lời hứa mà họ đã hứa với phái Trotsky. Phái Trotsky Thượng Hải mỗi tháng nhận được mười vạn đại nguyên, dùng làm kinh phí hoạt động của chúng ở Hoa Trung và Hoa Nam. Phái Trotsky ở Thiên Tân và Bắc Kinh thì mỗi tháng lĩnh năm vạn đại nguyên, để chúng tiến hành các hoạt động chống Bát lộ quân và các tổ chức yêu nước khác ở khu vực Hoa Bắc.
Đến giữa năm 1937, phái Trotsky trong "Khu đặc biệt" (chú thích của người dịch: có lẽ chỉ khu vực do Bát lộ quân cai quản) đã bị phát hiện và bị bắt giữ. Theo lời khai của Đổng Nghĩa Hải (TON NGHIA HAI), mục tiêu hoạt động của chúng như sau: 1. Phá hoại Bát lộ quân; 2. Cản trở sự phát triển của mặt trận dân tộc; 3. Làm gián điệp; 4. Mưu sát nhân vật lãnh đạo "quân đội cộng sản".
Tại một phiên tòa nhân dân "Khu vực", phần tử phái Trotsky Hoàng Phát Hỷ (HOANO PHAT HI) khai báo, trong đó có những lời thế này: khi ông ta gặp Trương Mộ Đào lần thứ tư, Trương từng đưa ra cho ông ta ý kiến như sau: "Anh phải dụng tâm nghiên cứu hệ thống tổ chức của Hồng quân. Sau đó, anh phải tổ chức trung tâm thanh niên, khiến họ nhất định phải gánh vác nhiệm vụ phá hoại và đình công. Mục tiêu của chúng ta là châm ngòi gây rối bên trong Hồng quân, cũng như tiêu diệt các nhân vật lãnh đạo của quân đội." Trương Mộ Đào còn nói: "Chúng ta phải thuyết phục một phần cán bộ cấp dưới đi theo chúng ta, khơi dậy nỗi nhớ quê hương của họ, cung cấp cho họ một ít tiền, để họ đào ngũ trốn chạy. Đây là một trong những biện pháp làm tan rã đội quân đó."
Phần tử phái Trotsky Quách Văn Kính (QUACK VAN KINK) đã khai nhận rằng ông ta nhận sự ủy thác của Đổng Nghĩa Hải (TON NGHIA HAI), tiến hành tuyên truyền bại chủ nghĩa trong chiến tranh, nói với họ rằng "Trung Quốc không thể chiến thắng", bởi vì "cho dù chúng ta có đuổi cổ được người Nhật, thì người Mỹ và người Anh lại sẽ đến áp bức chúng ta." "Nếu chúng ta tiếp tục kháng chiến, không những không giành được chiến thắng, mà còn khiến đất nước chúng ta bị hủy diệt." Lại nói "Trung Quốc quá yếu, không thể đồng thời chống lại Nhật, Mỹ, Anh." Trương Mộ Đào dùng những lời như sau để kết thúc chỉ thị của mình: "Nhất định phải lợi dụng chính sách mặt trận dân tộc này để phỉ báng Đảng Cộng sản, phải nói rằng họ đã bán đứng giai cấp công nhân. Mục tiêu của chúng ta là kích động tâm tình bất mãn của họ ở trong các chiến sĩ." Các phần tử phái Trotsky mượn cớ giáo dục chiến sĩ, đem những phần tử lạc hậu nhất trong quân đội tổ chức thành một số tiểu tổ, sau đó, lợi dụng cuộc sống gian khổ nhất trong quân đội, khuyến khích họ mang theo vũ khí đào ngũ. Chúng liên lạc với những đội ngũ đào ngũ đó, ở phía sau lưng Bát lộ quân đang chiến đấu ngoài mặt trận, gây rối loạn phá phách.
Đây chính là tình hình phái Trotsky chống lại Bát lộ quân như thế nào. Trong bức thư tiếp theo, tôi sẽ kể cho các đồng chí nghe những kẻ phản bội này áp dụng thủ đoạn đê tiện để phá hoại các đội quân kháng chiến khác như thế nào. (chú thích 2)
Chú thích 1. Bức thư này không điền địa điểm và ngày tháng phát thư. Tạp chí tiếng Pháp "Tiếng nói của chúng ta" đăng tải bức thư này xuất bản ngày 7 tháng 7 năm 1939. Chú thích 2. Bức thư này được đăng liên tiếp trên tờ "Tiếng nói của chúng ta" bằng tiếng Pháp vào ngày 7 tháng 7 năm 1939 và ngày 11 tháng 8 cùng năm, trên thư cũng không điền địa điểm và ngày tháng phát thư. Chú thích của người dịch: Ba bức thư trên đây, hiện đều được đưa vào tập III của "Hồ Chí Minh toàn tập" xuất bản tại Hà Nội, Việt Nam. Chúng tôi dịch lại từ số ra mắt tháng 11 năm 1986 của tạp chí tiếng Pháp "Biên niên sử Việt Nam" (Chroniques Vietnamiennes).
Ý nghĩa của ba bức thư — Giá trị lịch sử của chúng
Trước hết, ba bức thư này là lời tự thú xúi giục giết người của Hồ Chí Minh. Có bằng chứng này rồi, tòa án lịch sử có thể tuyên bố chính thức: cái chết thảm thương của Tạ Thu Thâu và những người phái Trotsky Việt Nam năm 1945, vốn chỉ là sự quán triệt thi hành chỉ thị phản Trotsky do Hồ Chí Minh ban hành năm 1939. Về mặt tư tưởng và chính trị, Hồ Chí Minh buộc phải gánh chịu toàn bộ trách nhiệm đối với cái chết của Tạ Thu Thâu v.v. Cho dù có bao nhiêu "nước mắt cá sấu" đi nữa thì tuyệt đối cũng không thể rửa sạch được trách nhiệm này.
Thứ hai, ba bức thư này lại giúp chúng ta làm rõ hai sự thật lịch sử trước đây chưa rõ ràng lắm.
Thứ nhất, là quan hệ giữa Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Stalin. Việc vị thủ lĩnh Việt Minh này thuộc phái Stalin là điều ai cũng biết; nhưng ông ta rốt cuộc thân thiết với phe Stalin đến mức độ nào, ông ta mù quáng tuân theo lời nói việc làm của Stalin đến mức độ nào, trước đây chúng ta chưa từng biết chính xác, ba bức thư này đã nói cho chúng ta biết: ít nhất trong vấn đề đối xử với phái Trotsky của Liên Xô và Trung Quốc, Hồ Chí Minh là một tín đồ chủ nghĩa Stalin trăm phần trăm, triệt để hơn nhiều so với những người như Mao Trạch Đông. Ông ta chấp nhận toàn bộ hàng loạt phiên tòa đang diễn ra tại Moskva lúc bấy giờ. Kết quả của những phiên tòa này đã tàn sát sạch sẽ cả một thế hệ cựu thần cách mạng, thế mà Hồ Chí Minh lại hoàn toàn ủng hộ các phiên tòa đó, còn tích cực giới thiệu những vụ án oan hại chết người cách mạng ấy cho các đồng chí người Việt Nam của mình, bảo họ đọc và nghiên cứu, mượn đó để nhìn thấy "bộ mặt thật xấu xa của chủ nghĩa Trotsky và các phần tử phái Trotsky".
Các tội danh mà các phiên tòa Moskva liên tiếp đặt ra cho những người cách mạng, đặc biệt là cho phái Trotsky, lại hoang đường đến thế, lại không phù hợp với sự thật lịch sử mà mọi người đều biết đến thế, thậm chí lại trái ngược với cả tri thức thông thường nhất đến thế, khiến cho tất cả những nhân sĩ công bằng có hiểu biết trong quốc tế, ngay từ đầu đã tuyệt đối không tin chúng, ngay từ đầu đã dùng danh nghĩa cá nhân hoặc đoàn thể đưa ra lượng lớn sự bác bỏ và khiển trách đối với chúng. Tháng 4 năm 1938, Ủy ban điều tra do triết gia Mỹ Tiến sĩ Dewey đứng đầu đã đem tất cả các tội danh được đưa ra trong các phiên tòa Moskva, tiến hành mỏi mòn tra vấn và nghiên cứu chi tiết mười ba lần đối với bản thân Trotsky, kết quả tuyên bố cha con Trotsky vô tội, tuyên bố các phiên tòa Moskva thuần túy là một sự ngụy tạo. Kể từ đó bất kể là người cách mạng hay người không phải cách mạng, mỗi người có tinh thần chính nghĩa đều không ủng hộ những vụ án oan này nữa. Thế nhưng Hồ Chí Minh mãi cho đến tháng 5 năm 1939, vậy mà vẫn coi những vụ án oan vô tiền khoáng hậu này như sự thực thi công lý, và hết sức khuyên giới thiệu cho các tín đồ của mình, bảo họ tiếp nhận, phụng hành, để "tiêu diệt về mặt chính trị" tất cả những người theo chủ nghĩa Trotsky!
Hồ Chí Minh trung thành với Stalin như vậy, trong số các đầu sỏ chủ nghĩa Stalin của các nước, là một điều vô cùng nổi bật.
Thứ hai, là quan hệ giữa ông và tầng lớp lãnh đạo ĐCSTQ. Ai cũng biết, Hồ Chí Minh từng có quan hệ lâu dài và mật thiết với ĐCSTQ. Cùng là điều ai cũng biết, con đường đi tới thắng lợi của Việt Minh, từng nhận được sự gợi mở và kinh nghiệm từ chiến lược của ĐCSTQ. Thế nhưng có một sự thật, từ trước đến nay bị mọi người phớt lờ, bản thân tác giả cũng chưa từng chú ý đầy đủ, đó là: Hồ Chí Minh v.v. với cái gọi là phái quốc tế bên trong ĐCSTQ, tức là phái Vương Minh trực thuộc phái Stalin, có quan hệ sâu sắc hơn nhiều, mật thiết hơn nhiều so với quan hệ giữa họ với "phái cộng sản bản địa" do Mao Trạch Đông đại diện.
Mối quan hệ tế nhị này không phải là không quan trọng, nắm bắt được mối quan hệ này, chúng ta không những có thể hiểu rõ hơn chân tướng lịch sử "vừa là đồng chí vừa là anh em" giữa hai đảng Trung - Việt trong quá khứ, mà còn có thể hiểu rõ hơn nguyên nhân hiện nay Trung - Việt trở mặt thành thù.
Tuy nhiên ở đây chúng ta tự nhiên chỉ có thể quan sát mối quan hệ này từ vấn đề phản Trotsky.
Những "cáo buộc tội ác" mà Hồ Chí Minh đưa ra đối với phái Trotsky Trung Quốc trong thư, theo ông ta nói, là do bản thân ông ta "từ cuối năm 1936 trở đi", "nghiên cứu vấn đề phái Trotsky Trung Quốc mà thu được kết luận". Sự thật có thực là như vậy không? Hoàn toàn không. Ông ta chỉ đơn giản chấp hành nghị quyết mà Đoàn chủ tịch Quốc tế Cộng sản lúc bấy giờ đưa ra về vấn đề này; và tệ hơn nữa, ông ta chỉ chép lại từng chữ các bài viết phản Trotsky do Vương Minh và Khang Sinh thực hiện.
Mối quan hệ và quá trình ở giữa đại khái như sau:
Ngày 10 tháng 10 năm 1937, Ban thư ký Đoàn chủ tịch Quốc tế Cộng sản ở Moskva thông qua một nghị quyết về vấn đề Trung Quốc. Tiết thứ bảy của nghị quyết đưa ra chỉ thị như sau:
"Từ nay về sau kẻ địch sẽ đẩy mạnh hoạt động để phá hoại nội bộ ĐCSTQ, mưu đồ làm bại hoại sĩ khí của nó, tiến hành khiêu khích, thám báo, đình công cũng như làm công tác khủng bố. Chúng ta phải nâng cao cảnh giác cách mạng lên mức tối đa, phải có hệ thống kiểm soát cán bộ, kiểm soát những người xung quanh cơ quan đảng, phải đem tất cả các phần tử khả nghi và không đáng tin cậy lắm trong đảng và trong Hồng quân thanh trừ ra ngoài. Đây là nhiệm vụ khẩn cấp nhất hiện nay. Về phương diện này, đảng hoàn toàn chưa làm những điều mà nó nên làm, đem đảng phái Trotsky coi là một chính đảng hay phái chính trị, giống như tuyên bố do Trung ương phát biểu năm ngoái, lại đưa ra ý kiến cho rằng phái Trotsky có khả năng được bao gồm ở trong mặt trận thống nhất kháng chiến toàn dân, điều đó tuyệt đối không cho phép. Chúng ta dùng mọi biện pháp để tăng cường cuộc đấu tranh phản đối phái Trotsky, để phản đối lũ sai nha của quân phiệt Nhật Bản này."
Chúng ta đều biết, nghị quyết này chủ yếu là do đoàn đại biểu ĐCSTQ đứng đầu là Vương Minh thảo luận soạn thảo, mũi nhọn của nó một mặt nhắm vào Mao Trạch Đông, mặt khác chĩa vào phái Trotsky. Nó định ra chủ điệu làm thế nào để dùng mọi biện pháp tiêu diệt phái Trotsky Trung Quốc.
Tháng 12 năm 1937, Vương Minh, Khang Sinh đoàn người với tư cách khâm sai của Stalin từ trên trời bay về Diên An. Việc lớn đầu tiên làm chính là thi hành nghị quyết này của Quốc tế Cộng sản: họ mắng nhiếc tơi bời Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai v.v. ôm ảo tưởng đối với phái Trotsky như Trần Độc Tú, và do Khang Sinh ra tay, viết ra bài báo sau đó trở nên vô cùng nổi tiếng "Triệt trừ phỉ đồ Trotsky thám báo giặc Nhật kẻ thù chung của dân tộc". Nội dung chính của bài báo là dùng một số cái gọi là "sự thật" để chứng minh phái Trotsky Trung Quốc quả thực là "đại lý của quân phiệt Nhật Bản". "Sự thật" lớn nhất là nói rằng —
"Sau sự kiện 18 tháng 9 năm 1931, nhân viên đặc vụ Nhật Bản trú tại Thượng Hải từng đàm phán với Trung ương phái Trotsky do Trần Độc Tú, Bành Thuật Chi, La Hán v.v. tổ chức. Kết quả đàm phán, người Nhật đồng ý mỗi tháng thông qua một quan chức cao cấp của Bộ Ngoại giao Chính phủ Quốc dân Nam Kinh lúc bấy giờ là Đường Hữu Nhậm đứng ra chi trả, giao ba trăm đại nguyên cho Trần Độc Tú. Mà người thực tế nhận tiền chính là La Hán."
Bài báo này được đăng vào tháng 1 năm 1938 trên tuần san "Giải phóng" xuất bản tại Diên An. Tháng 3 cùng năm, lại được Vương Minh cho đăng lại trên tờ "Tân Hoa nhật báo" xuất bản tại Vũ Hán.
Một năm sau, tức là từ tháng 5 năm 1939 trở đi, Hồ Chí Minh lúc bấy giờ cư trú tại Quế Lâm, Quảng Tây, đã đem nội dung bài báo của Khang Sinh, liên kết viết thành ba bức thư mà chúng ta đã dịch ở trên, truyền đạt cho các đồng chí hoạt động ở Đông Dương của ông. Sự thật này giải thích sự chấp hành một cách mù quáng của Hồ Chí Minh đối với con đường Moskva, lại giải thích đầy đủ rằng trong cuộc đấu tranh phe phái bên trong ĐCSTQ, ông hoàn toàn đứng về phía Vương Minh.
Gần đây, chúng ta biết được từ một bản thông tấn của phóng viên tờ "The Guardian" Anh Quốc về Đại hội VI (1986) của ĐCSVN, đúng vào lúc "Cách mạng Văn hóa" đang náo động "sôi sục", Việt Nam từng dịch cuốn sách Vương Minh phê bình cách mạng văn hóa đó, lưu truyền rộng rãi trong đảng, quy định là một trong những cuốn sách bắt buộc phải đọc đối với cán bộ. Đây càng là bằng chứng trực tiếp cho sự kết hợp giữa Hồ Chí Minh và phái Vương Minh.
Chủ nghĩa "quốc tế" kiểu từ đầu đến cuối này của Hồ Chí Minh và ĐCSVN (tức là mọi lệnh lạc đều tuân theo phái đương quyền Moskva) và mối quan hệ đặc biệt giữa Hồ Chí Minh và Vương Minh phát sinh từ đó, mặc dù không đủ để giải thích sự thật vì sao hai đảng hai nước Trung - Việt lại đi đến kết cục đau buồn; thế nhưng nó lại giải thích đầy đủ một sự thật khác, đó là trong việc đối xử với những người có ý kiến khác biệt trong đảng, đặc biệt là trong vấn đề đối xử với phái Trotsky, vì sao ĐCSVN lại tàn nhẫn hơn nhiều so với Mao Trạch Đông. Đúng vậy, phái Mao đối với phái Trotsky cũng tuyệt đối không "khách khí". Về cơ bản, họ cũng phụ họa theo điệu nhạc do Stalin định ra. Họ cũng từng lợi dụng tội danh phái Trotsky để bức hại các đồng chí giữ ý kiến khác biệt trong đảng. Họ cũng từng sát hại những người phái Trotsky chân chính rơi vào tay họ. Nhưng nhìn vào toàn bộ mối quan hệ kéo dài mấy chục thập kỷ giữa phái Mao và phái Trotsky Trung Quốc, tôi vẫn không thể không nói rằng, phe Mao Trạch Đông so với Stalin cùng các đại lý của ông ta là Vương Minh và Hồ Chí Minh, đối với phái Trotsky rốt cuộc vẫn áp dụng thái độ hơi khác một chút. Sau khi Mao Trạch Đông thống trị toàn quốc, đã "dung túng" phái Trotsky Trung Quốc hai năm rưỡi. Ông ta vào mùa đông năm 1952 đã bắt giữ toàn bộ phái Trotsky, giam cầm lâu dài; nhưng ông ta không giống như Stalin đem họ sau khi ngụy tạo tội danh thì bắn bỏ toàn bộ. Ông ta cũng không giống như Hồ Chí Minh, đem họ bí mật bắt giữ, tiêu diệt trong bóng tối, nhưng ngoài mặt lại rơi "nước mắt đồng tình".
Sau khi Mao Trạch Đông qua đời, lãnh đạo mới của ĐCSTQ cuối cùng vẫn thả những người phái Trotsky già may mắn không chết sau hai mươi bảy năm giam cầm ra khỏi ngục. Mặc dù cho đến nay vẫn chưa minh oan công bằng cho họ, nhưng dù sao cũng đã khôi phục lại tự do cho họ, và một phần không công khai bãi bỏ những tội danh mà trước đây vô cớ tròng lên người họ. Ở Việt Nam do người kế thừa của Hồ Chí Minh thống trị, chúng ta lại không nhìn thấy tình hình tương tự. Đúng vậy, hiện nay Việt Nam cũng đang thay đổi. Sau khi cái gọi là phái cải cách đứng đầu bởi người mang danh hiệu "Gorbachev nhỏ" Nguyễn Văn Linh lên nắm quyền, các biện pháp "hiện đại hóa" tương tự như những gì Trung Quốc đã sớm triển khai và Liên Xô đang chuẩn bị triển khai, cũng bắt đầu được hô hào ở Việt Nam. Phong trào cải cách sinh ra do sự lây nhiễm này rốt cuộc sẽ phát triển như thế nào, sẽ phát triển đến mức độ nào, ở đây tôi không muốn và cũng không thể đoán mò. Nhưng điều tôi có thể khẳng định ngay bây giờ là: Muốn ĐCSVN áp dụng thái độ khoan dung ở mức độ nào đó đối với những người có ý kiến khác biệt trong và ngoài đảng, muốn họ thừa nhận sự thật tàn sát phái Trotsky Việt Nam, thậm chí muốn họ tuyên bố những tội danh của phái Trotsky Trung Quốc được nói trong thư của Hồ Chí Minh là không có căn cứ sự thật, thì vẫn còn vô cùng mờ mịt.
Bàn sơ qua về bản thân "tội danh"
Tình hình và "tội danh" liên quan đến phái Trotsky Trung Quốc được liệt kê trong thư của Hồ Chí Minh, tức là các loại "sự thật" do phái Vương Minh - Khang Sinh cung cấp, đối với độc giả Trung Quốc mà nói, vốn dĩ không cần phải bác bỏ, cũng không đáng để bàn tới. Bởi vì sự giả dối và vu khống của chúng quá rõ ràng. Chỉ cần là người hiểu sơ qua về lịch sử Trung Quốc hiện đại, thì bất kỳ ai cũng sẽ không tin rằng một người như Trần Độc Tú (chủ soái của phong trào Tân Văn hóa Trung Quốc, người sáng lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, Tổng Bí thư được bầu liên tiếp năm lần của Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhân vật từng lãnh đạo cách mạng Trung Quốc từ năm 1925 đến năm 1927) lại đi chấp nhận ba trăm đồng nguyên mỗi tháng từ người Nhật để bán đứng bản thân, bán đứng quốc gia dân tộc, làm tay sai cho chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản! Tuy nhiên đối với độc giả nước ngoài hoàn toàn mù mịt về sử liệu Trung Quốc, việc giải thích và giải đáp một cách sơ lược vẫn là điều cần thiết.
Do đó một số bạn bè yêu cầu tôi dùng sự thật và tài liệu để bác bỏ tường tận các loại chỉ trích do Hồ Chí Minh đưa ra. Công việc này vốn dĩ không khó thực hiện, chỉ cần dẫn chứng sự tự biện hộ của Trần Độc Tú, La Hán v.v. từ năm 1938 trở đi, cùng với các tài liệu được công bố lúc bấy giờ nhằm phản đối sự vu khống của Vương Minh và Khang Sinh bởi tất cả các nhân sĩ tên tuổi có tinh thần chính nghĩa trong xã hội Trung Quốc là đủ. Đáng tiếc là tôi không có tài liệu trong tay. Ở đây tôi chỉ có thể chỉ ra mấy sự thật lớn hơn, mượn đó để biện minh cho vô vàn lời nhảm nhí trong thư của Hồ Chí Minh.
Một, vấn đề về "sáu thủ lĩnh" của phái Trotsky Trung Quốc. Ba người đứng đầu mà Hồ Chí Minh nêu ra, Trần Độc Tú, Bành Thuật Chi, La Hán, tất nhiên đều là người của phái Trotsky, hơn nữa đều mang thân phận ấy kết thúc cuộc đời mình. Thế nhưng ba người nêu sau (Diệp Thanh, Trương Mộ Đào, Hoàng Công Độ) thì căn bản không phải là người của phái Trotsky. Diệp Thanh, tên thật là Nhậm Trác Tuyên, là đảng viên cộng sản thời kỳ đầu, sau đó khi làm việc tại Hồ Nam thì bị Quốc dân đảng bắt, và bị kết án tử hình. Sau khi bị bắn gục nhưng không chết, được cứu thoát, lại bị bắt lần thứ hai, ông ta đã đầu hàng Quốc dân đảng. Từ đó về sau ông ta luôn làm "nhà lý luận" của Quốc dân đảng, phản đối Đảng Cộng sản. Ông ta với phái Trotsky vừa không có quan hệ tổ chức, vừa không có sự đồng cảm tư tưởng. Trương Mộ Đào là một chính khách dưới tay quân phiệt già Sơn Tây Diêm Tích Sơn, từng vạch mưu tính kế hoạt động chống cộng cho Diêm Tích Sơn, nhưng ông ta từ trước đến nay chưa từng có mảy may dính líu gì với phái Trotsky Trung Quốc. Phía phái Trotsky Trung Quốc cũng từ trước đến nay chưa từng có mảy may ảo tưởng nào đối với ông ta. Trước khi chiến tranh kháng chiến bùng nổ, tôi thậm chí còn chưa từng nghe thấy cái tên Trương Mộ Đào này. Hoàng Công Độ vào giữa thập niên 20 từng học tại Đại học Tôn Trung Sơn ở Moskva, sau khi về nước vẫn luôn là nhân vật hồng nhân trên chính đàn Quảng Tây; nhưng ông ta từ trước đến nay chưa từng tham gia ĐCSTQ, càng không thể nói đến việc trở thành phái Trotsky. Ông ta quen biết mấy người phái Trotsky cũ và từng đưa một người trong số đó (Trương Đặc, sau đổi tên là Uy Hi) làm vây cánh đảng phái cá nhân, nhưng bản thân ông ta từ đầu đến cuối không liên quan gì đến phái Trotsky. Sau đó ông ta bị Lý Tông Nhân xử tử danh nghĩa phái Trotsky, thuần túy là tội danh bị tròng thêm vào khi nội bộ quân phiệt Quảng Tây tranh giành lẫn nhau.
Hai, vấn đề Trần Độc Tú v.v. mỗi tháng nhận phụ cấp ba trăm đại nguyên của quân phiệt Nhật Bản, việc này có lẽ lúc bấy giờ Hồ Chí Minh đã cảm thấy quá "hoang đường", khó lòng khiến người ta tin tưởng, cho nên trong bức thư thứ ba của ông, đã tự động tăng giá (có lẽ Vương Minh Khang Sinh có bài viết khác, đã sửa đổi con số tiền bạc, việc này thì tôi chưa tra cứu), đem "ba trăm đại nguyên" bạo tăng thành "năm vạn" (khu vực Hoa Bắc) với "mười vạn" (khu vực Thượng Hải)! Thế nhưng số lượng mặc dù tăng vọt gấp năm trăm lần, nhưng vẫn không giúp gì được cho Hồ Chí Minh, Vương Minh và Khang Sinh, bởi vì ông ta nói việc thu nhận số tiền lớn khổng lồ này là vào lúc "chiến tranh đến", tức là khoảng thời gian hạ thu năm 1937. Thế nhưng vào lúc này, ai ai cũng biết, Trần Độc Tú cũng như các thủ lĩnh phái Trotsky khác đều bị Tưởng Giới Thạch giam cầm trong ngục Nam Kinh!
Gần đây nhìn thấy một bài báo do phó giáo sư Vương Hồng Mô thuộc Phòng nghiên cứu lịch sử đảng của Trung ương ĐCSTQ viết: "Về việc đánh giá hoạt động cả đời của Trần Độc Tú", trong đó có một tiết bàn về sự việc này:
"Khang Sinh vào tháng 1 năm 1938 đã đăng bài 'Triệt trừ phỉ đồ Trotsky thám báo giặc Nhật kẻ thù chung của dân tộc' trên tuần san 'Giải phóng' ở Diên An, tròng cho Trần Độc Tú tội danh hoàn toàn không có căn cứ là 'hán gian giặc Nhật, mỗi tháng lĩnh phụ cấp ba trăm đồng của người Nhật', dứt khoát loại trừ bất kỳ khả năng nào đảng tiếp tục tranh thủ Trần Độc Tú." (Xem "Khoa học xã hội Trung Quốc", kỳ 5 năm 1985, trang 21.)
"Tội danh hoàn toàn không có căn cứ"! Kết luận này cuối cùng đã được nói ra bởi một nhà sử học chính thức của ĐCSTQ, thật là tuyệt quá.
Ba, vấn đề đồng đảng của "phái Trotsky" Trương Mộ Đào mưu sát tướng kháng Nhật Cát Hồng Xương. Để chứng minh hoặc phủ định lời cáo buộc này, chỉ cần tra rõ Cát Hồng Xương bị hại như thế nào là đủ. Trong "Từ hải mới" xuất bản năm 1979 của Trung Quốc, có thu thập một mục về Cát Hồng Xương, nó nói về việc vị tướng này ra đi như thế nào:
"Cát Hồng Xương (1895 năm—1934 năm)... Sau sự kiện 28 tháng 1 năm 1932 về nước, gia nhập ĐCSTQ. Tháng 5 năm 1933, liên hợp Phùng Ngọc Tường, Phương Chấn Vũ v.v. thành lập Đồng minh nhân dân kháng Nhật Sát - Tuy tại Trương Gia Khẩu, giữ chức tư lệnh quân đoàn 2 kiêm tổng chỉ huy tiền tuyến đoạn bắc của quân đoàn đó. Đồng minh quân dưới sự giáp công của quân đội Nhật - ngụy và quân đội Quốc dân đảng, sau khi thất bại vào tháng chín, ông đến Bình Tân v.v. tiếp tục从事 hoạt động kháng Nhật. Ngày 9 tháng 11 năm 1934, bị bắt tại Thiên Tân, ngày 24 anh dũng tuẫn tiết tại Bắc Bình." (Xem "Từ hải", trang 1183)
Ở đây nói rõ mồn một, Cát Hồng Xương là do chính phủ Quốc dân đảng sát hại, nó không những không liên quan gì đến phái Trotsky, thậm chí còn không kéo dính chút xíu nào với Trương Mộ Đào người bị tròng ép làm phái Trotsky đó.
Những lời cáo buộc khác trong thư của Hồ Chí Minh, so với ba loại trên, càng thêm trống rỗng phù phiếm, không đáng để lãng phí bút mực cho nó nữa. Chỉ có một việc, tôi cảm thấy nên nhắc đến ở đây, đó là lời nói việc làm phản Trotsky của Hồ Chí Minh cùng các đồ đệ của ông ta, còn phải gánh chịu trách nhiệm trực tiếp đối với sự vong mạng của một người phái Trotsky Trung Quốc. Lưu Gia 良 (Lưu Gia Lương), một trong những thủ lĩnh của phái Trotsky Trung Quốc, người dịch bản tiếng Trung cuốn "Bi tragedia cách mạng Trung Quốc" do Harold R. Isaacs (Y Luô Se) viết, vào một tháng nào đó năm 1950 khi tham gia một cuộc hội nghị của các đồng chí Việt Nam tại một địa điểm gần Sài Gòn, đã bị đặc vụ Việt Minh dụ bắt đi từ đó bặt vô âm tín.
Hiện nay, một số người trong quốc tế quan tâm đến vận mệnh cách mạng Việt Nam, đặc biệt là một số người cách mạng Pháp và những người xã hội chủ nghĩa Việt Nam lưu vong tại Pháp (trong đó có phái Trotsky), đang nỗ lực làm rõ chân tướng vụ bức hại số lượng lớn phái Trotsky Việt Nam như Tạ Thu Thâu. Họ yêu cầu nhà đương cục Việt Nam phải giải trình, yêu cầu họ điều tra quá trình, công bố kết quả, đồng thời minh oan về mặt danh dự lẫn thực chất cho tất cả những người cách mạng đã chết một cách oan ức.
Trong danh sách lẽ ra phải được minh oan đó, tự nhiên nên bao gồm cả Lưu Gia Lương của Trung Quốc trong đó.
Viết xong ngày 9 tháng 2 năm 1987
(Đăng nguyên bản trên tạp chí "Bình luận Tháng Mười" Hồng Kông, số tháng 7 và tháng 8 năm 1987)