Ghi chép các cuộc hội đàm giữa Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô L. I. Brezhnev, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô A. N. Kosygin, Ủy viên Bộ Chính trị kiêm Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô A. P. Kirilenko với Thủ tướng Cộng hòa Dân chủ Việt Nam Phạm Văn Đồng và Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam Lê Đức Thọ. Moscow, ngày 20 và 22 tháng 11 năm 1968
Ngày 20 tháng 11 năm 1968
Buổi họp sáng
L.I. BREZHNEV: Thay mặt Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Chính phủ Xô viết và đoàn đại biểu đảng và chính phủ Liên Xô, chúng tôi nhiệt liệt chào mừng các đồng chí, những người đồng chí Việt Nam thân mến. Chúng tôi rất vui mừng được gặp lại đồng chí Phạm Văn Đồng và các bạn Việt Nam khác tại Mát-xcơ-va.
Các đồng chí Hồ Chí Minh và Lê Duẩn cùng các nhà lãnh đạo Việt Nam khác sức khỏe thế nào?
PHẠM VĂN ĐỒNG: Cảm ơn đồng chí. Đồng chí Hồ Chí Minh sức khỏe tốt. Đồng chí Lê Duẩn cũng khỏe mạnh.
L.I. BREZHNEV: Theo truyền thống đã có của chúng ta, xin mời đồng chí Phạm Văn Đồng phát biểu. Đồng chí Phạm Văn Đồng bố trí được thời gian như thế nào?
PHẠM VĂN ĐỒNG: Như tôi đã nói với đồng chí Cô-xê-gin ngày hôm qua, sẽ rất tốt nếu chúng ta kết thúc các cuộc trao đổi trong vòng một tuần.
L.I. BREZHNEV: Chúng ta sẽ cố gắng để được như vậy. Nhưng chúng tôi muốn đề nghị các đồng chí ngày mai tạm nghỉ họp, vì vào ngày đó chúng tôi có lịch họp Bộ Chính trị không thể hoãn lại được, do phải khẩn trương xem xét các vấn đề liên quan đến kỳ họp sắp tới của Xô-viết Tối cao Liên Xô, nơi sẽ thảo luận về kế hoạch kinh tế quốc dân năm 1969.
PHẠM VĂN ĐỒNG: Chúng tôi đồng ý.
Các đồng chí thân mến Brê-ze-nhép, Cô-xê-gin, Ki-ri-len-cô và các thành viên khác trong đoàn đại biểu đảng và chính phủ Liên Xô! Trước hết, cho phép tôi thay mặt đoàn đại biểu đảng và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tất cả các đồng chí, tới Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Chính phủ Liên Xô vì đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho chuyến thăm của đoàn chúng tôi tới Liên Xô và cho việc tiến hành đàm phán về các vấn đề mà hai bên cùng quan tâm.
Chúng tôi có nhiệm vụ chuyển tới các đồng chí Brê-ze-nhép, Cô-xê-gin, Ki-ri-len-cô, các ủy viên Bộ Chính trị Trung ương ĐCS và Chính phủ Xô viết, tới toàn thể nhân dân Xô viết lời chào nồng nhiệt từ các đồng chí Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, các ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, từ toàn thể nhân dân Việt Nam.
Chúng tôi cảm ơn Đảng Cộng sản Liên Xô, Chính phủ Xô viết và toàn thể nhân dân Xô viết về sự giúp đỡ to lớn và chân thành mà các đồng chí luôn dành cho nhân dân Việt Nam, được dẫn dắt bởi các nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và chủ nghĩa quốc tế vô sản. Nhờ sự hỗ trợ và giúp đỡ đó, chúng tôi đã giành được nhiều thắng lợi quan trọng, đặc biệt là trong thời gian gần đây.
Chúng tôi một lần nữa khẳng định rằng chúng tôi sẽ củng cố tình đoàn kết chiến đấu giữa các đảng, các nước và các dân tộc của chúng ta. Đảng Lao động Việt Nam và toàn thể nhân dân Việt Nam sẽ tiếp tục tiến bước trên con đường của Lê-nin, của Cách mạng Tháng Mười trong sự đoàn kết chặt chẽ với phe xã hội chủ nghĩa. Chúng tôi quyết tâm chiến đấu để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam Việt Nam và trên cơ sở đó tiến xa hơn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở đất nước chúng tôi. Đó là đường lối đúng đắn duy nhất của Đảng Lao động Việt Nam - đội tiên phong của nhân dân Việt Nam. Được vũ trang bằng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, chúng tôi đã có thể vượt qua mọi khó khăn và giành thắng lợi. Đường lối này sẽ dẫn dắt chúng tôi vượt qua mọi trở ngại và giành thêm những thắng lợi mới trong tương lai.
Thưa các đồng chí, thay mặt Bộ Chính trị và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tôi xin báo cáo với các đồng chí về những vấn đề chính sau đây:
Về tình hình trong nước chúng tôi và hoàn cảnh hình thành sau khi Mỹ chấm dứt không điều kiện các cuộc ném bom miền Bắc Việt Nam.
Về việc tiếp tục cuộc đấu tranh trên mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao.
Về các yêu cầu của chúng tôi về viện trợ kinh tế và quân sự cho năm 1969.
Chúng tôi đã giành được một thắng lợi tuy là đầu tiên nhưng rất quan trọng. Mỹ đã buộc phải chấm dứt ném bom và mọi hành động chiến tranh chống lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là thắng lợi trên các lĩnh vực quân sự, chính trị và ngoại giao. Đây là thắng lợi của toàn thể nhân dân chúng tôi ở cả hai miền Nam Bắc, là thắng lợi của nhân dân Xô viết và nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa khác, của tất cả các lực lượng yêu chuộng hòa bình.
Tôi muốn nhấn mạnh rằng thắng lợi vừa đạt được chính là kết quả của sự kết hợp giữa cuộc đấu tranh của chúng tôi với cuộc đấu tranh của các đồng chí. Nhân dân Việt Nam bày tỏ lòng biết ơn tới Đảng Cộng sản Liên Xô và Chính phủ Xô viết vì sự kết hợp này đã mang lại kết quả tuyệt vời như vậy. Chúng tôi dự định sẽ tiếp tục hành động trên mặt trận ngoại giao cùng với Liên Xô và tin tưởng rằng chúng tôi sẽ giành được những thắng lợi chung mới. Thành công mà chúng tôi đã đạt được bằng nỗ lực chung hiện nay đã tạo ra những điều kiện hoàn toàn mới cho cuộc đấu tranh giải phóng toàn Việt Nam trong tương lai.
Tôi muốn phác họa tình hình đất nước chúng tôi sau khi chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam và khi Nixon lên nắm quyền.
Chúng tôi đánh giá việc chấm dứt ném bom là một thắng lợi lớn nhưng mới chỉ là bước đầu. Việc đây chưa phải là một thắng lợi hoàn toàn và chưa vững chắc còn được thể hiện ở chỗ đối phương vẫn tiếp tục sử dụng máy bay có người lái và máy bay không người lái để tiến hành các chuyến bay trinh sát trên vùng trời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Washington vẫn đe dọa chúng tôi về việc nối lại ném bom; Mỹ cũng như trước đây, vẫn yêu cầu chấm dứt hoặc giảm bớt các hoạt động quân sự của Mặt trận Dân tộc Giải phóng ở miền Nam Việt Nam; Nhà Trắng không đồng ý với cuộc đàm phán bốn bên tại Pa-ri. Tất cả những sự thật này cho thấy sự ngoan cố của Giôn-xợt và đặc biệt là của Nixon.
Chúng tôi cho rằng cả Giôn-xợt và Nixon đều đang thi hành chính sách xâm lược đế quốc, và rằng những kẻ đế quốc chỉ lùi bước khi chúng vấp phải những khó khăn không thể vượt qua. Đồng thời, chúng tôi đặc biệt chú ý đến phẩm chất cá nhân của Tổng thống Mỹ, đến các đặc điểm trong đường lối chính trị của ông ta về vấn đề Việt Nam.
Chúng tôi đã nghiên cứu kỹ lưỡng mọi phát biểu của Nixon về vấn đề Việt Nam trong suốt chiến dịch tranh cử cũng như các tuyên bố gần đây của ông ta. Điều này rất quan trọng đối với chúng tôi. Khi nói về tình hình trong nước, tôi sẽ chạm đến một số khía cạnh trong lập trường của Nixon về vấn đề Việt Nam.
Chúng tôi cho rằng hiện nay chính sách của Mỹ tại Việt Nam có thể được tóm tắt như sau:
Những kẻ đế quốc Mỹ vẫn chưa từ bỏ kế hoạch chiến tranh xâm lược chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Mỹ hiện đang tập trung toàn lực để mở rộng chiến tranh ở miền Nam Việt Nam.
Hiển nhiên là những mưu đồ này mang tính chất thực dân mới hết sức rõ rệt. Có thể Nhà Trắng và Lầu Năm Góc vẫn đang bám giữ các kế hoạch cũ của họ, có ý định biến miền Nam Việt Nam thành một căn cứ quân sự của Mỹ, giống như căn cứ Cam Ranh.
Chúng tôi biết rõ rằng để chiếm đoạt miền Nam Việt Nam, Mỹ đã vạch ra các kế hoạch quân sự, kinh tế và chính trị cụ thể. Về mặt quân sự, họ có một kế hoạch chiến thuật tính đến việc sử dụng cả lực lượng Mỹ lẫn quân đội bù nhìn. Việc thực hiện kế hoạch này dự kiến vào năm 1969.
Hiện nay, những kẻ đế quốc Mỹ đang tích cực triển khai các biện pháp củng cố lực lượng vũ trang bù nhìn. Họ có ý định tăng quân số của lực lượng "chính phủ" miền Nam Việt Nam lên tới 800 nghìn người. Đồng thời, Mỹ gia tăng viện trợ kinh tế cho chế độ Sài Gòn. Họ tính toán ổn định chính quyền bù nhìn. Những kế hoạch này của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã trở nên nổi tiếng rộng rãi trước dư luận thế giới sau khi nhân vật sừng sỏ người Mỹ E. Blake - một trong các chủ tịch của Ngân hàng Quốc tế - đến thăm miền Nam Việt Nam.
Những kẻ đế quốc Mỹ đang đẩy mạnh cấu kết với nhà cầm quyền Sài Gòn nhằm thực hiện các kế hoạch nói trên. Mọi người cũng đều biết rằng sự cấu kết này do các "diều hâu" Mỹ thực hiện. Và dĩ nhiên, rõ ràng là Nixon chính là kẻ khởi xướng những mưu đồ tương tự. Liên quan đến vấn đề này, thiết tưởng cần phải chú ý đến một số khía cạnh trong đường lối chính trị của ông ta về vấn đề Việt Nam.
Nixon tuyên bố rằng nếu các cuộc đàm phán diễn ra thì Mỹ tại đó chỉ nên hành động từ thế mạnh. Cho đến tận bây lâu nay, Nixon vẫn kịch liệt phản đối việc đưa các đại diện của Mặt trận Dân tộc Giải phóng vào chính phủ liên hiệp. Lập trường như vậy của Nixon không phải là điều bất ngờ đối với chúng tôi. Chúng tôi lường trước những ý đồ hiếu chiến, xâm lược của Nixon.
Các giới quân phiệt ở Mỹ vẫn ngoan cố theo đuổi kế hoạch khuất phục miền Nam Việt Nam, họ tiếp tục xuất phát từ tính toán đẩy mạnh chiến tranh, hy vọng thay đổi tương quan lực lượng quân sự và chính trị ở Việt Nam có lợi cho mình. Người Mỹ nuôi những ảo tưởng về sức mạnh lực lượng vũ trang của chính họ cũng như khả năng của quân đội bù nhìn và chế độ Sài Gòn. Cùng lúc đó, họ cho rằng Mặt trận sẽ không đủ sức chống lại họ. Những ảo tưởng kiểu này vốn đặc trưng đối với người Mỹ trong suốt một loạt những năm vừa qua.
Vào cuộc chiến tranh Việt Nam, người Mỹ không chỉ ném vào đó một lượng lớn quân đội của mình. Nó còn làm tổn hại đến uy tín và thể diện của Mỹ. Do đó, chúng tôi cho rằng những kẻ đế quốc Mỹ sẽ cố gắng làm mọi thứ có thể để giữ miền Nam Việt Nam trong tay họ. Mục đích này họ dự định đạt được nhờ sự giúp đỡ của nhà cầm quyền Sài Gòn. Đồng thời, Mỹ đang tăng cường cuộc đấu tranh chính trị và quân sự chống lại Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Họ đang tìm cách phát xít hóa đời sống chính trị ở miền Nam Việt Nam. Chỉ trong những ngày vừa qua, hàng chục tờ báo Sài Gòn đã bị đóng cửa, việc đàn áp những người ủng hộ hòa bình và dân chủ ở các đô thị miền Nam Việt Nam, đặc biệt là tại Sài Gòn, đã gia tăng mạnh mẽ. Nhà cầm quyền bù nhìn khủng bố ngay cả những người vốn thân Mỹ nhưng lại ủng hộ một mức độ độc lập nhất định cho đất nước. Đã có thông tin cho biết, ví dụ như họ đã đày cựu ứng cử viên tổng thống miền Nam Việt Nam Trương Đình Dũng ra đảo Pulo-Condor (Côn Đảo). Nhà cầm quyền Sài Gòn tìm mọi cách từ chối tham gia các cuộc đàm phán bốn bên tại Pa-ri, đang ấp ủ những kế hoạch phá hoại các cuộc đàm phán đó.
A.N. KOSYGIN: Các đồng chí đánh giá tình hình ở miền Nam như thế nào? Liệu Mặt trận Dân tộc Giải phóng có đối phó nổi với quân đội bù nhìn nếu các lực lượng vũ trang Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam, nhưng người Mỹ vẫn tiếp tục giúp đỡ Sài Gòn (mà chắc chắn là họ sẽ làm như vậy)?
PHẠM VĂN ĐỒNG: Chúng tôi hoàn toàn tin tưởng rằng Mặt trận Dân tộc Giải phóng sẽ thắng lợi nếu người Mỹ rút quân. Dưới đây tôi sẽ trình bày chi tiết hơn về vấn đề này.
A.N. KOSYGIN: Đây là câu hỏi về triển vọng phát triển tình hình ở miền Nam Việt Nam.
PHẠM VĂN ĐỒNG: Vâng, đây là vấn đề triển vọng. Chúng tôi sẽ trao đổi ý kiến với các đồng chí về vấn đề này. Chúng ta sẽ cần phải thảo luận vấn đề này cùng nhau cả trong thời gian tiếp theo. Xét đến cùng, ở đây vấn đề là làm sao đạt được việc rút quân đội Mỹ và qua đó mang lại cho nhân dân miền Nam Việt Nam cơ hội tự quyết định vận mệnh của chính mình.
Khi quân đội Mỹ rời khỏi miền Nam Việt Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng sẽ là lực lượng chủ chốt ở miền Nam đất nước, là lực lượng chủ chốt trong chính phủ liên hiệp. Dĩ nhiên, người Mỹ vẫn sẽ duy trì ảnh hưởng của mình, họ cũng sẽ vẫn có trong tay các lực lượng vũ trang. Vì mục đích đó mà hiện nay họ đang tìm cách củng cố quân đội bù nhìn, chuẩn bị toàn diện cho một diễn biến sự kiện bất lợi đối với họ. Nhưng chúng tôi cho rằng trong bất kỳ hoàn cảnh nào Mặt trận Dân tộc Giải phóng cũng sẽ là chủ nhân của tình hình, bởi vì đông đảo quần chúng nhân dân đứng về phía họ. Còn về phần lũ bù nhìn Sài Gòn, chúng chỉ là những tên tay sai của Mỹ, hoàn toàn bị tách rời khỏi nhân dân của mình.
Như tôi đã nói, việc chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam là thắng lợi đầu tiên nhưng vô cùng quan trọng. Nó buộc người Mỹ phải bước xuống một bậc, mở ra con đường cho chúng ta tiến tới những thắng lợi mới.
Nhiệm vụ chính trong cuộc đấu tranh của chúng tôi là buộc người Mỹ từ bỏ cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam, rút quân đội Mỹ, quân đội các nước chư hầu, xóa bỏ tất cả các căn cứ quân sự của Mỹ trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam, trao cho nhân dân miền Nam Việt Nam cơ hội tự giải quyết công việc nội bộ của mình.
Đó là đường lối kiên định của đảng chúng tôi, của nhân dân chúng tôi. Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa khác và nhân dân toàn thế giới đang dành sự giúp đỡ và ủng hộ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng theo hướng đó. Bất kể ai làm Tổng thống Mỹ đi nữa, người đó cũng không thể thay đổi được đường lối này; nó có sức mạnh lay chuyển không gì lay chuyển nổi và không ai có thể chối cãi được. Nhân dân miền Nam Việt Nam chiến đấu dưới sự dẫn dắt của đường lối này và họ nhất định sẽ giành được thắng lợi hoàn toàn.
Tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa rằng nhiệm vụ của toàn bộ cuộc đấu tranh của chúng tôi và ý nghĩa của những thắng lợi đã đạt được nằm ở việc buộc người Mỹ phải chấm dứt chiến tranh ở miền Nam Việt Nam và rút quân đội của họ ra khỏi đó. Chỉ trong trường hợp đó chúng tôi mới giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam và chỉ bằng cách đó Việt Nam mới có thể giành được độc lập, trở thành quốc gia trung lập, nghĩa là được như những gì đã được xác định trong cương lĩnh chính trị của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Điều này cũng sẽ là sự đóng góp quan trọng vào việc thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954. Toàn thể nhân loại, toàn thể dư luận thế giới sẽ một lần nữa bị thuyết phục rằng quyền hợp pháp của nhân dân Việt Nam là buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh.
Tôi muốn vắn tắt điểm qua một số vấn đề liên quan trực tiếp đến miền Nam Việt Nam. Có lẽ khi làm điều đó, tôi sẽ phải lặp lại một vài điểm đã trình bày ở trên.
Chúng ta đã đấu tranh cho tự do và độc lập của đất nước mình suốt một phần tư thế kỷ. Đã 14 năm trôi qua kể từ năm 1954, khi chúng ta bắt đầu cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam Việt Nam. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, toàn bộ Việt Nam đã được tự do. Các điều khoản trong Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng đọc vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 đã bao trùm toàn lãnh thổ Việt Nam. Đó là thực tế lịch sử mà không ai có thể chối cãi được. Thế nhưng, những kẻ đế quốc Pháp đã đến đất nước chúng ta. Sau 9 năm chiến tranh Kháng chiến chống thực dân, Hội nghị Giơ-ne-vơ đã được triệu tập và đã đạt được những kết quả tích cực. Theo các quyết định của hội nghị này, vào năm 1956, các cuộc tổng tuyển cử lẽ ra phải được tổ chức tại Việt Nam.
Hiện nay, các vùng giải phóng và khu vực do Mặt trận kiểm soát chiếm tới ba phần tư lãnh thổ miền Nam; trên vùng lãnh thổ này tổng cộng có khoảng 10 triệu người sinh sống. Chỉ riêng thực tế này đã cho thấy sức mạnh to lớn của các lực lượng thuộc Mặt trận. Còn nếu tính đến tầm ảnh hưởng của Mặt trận đối với những khu vực chưa do họ kiểm soát, thì có thể nói rằng số lượng dân cư chịu ảnh hưởng của Mặt trận còn lớn hơn nhiều con số 10 triệu người này.
Tôi nhắc lại điều này để làm nổi bật rõ hơn quyết tâm chiến đấu của chúng tôi, nhấn mạnh tính chất chính đáng của các lợi ích và khát vọng của chúng tôi nhằm giành thắng lợi hoàn toàn và giải phóng miền Nam Việt Nam.
Để giành thắng lợi hoàn toàn, nghĩa là đạt được mục tiêu chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam và giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam, chúng tôi tự đặt ra cho mình hai nhiệm vụ:
Thứ nhất, bảo vệ miền Bắc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tăng cường tiềm lực kinh tế và quốc phòng của miền Bắc nhằm một mặt, đối phó với mọi âm mưu và hành động khiêu khích của bọn đế quốc Mỹ, mặt khác - biến miền Bắc thành hậu phương vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng ở miền Nam đất nước.
Thứ hai, nhân dân tôi tiếp tục cuộc đấu tranh tại miền Nam Việt Nam. Để đánh bại mọi âm mưu xâm lược có chiều sâu của bọn đế quốc Mỹ và nhà cầm quyền Sài Gòn cả về mặt quân sự lẫn chính trị, chúng ta phải sẵn sàng đập tan bất kỳ kế hoạch xâm lược cụ thể nào của bọn đế quốc Mỹ, đặc biệt là những kế hoạch mà tôi đã đề cập ở trên.
Chúng ta phải đặc biệt chú ý đến phần phát biểu của Giôn-xợt vào ngày 1 tháng 11 năm nay, trong đó ông ta nhấn mạnh rằng các cuộc giao tranh quyết liệt sẽ vẫn tiếp diễn ở miền Nam Việt Nam.
Hơn nữa, chúng tôi phải tiến hành cuộc đấu tranh quân sự và chính trị ở miền Nam Việt Nam trong sự gắn kết chặt chẽ với các hoạt động ngoại giao. Chúng tôi phải hành động bằng cả hai tay: đồng thời với hoạt động ngoại giao, cần phải giáng đòn vào kẻ thù ở miền Nam Việt Nam. Chỉ trong trường hợp đó mới đạt được sự kết hợp thực sự giữa cuộc đấu tranh trên ba mặt trận - quân sự, chính trị và ngoại giao. Nếu tương quan lực lượng ở miền Nam Việt Nam thay đổi có lợi cho chúng tôi, thì hoàn cảnh đó sẽ tác động vô cùng mạnh mẽ đến tiến trình đấu tranh chính trị tại Pa-ri. Chúng tôi đã không ít lần nói với các đồng chí điều này trong những năm qua. Thực tiễn đó đã mang lại cho chúng tôi thắng lợi trong cuộc đấu tranh suốt năm vừa qua. Các đồng chí Xô viết cũng hiểu rất rõ điều này.
Tôi cũng muốn dừng lại ở một số khía cạnh liên quan đến cuộc đấu tranh vũ trang của chúng tôi. Như các đồng chí đều rõ, cuộc đấu tranh vũ trang ở miền Nam đất nước, bắt đầu từ mùa xuân năm 1968, tức là từ dịp Tết Nguyên đán, đã bước sang một giai đoạn mới. Giờ đây, chúng tôi kết hợp chặt chẽ đấu tranh vũ trang với các cuộc đấu tranh chính trị tại các đô thị. Chính ở giai đoạn này đã diễn ra một bước chuyển biến lớn trong tương quan lực lượng nghiêng về phía chúng tôi. Mỹ buộc phải thu hẹp các hoạt động quân sự và trên thực tế phải rút về các căn cứ của mình, bao gồm cả các thành phố. Kết quả là chiến lược của người Mỹ - vốn nhằm "tìm kiếm các đơn vị của Mặt trận và tiêu diệt chúng" - đã bị đứt gãy và đánh bại. Các phương pháp đấu tranh mới đã buộc Lầu Năm Góc và cụ thể là vị tổng tư lệnh mới của Mỹ là A-bram-xơ phải chuyển sang thực hiện một đường lối chiến lược khác, đó là thu hẹp các khu vực do quân đội Mỹ kiểm soát và chuyển sang các hoạt động phòng thủ. Có thể nói rằng quân đội Mỹ đã bị tê liệt.
Giai đoạn mới đã mang lại nhiều yếu tố thuận lợi cho cuộc đấu tranh của chúng tôi.
Hầu như khắp nơi trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam, đối phương buộc phải ngày càng chuyển sang các hành động thụ động. Tất nhiên, không thể bỏ qua một thực tế là cả người Mỹ lẫn lũ bù nhìn Sài Gòn đều đang nỗ lực hết sức để cải thiện phần nào tình thế của họ.
Hiện nay, chẳng hạn, chúng ta thấy họ đang cố gắng đạt được một số kết quả bằng cách tung các đòn tấn công vào các khu vực và căn cứ bao quanh các đô thị. Chúng tôi cho rằng họ sẽ tiếp tục duy trì chiến thuật này như chiến thuật chính trong năm 1969 sắp tới.
Chúng tôi có đầy đủ khả năng để đánh đập kẻ thù ở khắp mọi nơi, để phá sản bất kỳ kế hoạch quân sự mới nào của chúng. Chúng tôi có thể giáng đòn vào đối phương ở bất kỳ địa điểm nào tại miền Nam Việt Nam. Những đòn tấn công đó sẽ luôn nằm ngoài dự tính của chúng. Chúng tôi có thể đánh bại hoặc vô hiệu hóa lực lượng của Mỹ và bọn bù nhìn ở bất kỳ khu vực nào. Niềm hy vọng chính của người Mỹ và Sài Gòn chính là pháo binh và không quân. Thêm vào đó, người Mỹ đang dồn sức mạnh chủ yếu vào việc củng cố lực lượng không quân trinh sát nhằm thực hiện các chuyến bay do thám trên không phận Việt Nam.
Nhưng, như tôi đã nói, các lực lượng vũ trang của Mặt trận ở miền Nam có đủ khả năng để hạn chế hiệu quả hỏa lực của đối phương và tiêu diệt chúng ở bất kỳ khu vực nào.
Đồng thời, chúng tôi không bao giờ quên rằng đối phương đang bố trí tại miền Nam Việt Nam một đội quân hơn một triệu người, trong đó có tới 540 nghìn quân Mỹ trực tiếp. Quân đội các nước chư hầu của Mỹ lên tới 60 nghìn người. Trong số này, phần lớn thuộc về các đơn vị đến từ Hàn Quốc, chiếm khoảng 50 nghìn người. Phần còn lại phân bổ cho các lính đánh thuê từ Thái Lan, Ô-xtrê-li-a và các nước khác.
Còn về quân số của đội quân bù nhìn, có nhiều tuyên bố khác nhau được đưa ra, chẳng hạn như quân số của chúng là 600 nghìn, hoặc thậm chí tới 800 nghìn người. Người ta cũng nói rằng các kế hoạch đang được ấp ủ nhằm đẩy số lượng binh sĩ quân đội bù nhìn lên tới một triệu người.
Nhưng trên thực tế, theo số liệu mà chúng tôi có được, quân đội Sài Gòn chỉ có 400 nghìn người, nhiều nhất là 600 nghìn người.
PHẠM VĂN ĐỒNG: Hiện nay nhà cầm quyền chỉ đơn giản là ép buộc người dân đi lính. Họ bắt bớ và đẩy vào quân ngũ nam giới ở mọi lứa tuổi, lên tới 40-45 tuổi.
A.N. KOSYGIN: Sĩ quan trong quân đội bù nhìn là người Mỹ hay người của họ?
PHẠM VĂN ĐỒNG: Sĩ quan trong các đơn vị là người Việt Nam, nhưng bên cạnh họ luôn có các cố vấn Mỹ. Về phần bộ chỉ huy chung, nó hoàn toàn nằm trong tay người Mỹ. Các kế hoạch tác chiến chiến thuật do chính người Mỹ vạch ra. Việc chỉ đạo các chiến dịch lớn cũng được giao trực tiếp cho người Mỹ.
Nếu nói về quân đội Mỹ, số lượng của họ khó có thể tăng lên, mặc dù Mỹ sẽ vẫn cố gắng duy trì không đổi lực lượng quân nhân của mình ở miền Nam Việt Nam. Không còn nghi ngờ gì nữa, Lầu Năm Góc và nhà cầm quyền Sài Gòn sẽ cố gắng thực hiện các kế hoạch của họ để chấm dứt tình trạng thụ động và triển khai các hoạt động quân sự nhằm giáng đòn vào các khu vực do Mặt trận Dân tộc Giải phóng kiểm soát. Để củng cố khu vực nằm ngay sát Sài Gòn, gần đây họ đã đưa một sư đoàn cơ động vào đó.
Người Mỹ vẫn đang ấp ủ các kế hoạch mở rộng hoạt động chiến đấu tại đồng bằng sông Cửu Long. Nhưng bất chấp Mỹ có mưu tính gì đi nữa, rõ ràng là họ đang thất bại.
Chúng ta thấy rằng kể từ mùa xuân năm 1968, đường cong phát triển sự kiện đối với người Mỹ đang cắm đầu đi xuống. Dư luận Mỹ cũng thừa nhận điều này.
Cần phải chú ý thêm một điểm nữa. Chính phủ Mỹ, khi tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa, đang phải đối mặt với tình trạng suy sụp tinh thần chiến đấu trong hàng ngũ quân đội của mình. Lầu Năm Góc chủ yếu sử dụng hỏa lực trong các trận đánh, bộ binh của đối phương không bao giờ dám trực tiếp dấn thân vào giao chiến. Sự suy sụp tinh thần trong quân đội Mỹ càng trở nên rõ rệt hơn sau khi Washington chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam. Trong quân đội Mỹ, người ta nhìn thấy rằng: một khi Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã buộc phải chấp nhận chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, thì có lẽ bước đi tiếp theo sẽ là chấm dứt chiến tranh cả ở miền Nam Việt Nam.
Có một hoàn cảnh đang tác động làm rệu rã đối phương, đó là những mâu thuẫn ngày càng trầm trọng giữa quân đội bù nhìn và quân đội Mỹ. Đã ghi nhận các trường hợp các tiểu đơn vị của quân đội bù nhìn chống lại người Mỹ. Thậm chí thỉnh thoảng còn xảy ra xung đột giữa họ với nhau. Những xu hướng này sẽ còn tiếp tục phát triển trong thời gian tới. Như tôi đã nói, chúng ta phải dành sự quan tâm nghiêm túc đến những lực lượng của đối phương hiện đã có mặt ở miền Nam. Đồng thời, chúng ta không được bỏ qua các mưu đồ quân sự xâm lược của kẻ thù. Chắc chắn rằng người Mỹ sẽ tăng cường cuộc chiến tranh xâm lược của họ. Với việc Nixon lên nắm giữ chức vụ Tổng thống Mỹ, các vòng tròn quân phiệt nhất ở Washington và Sài Gòn sẽ làm mới các kế hoạch làm gia tăng tính khốc liệt của chiến tranh. Chúng ta nhìn thấy rõ điều này, và phải luôn sẵn sàng để đối phó với đối phương và đánh đập chúng. Và để làm được điều đó, chúng ta cần phải nhìn nhận rõ những mặt yếu kém, tiêu cực của kẻ thù.
Tình hình quân sự ở miền Nam Việt Nam nhìn chung là như vậy.
L.I. BREZHNEV: Lực lượng quân đội của Mặt trận hiện đang ở cách Sài Gòn có xa không?
PHẠM VĂN ĐỒNG: Họ đã bao vây Sài Gòn từ mọi phía, đóng quân cách thành phố này vài chục ki-lô-mét. Các phân đội nhỏ có khả năng thâm nhập trực tiếp vào trong Sài Gòn.
A.N. KOSYGIN: Các tuyến giao thông dẫn tới Sài Gòn đã bị cắt đứt chưa?
PHẠM VĂN ĐỒNG: Ban ngày đối phương là chủ nhân trên các tuyến đường lớn dẫn vào Sài Gòn. Để làm được điều này, họ sử dụng các lực lượng cơ động rất mạnh. Trên một số đoạn, đường sắt vẫn hoạt động. Tuy nhiên, các phân đội và đơn vị của Quân giải phóng biết rất nhiều cách thâm nhập vào Sài Gòn, và khi cần vào thành phố, họ đều tiến vào được. Bằng cách đó, các đòn tấn công đã được giáng xuống dinh thự của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, đài phát thanh, sân bay Tân Sơn Nhất, bộ tổng tham mưu của quân đội bù nhìn và ngay sát trụ sở của Westmoreland.
Nói chung, hệ thống giao thông là một vấn đề nhức nhối đối với người Mỹ. Đặc biệt quan trọng đối với họ là các đường thủy và đường bộ. Và các đội du kích liên tục giáng đòn vào những tuyến đường đó. Đối phương buộc phải sử dụng lực lượng lớn để bảo vệ hệ thống giao thông của mình.
A.P. KIRILENKO: Có ghi nhận sự suy sụp tinh thần chiến đấu trong quân đội Mỹ không và tình hình trong quân đội Sài Gòn ra sao? Liệu có thể làm rệu rã quân đội đó không?
PHẠM VĂN ĐỒNG: Dĩ nhiên, tinh thần chiến đấu trong quân đội bù nhìn đang sụt giảm, quân đội đang rệu rã. Chúng tôi dành sự quan tâm lớn cho công tác này.
LÊ ĐỨC THỌ: Sau khi chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, theo các thông tin chúng tôi nhận được, tinh thần sĩ khí trong quân đội Mỹ và quân đội bù nhìn đã bắt đầu sụt giảm.
PHẠM VĂN ĐỒNG: Tôi muốn dừng lại ở một điểm nữa. Qua tất cả những năm tháng qua, và đặc biệt là trong thời gian gần đây, chúng ta đã bị thuyết phục rằng bộ chỉ huy Mỹ tại Sài Gòn cũng như bộ chỉ huy tối cao ở Mỹ đã nuôi dưỡng rất nhiều ảo tưởng về tình hình ở miền Nam. Người Mỹ hoàn toàn không thể và vẫn không thể hiểu được rằng họ đang thất bại. Giôn-xợt thậm chí buộc phải tuyên bố rằng các tướng lĩnh Lầu Năm Góc đang lừa dối ông ta. Theo nghĩa này, tình hình hiện tại vẫn không thay đổi. Người Mỹ đang thất bại, gặp phải những khó khăn vô cùng lớn, nhưng họ vẫn tiếp tục nuôi dưỡng những hy vọng ảo tưởng về việc đạt được những bước chuyển biến thuận lợi trong tình hình quân sự. Chính vì thế mà họ tiếp tục cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam. Tất nhiên, chúng ta phải tính đến những ảo tưởng này của đối phương.
L.I. BREZHNEV: Người Mỹ có cắt giảm mức độ hoạt động quân sự ở miền Nam sau khi chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam không?
PHẠM VĂN ĐỒNG: Hiện nay Mỹ đã tập trung ở miền Nam lực lượng hải quân và không quân của họ - những lực lượng trước đây từng được sử dụng để tiến hành các cuộc không kích vào miền Bắc Việt Nam. Người Mỹ đã tiến hành một số chiến dịch quy mô lớn, cụ thể là tại các tỉnh miền đông Nam Bộ. Rất nhiều chiến dịch hành quân "càn quét" do quân đội bù nhìn thực hiện. Họ vẫn tiếp tục các hoạt động tích cực, trong khi chúng ta luôn ghi nhớ rằng họ có trong tay hơn một triệu binh sĩ.
Việc chấm dứt ném bom miền Bắc đang tạo ra hoàn cảnh thuận lợi để đẩy mạnh hơn nữa trước hết là cuộc đấu tranh chính trị. Thắng lợi mới này của chúng ta đã làm nảy sinh trong hàng ngũ đối phương – quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn – tâm lý hoang mang, rệu rã. Trong số những người lính Mỹ bắt đầu xuất hiện tâm trạng rằng đã đến lúc nên xách gói về nước, còn trong quân đội bù nhìn là tâm trạng mong muốn chiến tranh sớm kết thúc.
Đối với các tầng lớp khác của nhân dân miền Nam Việt Nam, thành công của chúng ta đã cổ vũ họ rất mạnh mẽ. Những người bình thường suy luận thế này: người Mỹ đã buộc phải chấm dứt ném bom miền Bắc, giờ đây họ phải chấm dứt cả chiến tranh ở miền Nam; nếu người Mỹ đã thất bại ở miền Bắc thì chắc chắn điều tương tự cũng sẽ chờ đợi họ ở miền Nam. Nhờ đó mà Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình có thêm những điều kiện mới để tiến hành các công tác vận động, để mở rộng công tác chính trị. Xuất hiện thêm những khả năng mới để đẩy mạnh cuộc đấu tranh trong tầng lớp nhân dân đô thị, bao gồm cả ở Sài Gòn. Giờ đây, khẩu hiệu "Hòa bình!", cũng như yêu cầu Sài Gòn phải đàm phán với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã trở nên rất dễ hiểu, gần gũi với mọi người. Tiếng nói đòi người Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, cút khỏi miền Nam Việt Nam ngày càng vang dội hơn. Theo những thông tin mà chúng ta nhận được từ miền Nam, phong trào này đang dần lớn mạnh và chắc chắn sẽ còn lan rộng hơn nữa và mang lại kết quả. Chúng ta xem đây là một thời điểm mới và hết sức thuận lợi cho ta.
Hiện nay trong thành phố người ta nói công khai rằng nếu Nguyễn Văn Thiệu không muốn nói chuyện với Mặt trận mà muốn chiến tranh, thì cứ để một mình hắn ta đánh nhau.
Nhân dân ở các đô thị miền Nam Việt Nam, đặc biệt là ở Sài Gòn, ngày càng thấu hiểu hơn với chính sách của Mặt trận. Điều này càng trở nên rõ nét hơn gắn liền với các cuộc đàm phán đang diễn ra tại Pa-ri. Các lời kêu gọi thay thế nội các chiến tranh hiện nay bằng nội các hòa bình đang vang lên. Đòi hỏi hòa bình ở miền Nam Việt Nam đã trở nên vô cùng mạnh mẽ. Nó ngày càng gắn kết chặt chẽ hơn với khẩu hiệu: "Mỹ cút khỏi Việt Nam!", với tư tưởng xây dựng một miền Nam Việt Nam hòa bình, độc lập và trung lập, thành lập chính phủ liên hiệp thực hiện cương lĩnh của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Hiện nay đang nổi lên yêu cầu thành lập một chính phủ như vậy để có thể sang Pa-ri tiến hành đàm phán với Mặt trận Dân tộc Giải phóng.
Trong tình hình như vậy, cần phải chú ý đến thái độ của người Mỹ đối với nhà cầm quyền Sài Gòn hiện tại. Hợp chủng quốc Hoa Kỳ không mấy tin tưởng vào những kẻ cầm quyền miền Nam Việt Nam, vào chế độ Thiệu - Kỳ, bởi vì chúng không có chút lực lượng thực tế nào. Chúng không chỉ bất lực mà đôi khi còn chống đối, đứng chọi lại với Mỹ. Vậy người Mỹ có thể thay đổi một chế độ như thế nào? Nhìn chung, đối với họ việc đổi một "con ngựa" này bằng một "con ngựa" khác là chuyện bình thường. Chúng tôi biết rõ rằng họ đang có sẵn một vài "con ngựa" trong tay áo. Thậm chí chúng tôi còn biết đó là ai. Và có lẽ Mỹ sẽ thay đổi "con ngựa" nhằm tạo ra một bầu không khí chính trị mới ở miền Nam Việt Nam.
Một mặt, điều này có lẽ được thực hiện để đánh lừa nhân dân, mặt khác - để bắt đầu đối thoại với Mặt trận, bởi vì người Mỹ thừa nhận rằng dù thế nào đi nữa họ cũng cần phải nói chuyện với Mặt trận. Đối với bất kỳ vấn đề nào cần giải quyết, Mỹ cũng phải tiến hành đàm phán với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Nhưng những tính toán cho rằng người Mỹ có thể qua đó thoát khỏi tình thế khó khăn cũng chỉ là những ảo tưởng không bao giờ có thể thành hiện thực. Người Mỹ không thể tìm được một "con ngựa" nào có khả năng đánh lừa được nhân dân. Mỹ sẽ không thể đàm phán từ thế mạnh.
Dĩ nhiên, chúng tôi tính đến việc việc người Mỹ thay thế chính phủ Sài Gòn hiện tại bằng một nội các khác có thể là một thời điểm thuận lợi cho cuộc đấu tranh chính trị của chúng ta.
Liên quan đến vấn đề này, tôi muốn trình bày chi tiết hơn về đặc điểm của Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình miền Nam Việt Nam. Bản thân sự ra đời của Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình (LLDTDCHB) có ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với giai đoạn phát triển hiện tại của cuộc đấu tranh. Và dĩ nhiên, nó sẽ còn mang ý nghĩa quan trọng hơn nữa trong tương lai. Ý nghĩa đặc biệt của Liên minh này nằm ở chỗ nó tập hợp trong hàng ngũ của mình đại diện của các tầng lớp nhân dân trước đây chưa từng tham gia vào cuộc đấu tranh chống Mỹ. Đó là những người rất có tiếng tăm trong các tầng lớp thượng lưu của xã hội miền Nam Việt Nam: trí thức; những người làm nghề tự do; đại diện của tầng lớp tư sản dân tộc, bao gồm cả tư sản dân tộc lớn ở Sài Gòn; một số nhà lãnh đạo của các giáo phái và hệ phái tôn giáo khác nhau; thủ lĩnh của một số dân tộc thiểu số. Như vậy, có thể nói rằng tất cả những con người có uy tín và niềm tin trong công chúng miền Nam, được nhân dân miền Nam Việt Nam biết đến rộng rãi, đều đã hoặc chắc chắn sẽ gia nhập hàng ngũ Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình.
Sự hình thành Liên minh này là một sự kiện quan trọng, là thắng lợi của đường lối Mặt trận nhằm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc của mọi lực lượng miền Nam Việt Nam. Sự xuất hiện của LLDTDCHB càng trở nên quan trọng hơn vì nó đối trọng lại với các mưu đồ của người Mỹ và lũ bù nhìn Sài Gòn - những kẻ trong suốt mấy năm qua đã áp dụng mọi biện pháp nhằm dựng lên cái gọi là "lực lượng thứ ba" ở miền Nam Việt Nam. Đối với Mỹ, đây là vấn đề rất quan trọng, bởi vì họ biết rằng dù sao đi nữa thì cuối cùng họ cũng buộc phải chấm dứt chiến tranh ở miền Nam Việt Nam.
Còn về chiến lược của Mỹ, nó nằm ở việc thực thi định hướng tân thực dân. Chính việc theo đuổi chính sách tân thực dân này khiến Hợp chủng quốc Hoa Kỳ muốn nuốt chửng miền Nam Việt Nam. Hành động theo hướng đó, họ không tiếc của cải hay tiền bạc để cố gắng tạo ra một "lực lượng thứ ba" như vậy. Nhưng những kế hoạch đó của họ đã phá sản, điều này càng trở nên rõ mồn một sau khi Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình được thành lập ở miền Nam. Chính những người mà trước đây Mỹ từng đặt kỳ vọng và nuôi dưỡng hy vọng lại chính là những người đã tham gia Liên minh này.
Dĩ nhiên, những con người này hãy còn rất xa mới tới chủ nghĩa cộng sản. Có thể nói rằng họ có sự lo lắng nhất định đối với miền Bắc Việt Nam. Nhưng chính nhờ cuộc đấu tranh mà chúng ta đã và đang tiến hành, họ đã hiểu ra rằng mình phải tham gia vào cuộc đấu tranh giải phóng. Những người mà tôi nhắc tới đã đi đến kết luận rằng không thể tiếp tục sống trong hoàn cảnh khi mà người Mỹ chiếm đóng miền Nam. Về mặt thế giới quan, họ là những người theo chủ nghĩa dân tộc. Nhưng tất cả bọn họ giờ đây đều lên tiếng đòi người Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam, đòi miền Nam Việt Nam phải độc lập, đòi công cuộc kiến thiết tương lai của đất nước phải được thực hiện theo cương lĩnh của Mặt trận Dân tộc Giải phóng.
Sau khi việc thành lập LLDTDCHB được công bố, nhà cầm quyền Sài Gòn bắt đầu tiến hành khủng bố tất cả những ai tham gia tổ chức này. Nhưng rất khó để làm gì họ, bởi vì họ có uy tín rất lớn, có mối liên hệ vô cùng chặt chẽ với các tầng lớp nhân dân Sài Gòn. Những con người này rất nổi tiếng tại Sài Gòn. Họ đã triển khai công tác tích cực trong các tầng lớp nhân dân miền Nam Việt Nam nhằm thu hút thêm nhiều người về phía Liên minh. Có thể nói rằng không ai có thể làm công tác trong các tầng lớp xã hội miền Nam tốt bằng những nhân vật này.
A.N. KOSYGIN: Thế các đồng chí có liên lạc với họ không?
PHẠM VĂN ĐỒNG: Chúng ta không có liên lạc trực tiếp với họ. Nhưng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam thì có mối liên hệ đó.
Gần đây, như đã biết, các cuộc đàm phán đã diễn ra giữa Mặt trận Dân tộc Giải phóng và LLDTDCHB. Một tuyên bố chung đã được công bố, trong đó nhấn mạnh rằng Liên minh ủng hộ đường lối của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, hoan nghênh các cuộc đàm phán tại Pa-ri. Trong tuyên bố này, cụ thể, có đoạn nói rằng Liên minh ủng hộ việc Mặt trận Dân tộc Giải phóng tham gia đàm phán tại Pa-ri với tư cách là một bên bình đẳng và độc lập.
Tôi dừng lại rất kỹ ở vấn đề này nhằm chứng minh cho các đồng chí thấy rằng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam hiện nay là một lực lượng chính trị vô cùng hùng mạnh ở miền Nam Việt Nam.
A.P. KIRILENKO: Có bằng chứng nào cho thấy Mỹ không tin tưởng vào chính phủ Thiệu - Kỳ không? Phải chăng hành vi hiện tại của chính phủ Sài Gòn là một thứ chiến thuật đã được thỏa thuận với người Mỹ, nhằm thể hiện trước công chúng sự "độc lập" của họ, để không bị coi là bù nhìn trong mắt nhân dân?
PHẠM VĂN ĐỒNG: Ở đây có một số sắc thái, và chúng ta cũng nhìn thấy chúng. Nhà cầm quyền Sài Gòn chính là lũ tay sai của người Mỹ. Trước kia là thế, bây giờ vẫn vậy. Chúng được dựng lên bởi giới quân phiệt Mỹ và được duy trì bằng sức mạnh của giới đó.
Tại sao trong tình hình hiện nay nhà cầm quyền Sài Gòn lại dám đứng ra chống lại người Mỹ? Điều này có thể được giải thích là bởi đứng sau lưng Thiệu - Kỳ là các thế lực phản động nhất, hiếu chiến nhất của Mỹ, mà linh hồn rất có thể là Nixon. Nếu lũ bù nhìn Sài Gòn không có bất kỳ sự hậu thuẫn nào, thì chắc chắn chúng sẽ chẳng dám thực hiện những bước đi lấn tới như vậy. Suy cho cùng thì người Mỹ có thể lật tẩy và loại bỏ chúng một cách vô cùng dễ dàng.
Chúng tôi chỉ muốn nhấn mạnh những điểm cốt lõi đặc trưng cho tình hình chính trị ở miền Nam Việt Nam. Nhân dịp này có thể nói thêm rằng hiện nay đang tồn tại những cơ hội tuyệt vời cho sự phát triển của cuộc đấu tranh chính trị. Hoàn cảnh đang rất thuận lợi cho việc tiếp tục mở rộng và gia tăng cuộc đấu tranh này, để qua đó tạo ra những chuyển biến to lớn trong tiến trình đấu tranh.
Chúng tôi dành sự quan tâm hết sức to lớn cho việc tăng cường công tác chính trị ở miền Nam Việt Nam. Mặt trận và Liên minh đang dốc toàn lực để triển khai công việc này. Tất cả những điều đó được làm nhằm mục đích để Mặt trận và Liên minh trở thành chủ nhân ở các vùng nông thôn, để bước từng bước một, Mặt trận và Liên minh sẽ trở thành lực lượng chủ chốt ngay cả ở các thành phố. Trên cơ sở tiếp tục mở rộng cuộc đấu tranh vũ trang và chính trị, chúng ta cũng sẽ đẩy mạnh hoạt động ngoại giao của mình.
(Theo đề nghị của các đồng chí Việt Nam, hội nghị tạm nghỉ).
xxxxx
Buổi họp chiều
L.I. BREZHNEV: Chúng ta tiếp tục công việc.
PHẠM VĂN ĐỒNG: Tôi muốn báo cáo với các đồng chí về những định hướng chính trong hoạt động ngoại giao của chúng tôi. Chúng tôi đang tiến hành đấu tranh trên ba mặt trận - quân sự, chính trị và ngoại giao. Tôi đã nói rằng chúng tôi muốn hành động bằng cả hai tay, tức là tiếp tục đấu tranh vũ trang và chính trị ở miền Nam Việt Nam, đồng thời phát triển các hoạt động ngoại giao. Tôi muốn trình bày về những hướng của cuộc đấu tranh quan trọng này đã được thảo luận tại Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam.
Các nỗ lực của chúng tôi phải nhằm bảo đảm giải quyết toàn bộ vấn đề Việt Nam, mọi vấn đề trong thời gian ngắn. Chúng ta nghĩ rằng cách tiếp cận như vậy là hợp lý, nhưng chỉ với điều kiện là Mỹ thực sự muốn thể hiện thiện chí và giải quyết vấn đề một cách thực chất.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đưa ra ba vấn đề chính của cuộc đấu tranh ngoại giao.
Thứ nhất, - hội nghị bốn bên.
Chúng tôi đã thông báo cho các đồng chí về ý định của mình theo hướng này từ hai năm trước. Tuy nhiên, chỉ trong thời gian gần đây mới hình thành hoàn cảnh để tiến hành một cuộc gặp như vậy, mặc dù hiện tại chúng tôi vẫn đang vấp phải những khó khăn rất lớn.
Chúng tôi nghĩ rằng không thể ngừng đấu tranh, cần phải tiếp tục để buộc người Mỹ phải bước vào hội nghị bốn bên, nơi sẽ có sự hiện diện của đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Mỹ và nhà cầm quyền Sài Gòn. Tại hội nghị này, Mặt trận sẽ là một bên độc lập và bình đẳng. Người đại diện hợp pháp của nhân dân miền Nam Việt Nam sẽ có đầy đủ thẩm quyền để giải quyết các vấn đề thuộc về miền Nam Việt Nam. Chúng tôi cho rằng việc thực hiện nhiệm vụ này sẽ phụ thuộc vào việc thể hiện thiện chí từ phía Mỹ và nhà cầm quyền Sài Gòn. Nếu người Mỹ không đồng ý nói chuyện với Mặt trận, thì khi đó đặt ra câu hỏi một cách logic rằng rốt cuộc họ muốn gì? Nếu họ theo đuổi chính sách kéo dài thời gian như đang làm hiện nay, thì khi đó phải hành động ra sao? Một bước ngoặt sự kiện như vậy sẽ làm tình hình trở nên phức tạp trầm trọng.
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiên quyết đòi Mỹ nhanh chóng bắt đầu hội nghị bốn bên và tiến hành nó thật nhanh chóng. Đối với chúng tôi đây là vấn đề nguyên tắc. Chúng tôi đối xử với vấn đề này bằng tất cả sự nghiêm túc và không thể nhượng bộ. Ngược lại, chúng tôi có sự chuẩn bị đầy đủ để tiến hành đấu tranh quyết liệt.
Cuộc đấu tranh sẽ vô cùng gay go, nhưng nếu hội nghị bốn bên bắt đầu, thì qua đó sẽ mở ra con đường giải quyết các vấn đề khác. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quan tâm để hội nghị này bắt đầu càng nhanh càng tốt, nhằm sớm chuyển sang giải quyết các vấn đề quan trọng khác.
Thứ hai, hội nghị bốn bên sẽ được kêu gọi giải quyết những vấn đề gì?
Chúng ta đặt ra các vấn đề cốt lõi nhằm đạt được giải pháp đúng đắn cho chúng và khôi phục hòa bình ở Việt Nam trên cơ sở Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954.
Mỹ cũng có thể đưa ra các vấn đề của riêng họ, ví dụ như về khu phi quân sự, về việc giảm mức độ hoạt động quân sự, v.v. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng kiên quyết bác bỏ cách tiếp cận đó, bởi vì những vấn đề này không thể giải quyết được, chúng sẽ chỉ làm cho tình hình thêm phức tạp và có thể cản trở việc giải quyết các vấn đề cốt lõi.
Chúng tôi đã thảo luận với các đồng chí về những vấn đề cốt lõi này của chúng tôi. Chúng tôi gọi chúng là những vấn đề cơ bản, mang tính nguyên tắc, bởi vì trong đó chứa đựng giải pháp chính trị công bằng cho xung đột Việt Nam, chủ yếu là vấn đề về miền Nam Việt Nam. Chúng gắn kết rất chặt chẽ với nhau và chỉ cần giải quyết chúng một cách đồng thời. Trong số các điều khoản cơ bản mang tính nguyên tắc này có hai vấn đề gay gắt nhất: rút toàn bộ quân đội Mỹ và thành lập chính phủ liên hiệp. Người Mỹ trong các phát biểu của mình thường gọi chúng là "gói giải pháp".
Thứ nhất là việc người Mỹ rút quân đội của họ khỏi miền Nam Việt Nam.
Quan điểm của chúng tôi như sau. Mỹ phải rút toàn bộ quân đội của họ và quân đội các nước chư hầu, xóa bỏ mọi căn cứ quân sự của Mỹ trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam trong thời hạn sáu tháng kể từ thời điểm ký kết thỏa thuận tương ứng, tức là sau khi thảo luận và đạt được thỏa thuận.
Đối với những người Việt Nam đã trải qua nhiều năm đấu tranh chống sự xâm lược của Mỹ, việc rút quân đội Mỹ là vấn đề sống còn. Vấn đề đặt ra là sau khi quân đội Mỹ rút đi, nhân dân Việt Nam sẽ có cơ hội tự giải quyết công việc của chính mình.
Khi chúng ta nói rằng cuộc đấu tranh của chúng ta phải kết thúc bằng thắng lợi hoàn toàn, thì ý chúng ta là người Mỹ phải rút quân đội của họ khỏi miền Nam Việt Nam. Chỉ sau đó chúng ta mới có cơ hội tuyên bố rằng miền Nam Việt Nam đã được giải phóng hoàn toàn và trở thành độc lập, rằng miền Bắc Việt Nam thực sự được bảo vệ vững chắc.
L.I. BREZHNEV: Đồng chí Phạm Văn Đồng, tôi muốn làm rõ thêm. Có lẽ cả hai vấn đề này đều gắn kết với nhau: quy định trình tự rút quân đội Mỹ đồng thời đưa vào một tài liệu chính thức điểm về việc thành lập chính phủ liên hiệp. Tôi hiểu có đúng không? Bởi vì người ta cũng có thể hình dung sự việc theo cách là người Mỹ rút đi, còn chế độ Sài Gòn vẫn ở lại và sẽ tiếp tục cuộc chiến chống lại Mặt trận. Có lẽ cần phải gắn kết các vấn đề này với nhau.
PHẠM VĂN ĐỒNG: Vâng, chúng gắn kết vô cùng chặt chẽ với nhau. Chúng tôi hiểu điều này, và người Mỹ cũng phải hiểu điều đó. Chúng tôi đang cố gắng làm mọi cách để họ hiểu và để họ nhất định phải rút quân đội của mình khỏi Việt Nam.
Trong quá trình thảo luận, cũng sẽ cần phải giải quyết vấn đề về nhà cầm quyền Sài Gòn. Nếu không giải quyết tất cả các vấn đề này, sẽ không thể đạt được bất kỳ thỏa thuận nào.
L.I. BREZHNEV: Có lẽ các đồng chí Việt Nam có biết quan điểm của nhà cầm quyền Sài Gòn về chính phủ liên hiệp không? Liệu họ có đồng ý thành lập một chính phủ như vậy hay không?
PHẠM VĂN ĐỒNG: Vấn đề là hiểu từ "họ" ở đây là ai?
L.I. BREZHNEV: Chính quyền Sài Gòn, trong trường hợp này là tập đoàn Thiệu - Kỳ. Sau này, có thể sẽ phải đối phó với một ai đó khác.
Chúng ta hãy cùng suy ngẫm một chút. Giả sử người Mỹ đến Pa-ri, đại diện của Mặt trận, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chính quyền Sài Gòn sẽ đến; các cuộc đàm phán bắt đầu. Giả sử, người ta biết rằng Mỹ đồng ý rút quân trong vòng 6 hoặc 7 tháng. Đồng thời, Thiệu hoặc Kỳ tuyên bố rằng chính quyền Sài Gòn không đồng ý thành lập chính phủ liên hiệp. Liệu cục diện đó có thể xảy ra không? Hay Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có những dữ liệu khá chắc chắn rằng Sài Gòn sẽ chấp nhận tổ chức chính phủ liên hiệp?
PHẠM VĂN ĐỒNG: Các đồng chí đặt vấn đề rất đúng. Những phát biểu của các đồng chí trùng khớp với những suy ngẫm của chúng tôi. Hoàn toàn dễ hiểu, nếu chúng ta muốn hội nghị diễn ra và tại hội nghị đó đạt được sự đồng thuận, thì hiển nhiên là để có được sự đồng thuận này cần phải có sự đồng ý của Sài Gòn. Nếu không có điều đó, thì khó lòng đạt được kết quả tích cực, bởi vì vấn đề rút quân đội Mỹ gắn kết chặt chẽ với việc thành lập chính phủ liên hiệp. Mà việc thành lập chính phủ liên hiệp không chỉ liên quan đến Mặt trận Dân tộc Giải phóng mà còn liên quan đến nhà cầm quyền Sài Gòn.
Bản chất của vấn đề nằm ở chỗ chủ nhân của lũ bù nhìn Sài Gòn chính là người Mỹ. Nếu họ thực sự có ý định nghiêm túc muốn giải quyết vấn đề, họ sẽ tìm ra cách để làm điều đó. Đó là một mặt của vấn đề. Nhân dân miền Nam Việt Nam cũng sẽ có tiếng nói của mình. Chúng tôi nghĩ rằng suy cho cùng chính tiếng nói của nhân dân miền Nam Việt Nam sẽ mang tính quyết định.
L.I. BREZHNEV: Tôi đang nói về các cuộc đàm phán, và trong đó sẽ có sự tham gia của đại diện bốn bên. Nhân dân sẽ nói lên tiếng nói của mình sau đó, ví dụ, trong các cuộc bầu cử.
Tôi đặt câu hỏi này không phải ngẫu nhiên. Có cảm giác rằng nhà cầm quyền Sài Gòn hiện nay đang có lợi ích trong việc không muốn người Mỹ rời khỏi miền Nam Việt Nam. Và nếu giả định đó đúng phần nào với thực tế, thì cần phải chờ đợi rằng tại Pa-ri họ sẽ đưa ra hàng loạt yêu cầu của riêng mình nhằm mục đích phá hoại việc đạt được thỏa thuận. Khi đó chỉ còn lại một lựa chọn thay thế - chiến tranh.
Có lẽ các đồng chí giả định rằng người Mỹ có thể gây sức ép lên Sài Gòn, buộc họ phải chấp nhận thỏa thuận chăng? Chắc chắn các đồng chí đã có một số cân nhắc về vấn đề này chứ? Dẫu sao trước khi bước vào đàm phán, các đồng chí đã chuẩn bị cho chúng rất lâu. Hoàn toàn hợp lý khi giả định rằng phía Việt Nam có cả một loạt phương án đã được vạch ra theo hướng đó.
PHẠM VĂN ĐỒNG: Để trả lời câu hỏi của đồng chí Brezhnev, chúng tôi cần phải suy nghĩ thêm. Mọi thứ phụ thuộc vào Oa-sinh-tơn, vào cách ứng xử của người Mỹ. Hiện nay đó là điều chính yếu. Nếu Mỹ thực sự muốn giải quyết vấn đề một cách nghiêm túc và từ lập trường thiện chí, thì họ phải biết nhà cầm quyền Sài Gòn sẽ cư xử ra sao. Trong Nhà Trắng, dĩ nhiên họ biết mình phải làm gì để đại diện Sài Gòn đến Pa-ri, nếu họ thực sự cần người đó. Khi Mỹ thực sự thực sự muốn nhà cầm quyền Sài Gòn hành động phù hợp với mong muốn của họ, của người Mỹ, họ sẽ buộc lũ bù nhìn phải làm theo. Oa-sinh-tơn có đủ khả năng để gây sức ép lên chính quyền Sài Gòn. Do đó suy cho cùng, vấn đề nằm ở chỗ người Mỹ có thực sự muốn giải quyết vấn đề hay không. Và nếu Mỹ để cho lũ bù nhìn Sài Gòn phá hoại hội nghị, điều đó sẽ cho thấy chính bản thân họ cũng không muốn hội nghị diễn ra. Khi đó sẽ rõ ràng rằng chương trình của họ chính là chiến tranh. Hiện nay đang diễn ra một cuộc kiểm tra mang tính đặc thù đối với ý định của Oa-sinh-tơn, tức là xem người Mỹ có thực sự nghiêm túc và có thiện chí giải quyết vấn đề Việt Nam hay không. Khi đoàn đại biểu của chúng tôi tại Pa-ri nhấn mạnh rằng Hợp chủng quốc Hoa Kỳ gánh chịu toàn bộ trách nhiệm về hội nghị bốn bên, thì tuyên bố đó mang ý nghĩa rất lớn.
Tôi không biết câu trả lời như vậy có phù hợp với tinh thần câu hỏi của các đồng chí hay không?
L.I. BREZHNEV: Khi đặt câu hỏi, tôi muốn làm rõ một số khía cạnh trong thông tin của đồng chí. Đàm phán là đàm phán. Có thể giả định rằng người Mỹ muốn tìm kiếm một thỏa hiệp nào đó không làm tổn hại quá nhiều đến uy tín của họ, và họ muốn rút khỏi chiến tranh. Nhưng đồng thời, họ không có ý định bỏ rơi Sài Gòn, họ sẽ không rời khỏi miền Nam Việt Nam chỉ với những điều kiện do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng đưa ra. Mỹ muốn phải có những quyền lợi được quy định rõ ràng cả cho chính quyền miền Nam Việt Nam lẫn cho chính bản thân người Mỹ. Họ có thể đồng ý với sự cần thiết phải rút quân đội Mỹ, nhưng đồng thời họ cũng sẽ đặt ra một số yêu cầu đối với các đồng chí, ví dụ như về việc chấm dứt các hoạt động quân sự, về việc vạch ra các điều kiện để thành lập chính phủ liên hiệp. Giả sử rằng họ đề xuất một chính phủ liên hiệp như vậy, trong đó chính quyền Sài Gòn nhận được 70 phần trăm số ghế, hoặc 50 phần trăm thuộc về chính quyền Sài Gòn và 50 phần trăm thuộc về đại diện của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Đây chỉ là một trong các phương án có thể thảo luận, giải quyết.
Nếu phương án đó được thông qua, các cuộc trao đổi với Sài Gòn sẽ bắt đầu về cách thức tiến hành bầu cử, những bộ nào phải được thành lập, v.v.
A.N. KOSYGIN: Các hoạt động quân sự chấm dứt.
L.I. BREZHNEV: Vâng, các hoạt động quân sự chấm dứt. Nếu các hoạt động quân sự không chấm dứt, thì Sài Gòn sẽ tuyên bố rằng Mặt trận đang tiếp tục chiến tranh và muốn tiêu diệt chế độ hiện hành bằng con đường bạo lực. Và điều này có thể dẫn đến việc chấm dứt đàm phán. Trong trường hợp này, người Mỹ sẽ không chấp nhận các điều kiện của các đồng chí để giải quyết vấn đề. Đối với họ, việc rời khỏi miền Nam Việt Nam vì lý do uy tín là một điều khó khăn.
Biết đâu đấy, chẳng hạn, một đề xuất có thể được đưa ra rằng miền Nam Việt Nam độc lập sẽ trung lập trong năm năm hoặc vĩnh viễn. Mỹ có thể đặt ra điều kiện đó. Câu hỏi đặt ra là trong trường hợp đó phía các đồng chí sẽ làm gì, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng sẽ tuân thủ lập trường nào? Hành động chung của các đồng chí sẽ ra sao?
Liệu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã vạch ra lập trường trù tính việc đưa ra các phương án giải quyết vấn đề khác nhau vì lợi ích của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng hay chưa? Mục đích chính của các đồng chí Việt Nam, theo chúng tôi hiểu, là buộc người Mỹ phải rút khỏi Việt Nam. Nhưng cần phải lưu ý rằng nếu các bên rời khỏi Pa-ri mà không đạt được thỏa thuận, thì việc tụ họp trở lại sẽ rất khó khăn, và nếu có thể đi chăng nữa thì cũng không phải sớm.
Không còn nghi ngờ gì nữa, trong trường hợp đó các bên sẽ đi đến niềm tin về sự cần thiết phải sử dụng con đường quân sự duy nhất để giải quyết xung đột. Và nếu tính đến việc ở Mỹ đã lên nắm quyền một vị tổng thống mới, người không nổi bật với tinh thần yêu chuộng hòa bình đặc biệt, thì rõ ràng là triển vọng hình thành khá phức tạp. Có thể giả định một điều khác. Nếu các cuộc đàm phán ở Pa-ri cho thấy chỉ còn lại một lựa chọn thay thế là chiến tranh, thì người Mỹ có thể chiếm đóng, ví dụ như Cam-pu-chia, điều mà hiện nay họ đang kiềm chế. Và điều này, như các đồng chí hiểu đấy, sẽ làm tình hình ở toàn bộ Đông Dương trở nên phức tạp trầm trọng.
A.P. KIRILENKO: Mỹ có thể đưa quân vào Lào.
L.I. BREZHNEV: Lào sẽ được đưa vào phạm vi ảnh hưởng quân sự của Mỹ và khi đó ở Đông Dương, và cả ở toàn bộ khu vực Đông Nam Á, sẽ phát sinh một tình hình mới, nguy hiểm.
Trên báo chí nước ngoài đã xuất hiện những thông tin cho rằng các đại diện Sài Gòn hình như đã đồng ý đi Pa-ri. Tất nhiên, thật khó khẳng định những dữ liệu này chính xác đến mức độ nào.
A.N. KOSYGIN: Tôi muốn nói vài lời. Đối với chúng tôi, dĩ nhiên không chỉ rất quan trọng việc nói về những sự thật và sự kiện đã diễn ra rồi. Đối với chúng tôi, điều quan trọng là phải biết lập trường của các đồng chí liên quan đến các cuộc đàm phán trong tương lai, chứ không chỉ là những đánh giá về quá khứ. Rất quan trọng là các đồng chí coi phương án nào là có thể chấp nhận được đối với mình khi nói về chính phủ liên hiệp. Bởi vì chính phủ liên hiệp có thể có nhiều loại khác nhau. Rõ ràng là Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam có một quan điểm nào đó tạo cơ sở để khẳng định rằng chính phủ liên hiệp với thành phần thế này thì các đồng chí chấp nhận được, còn với thành phần thế kia thì không chấp nhận được.
L.I. BREZHNEV: Chúng tôi muốn biết các đồng chí Việt Nam hình dung nguyên tắc tổ chức của chính phủ này như thế nào.
A.N. KOSYGIN: Chính phủ như vậy sẽ đại diện cho cái gì? Người ta có thể đưa ra nhiều phỏng đoán khác nhau, nhưng có lẽ các đồng chí đã vạch ra một lập trường nào đó và hình dung rõ ràng trong đầu mình đây sẽ là một chính phủ như thế nào.
Điều này rất quan trọng đối với chúng tôi để được biết. Nếu các đồng chí trình bày lập trường của mình mà các đồng chí sẽ giữ vững tại các cuộc đàm phán ở Pa-ri, thì điều đó sẽ tạo thuận lợi cho các hành động của chúng tôi trong việc hỗ trợ cuộc đấu tranh chính trị và ngoại giao của các đồng chí nhằm đạt được các kết quả tương ứng. Ngược lại, cả chúng tôi và các đồng chí đều có thể vấp phải một loạt khó khăn.
PHẠM VĂN ĐỒNG: Đồng chí Brezhnev, đồng chí Kosygin! Chúng tôi đã và đang suy nghĩ về điều này. Hiện nay tôi muốn trình bày một số luận điểm có ý nghĩa nguyên tắc để giải quyết các vấn đề hiện tại.
Để giúp Mỹ, trong khi vẫn giữ gìn uy tín của mình, có thể rút quân đội khỏi miền Nam Việt Nam theo những điều kiện mà chúng tôi đã bàn ở trên, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng ý tiến hành rút khỏi miền Nam một số phân đội quân sự của mình. Chúng tôi có thể nói với các đồng chí rằng hành động này của chúng tôi sẽ mang tính chất thuần túy biểu tượng. Chúng tôi, những người Việt Nam, dù ở miền Bắc hay miền Nam đều đang chiến đấu trên mảnh đất của chính mình. Quyền của chúng tôi là chiến đấu chống lại người Mỹ, chống lại sự xâm lược của Mỹ ngay cả ở miền Nam Việt Nam. Các lực lượng quân sự xâm lược của Mỹ phải được rút đi, còn người Việt Nam thì không biết đi đâu, chúng tôi đang ở nhà của mình.
Một khía cạnh khác của vấn đề là phần lớn các chiến sĩ của chúng tôi đều là những người xuất thân từ miền Nam. Đây là các phân đội mà trước đây đã từng được tập kết từ miền Nam ra miền Bắc Việt Nam. Và chúng tôi cho rằng họ tự nguyện trở lại miền Nam Việt Nam để chiến đấu. Khi người Mỹ đồng ý rút quân đội của mình, thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ đồng ý rút quân đội của mình chỉ nhằm mục đích giúp cho người Mỹ phần nào giữ gìn được uy tín. Còn trên thực tế, dù chúng tôi có rút hay không rút quân đội của mình đi chăng nữa, Mỹ cũng sẽ không biết điều đó - ở đất nước chúng tôi đi đâu cũng chỉ toàn là người Việt Nam. Nếu Mỹ tuyên bố rút quân, thì chúng tôi cũng sẽ tuyên bố rằng chúng tôi đang rút các phân đội quân sự của mình. Đó sẽ là bước đi mang tính biểu tượng đáp trả của chúng tôi.
L.I. BREZHNEV: Thế nếu họ đòi hỏi sự kiểm soát lẫn nhau thì sao?
PHẠM VĂN ĐỒNG: Đó là những vấn đề sẽ cần phải thảo luận trong thời gian hội nghị. Chúng tôi nghĩ rằng hướng đi trong các hoạt động của chúng tôi sẽ phần nào buộc người Mỹ phải hiểu chúng tôi. Trong thời gian Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 cũng đã từng nổi lên vấn đề như vậy, nó cũng được đặt ra vào năm 1962 tại hội nghị về Lào. Hiện nay, tất nhiên tình hình đã khác đi rất nhiều. Vào thời kỳ đó, những người Việt Nam tự nguyện có mặt trên lãnh thổ của các quốc gia láng giềng. Bây giờ tình hình đã khác. Bây giờ người Việt Nam đang chiến đấu trên lãnh thổ đất nước mình.
Liên quan đến việc thảo luận cụ thể về vấn đề này, tôi nghĩ rằng trong thời gian tiếp theo chúng ta sẽ tiếp tục trao đổi ý kiến. Còn về cách tiếp cận của chúng tôi đối với nó về mặt nguyên tắc thì là như vậy, như tôi đã trình bày. Nếu các đồng chí cho phép, tôi muốn chuyển sang trình bày các vấn đề khác.
L.I. BREZHNEV: Xin mời đồng chí.
PHẠM VĂN ĐỒNG: Tôi vừa tiến đến vấn đề về chính phủ liên hiệp, điều mà đồng chí Kosygin vừa hỏi.
A.N. KOSYGIN: Vâng, đây là một vấn đề rất quan trọng.
PHẠM VĂN ĐỒNG: Như tôi đã nói, việc rút toàn bộ quân đội Mỹ và thành lập chính phủ liên hiệp, có thể nói là hai mặt của một vấn đề. Bản chất của nó nằm ở chỗ người Mỹ phải rút quân đội của mình. Nhưng việc thành lập chính phủ liên hiệp cũng là một mặt rất quan trọng của nó. Trong chương trình chính trị của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam có nói về việc thành lập một chính phủ liên hiệp rộng rãi, bao gồm đại diện của các tầng lớp xã hội rất khác nhau.
A.N. KOSYGIN: Liệu luận điểm này vẫn giữ nguyên hiệu lực hay đã bị xem xét lại? Theo tôi nhớ, trong chương trình của Mặt trận có nói rằng chính phủ liên hiệp phải được cấu thành từ đại diện của các tầng lớp trí thức, thậm chí cả tư sản, Mặt trận Giải phóng, giới tu sĩ, v.v. Đã có một chương trình khá rộng rãi về việc thành lập chính phủ liên hiệp, nhưng trong thời gian gần đây vấn đề này không được đưa lên nữa, ít nhất là trên báo chí của các đồng chí. Do đó tôi mới hỏi, liệu thái độ của các đồng chí Việt Nam đối với luận điểm này trong chương trình của Mặt trận có thay đổi hay không.
PHẠM VĂN ĐỒNG: Không phải như vậy. Chương trình của Mặt trận không phải là một hành động nhất thời nào đó nhằm mục đích đạt được việc rút quân đội Mỹ. Chương trình của Mặt trận là một văn kiện được tính toán cho cả một giai đoạn. Khi sáng nay tôi nói về Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình miền Nam Việt Nam, thì tôi đã gửi gắm một ý nghĩa nhất định vào thông báo đó. Nhân tiện tôi muốn nói rằng đảng của chúng tôi trong suốt một thời gian dài đã theo đuổi đường lối xây dựng một mặt trận rất rộng rãi. Vấn đề chính luôn nằm ở chỗ huy động tất cả các tầng lớp nhân dân và xây dựng một mặt trận thực sự mang tính đại diện, có cơ sở và nền tảng là liên minh giai cấp công nhân và nông dân. Tổ chức này phải bao gồm tất cả những người yêu nước ở miền Nam Việt Nam. Còn về chính phủ liên hiệp tương lai, thì nó có thể còn rộng rãi hơn nữa về thành phần. Chúng tôi đã suy nghĩ về thành phần của một chính phủ như vậy và cho rằng có thể bao gồm: một phần ba đại diện của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, một phần ba từ Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình và một phần ba là đại diện của các giới thân Mỹ. Với tương quan lực lượng hiện nay thì chính phương án như vậy là khả thi. Khi đạt được thỏa thuận về việc rút quân đội Mỹ, về việc thành lập chính phủ liên hiệp, thì hoàn toàn dễ hiểu là các hoạt động quân sự sẽ được đình chỉ trên toàn bộ lãnh thổ miền Nam Việt Nam. Chỉ khi đạt được sự đồng thuận về hai vấn đề cơ bản thì mới có thể đình chỉ cả các hoạt động quân sự. Khi tình hình ổn định, nghĩa là 6 tháng sau khi rút toàn bộ quân đội Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam, thì khi đó mới có thể tiến hành tổng tuyển cử. Đó là câu trả lời cho phần câu hỏi của đồng chí Brezhnev, nơi đồng chí hỏi rằng liệu các hoạt động quân sự ở miền Nam có tiếp tục diễn ra sau khi quân đội Mỹ rút đi hay không.
A.N. KOSYGIN: Tại đàm phán, các đồng chí sẽ đàm phán chính xác về thành phần như thế này của chính phủ liên hiệp: một phần ba là Mặt trận, một phần ba là Liên minh, một phần ba là Sài Gòn thân Mỹ? Đây là chương trình tối đa hay chương trình tối thiểu?
PHẠM VĂN ĐỒNG: Đối với vấn đề thành phần của chính phủ liên hiệp tương lai, thì đây là điều kiện nhỏ nhất của chúng tôi đối với người Mỹ.
A.N. KOSYGIN: Đây là giới hạn tối đa phải không? Các đồng chí sẽ không lùi bước hơn thế nữa chứ?
LÊ ĐỨC THỌ: Trong sáu tháng đấu tranh ngoại giao của mình, chúng tôi đã bị thuyết phục rằng trước khi đấu tranh với người Mỹ, cần phải hiểu họ. Chúng tôi vẫn chưa hiểu hết các kế hoạch và ý định của người Mỹ. Do đó chúng tôi xác định một giới hạn như vậy, vượt qua giới hạn đó chúng tôi không thể lùi bước thêm được nữa, trong trường hợp này là cấp độ đại diện trong chính phủ liên hiệp.
Trong quá trình đấu tranh, chúng tôi phải hình dung rõ ràng kẻ thù của mình muốn gì. Đồng thời cũng cần phải tính đến tình hình trên chiến trường. Do đó hiện nay chúng tôi vạch ra một giới hạn nào đó, để trong quá trình diễn biến của tình hình, trong các cuộc trao đổi, đấu tranh với kẻ thù, chúng tôi có thể hiểu thấu đáo mọi ý định của hắn. Khi đó cũng có thể có một sự thay đổi nào đó đối với giới hạn đã vạch ra này. Có lẽ sẽ cần phải đòi hỏi nhiều hơn. Có lẽ cũng sẽ phải bớt đi một chút. Nhưng tất cả những điều này chỉ có thể được giải quyết trong quá trình trao đổi cụ thể với Mỹ, trong tiến trình đấu tranh trực tiếp với họ. Chính bằng cách đó mà vấn đề chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam đã được giải quyết.
Do đó hiện nay chúng tôi nói rằng chúng tôi xác định giới hạn mà hiện tại chúng tôi sẽ không từ bỏ. Còn khi trong các cuộc trao đổi và gặp gỡ với người Mỹ, chúng tôi nhận thấy điều gì mới mẻ, chúng tôi dĩ nhiên sẽ liên lạc với các đồng chí và thảo luận mọi thứ để nhìn nhận vấn đề một cách rõ ràng hơn. Hiện tại, có lẽ chúng ta có thể nói về những nét chính chung cuộc. Khi các vấn đề cụ thể phát sinh, khi đó chúng tôi sẽ thông báo cho các đồng chí về việc đó và cùng với các đồng chí Xô viết vạch ra một đường lối hành động thống nhất.
Các cuộc trao đổi ở Pa-ri khác rất nhiều so với các hội nghị Giơ-ne-vơ của những năm trước đây. Hồi đó các đồng chí và chúng tôi cùng ngồi chung một bàn hội nghị, còn bây giờ chúng tôi tiến hành đàm phán một mình. Do đó chúng tôi sẽ thỏa thuận với các đồng chí về từng vấn đề cụ thể tùy thuộc vào cách thức đặt vấn đề của nó. Chúng tôi nghĩ rằng điều đó sẽ hữu ích giống như trước đây cho đến nay.
L.I. BREZHNEV: Chúng tôi cho rằng các đồng chí Việt Nam, khi bước vào đàm phán, đã vạch ra một số điều khoản cơ bản mang tính nguyên tắc, theo đó cần phải đạt được giải pháp, gây áp lực lên người Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Trong tiến trình đấu tranh này có thể có những nhượng bộ, có thể thay thế điểm này và điều khoản này bằng điểm khác và điều khoản khác. Nhưng theo chúng tôi hình dung, các đồng chí phải có một số điểm cơ bản hoặc vấn đề cốt lõi mà các đồng chí mang theo khi đến hội nghị. Không thể hình dung rằng một phái đoàn đi đàm phán mà lại không có lập trường, không có những đề xuất và phương án được vạch ra cụ thể nào đó.
L.I. BREZHNEV: Hoàn toàn chính xác khi các đồng chí mang thái độ không tin tưởng đối với người Mỹ và chế độ Sài Gòn. Nhưng xét cho cùng thì họ cũng mang thái độ không tin tưởng đối với các đồng chí. Họ có thể đề xuất sự kiểm soát của Liên hợp quốc hoặc của một quốc gia nào đó đối với tiến trình thực hiện thỏa thuận đã đạt được.
Các đồng chí cần phải có lập trường của riêng mình đối với vấn đề này.
LÊ ĐỨC THỌ: Trước khi trả lời các câu hỏi mà đồng chí L.I. Brezhnev đã đặt ra, tôi muốn dừng lại ở một số điểm liên quan đến các cuộc đàm phán tại Pa-ri.
Vấn đề trước hết nằm ở chỗ giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam chủ yếu phụ thuộc vào Mỹ. Lũ bù nhìn Sài Gòn có một số mâu thuẫn với người Mỹ, nhưng mọi thứ liên quan đến việc giải quyết vấn đề đều hoàn toàn phụ thuộc vào Mỹ. Những năm gần đây cho thấy người Mỹ lúc thì đưa những kẻ bù nhìn này lên nắm quyền, lúc thì lật đổ chúng và thay thế bằng những kẻ khác.
Có khả năng là nhân dịp triệu tập hội nghị bốn bên, họ sẽ lợi dụng chế độ bù nhìn hiện tại ở Sài Gòn để gây thêm một sức ép nào đó đối với chúng ta. Nếu thoạt nhìn nhà cầm quyền Sài Gòn có một số mâu thuẫn với Mỹ, thì rốt cuộc chúng vẫn buộc phải tuân theo con đường mà Oa-sinh-tơn chỉ định cho chúng, bởi vì mọi lực lượng mà lũ bù nhìn dựa vào đều bị Mỹ nắm giữ hoàn toàn trong tay. Chế độ Sài Gòn sống nhờ vào sự trợ giúp của Mỹ. Do đó, khi đồng chí Phạm Văn Đồng trả lời câu hỏi của đồng chí L.I. Brezhnev về việc liệu lũ bù nhìn Sài Gòn có đồng ý tham gia hội nghị bốn bên hay không, thì câu trả lời có thể có hai hướng: có lẽ chúng sẽ đồng ý, mà cũng có lẽ là không. Nhưng cuối cùng thì mọi thứ đều phụ thuộc vào quyết định của Mỹ. Và do đó, khi chúng ta nói về việc triệu tập hội nghị bốn bên, thì điều đó gắn liền với những sự nhượng bộ lẫn nhau. Trong trường hợp này, chúng ta nhượng bộ người Mỹ về một vấn đề có tính nguyên tắc và không phải nhượng bộ chỉ để làm cảnh.
Trước khi nói về đường lối cụ thể của chúng tôi, cần phải tính đến các mưu đồ của người Mỹ. Như đồng chí Phạm Văn Đồng đã nói, tại hội nghị bốn bên, dưới hình thức này hay hình thức khác, chắc chắn vấn đề về khu phi quân sự và vấn đề giảm bớt các hoạt động quân sự ở miền Nam Việt Nam sẽ được đặt ra.
Khi Mỹ đưa ra vấn đề về khu phi quân sự, họ theo đuổi mục đích cắt đứt miền Bắc và miền Nam Việt Nam khỏi nhau, cản trở việc chi viện cho miền Nam từ miền Bắc. Đồng thời, người Mỹ ngầm ý tăng cường, mở rộng các hoạt động quân sự của họ ở miền Nam Việt Nam, đưa vào đó thêm một lượng vũ khí bổ sung. Họ ngầm hiểu rằng Mỹ sẽ tiếp tục viện trợ cho chế độ bù nhìn miền Nam Việt Nam. Do đó, vấn đề về quy chế của khu phi quân sự chỉ có thể được giải quyết trong trường hợp đạt được thỏa thuận về tất cả các vấn đề liên quan đến miền Nam Việt Nam. Còn nếu giải quyết vấn đề này sớm hơn, điều đó sẽ đồng nghĩa với việc chúng ta tự trói tay chân mình.
Khi nói về việc tuân thủ quy chế của khu phi quân sự, Mỹ còn theo đuổi một mục đích khác, đó là ngăn cản chúng tôi pháo kích phần phía nam của khu vực này. Nếu thỏa mãn yêu cầu nêu trên của người Mỹ, họ sẽ có thể sử dụng các lực lượng của mình đang ở phía nam khu vực này để điều động chúng đến các khu vực khác của miền Nam Việt Nam.
A.N. KOSYGIN: Họ đã đưa ra yêu cầu về việc tuân thủ quy chế khu phi quân sự chưa, hay đây chỉ là phỏng đoán của các đồng chí?
LÊ DỨC THỌ: Họ đã đặt ra vấn đề này từ ngay những ngày đầu tiên trong cuộc đối thoại kéo dài nhiều tháng trời của chúng tôi.
L.I. BREZHNEV: Thế vấn đề được đặt ra theo bình diện nào, hiểu theo ý của họ thì việc tuân thủ quy chế khu phi quân sự có nghĩa là gì? Họ đòi hỏi hoàn toàn không đưa quân vào đó hay là thiết lập sự kiểm soát đối với khu vực này?
LÊ DỨC THỌ: Thứ nhất, họ đòi hỏi không được có pháo kích từ phần phía bắc của Việt Nam nhắm vào các khu vực nằm về phía nam khu vực phi quân sự, không được có bất kỳ hoạt động quân sự nào xung quanh khu vực này.
A.N. KOSYGIN: Dĩ nhiên là không có hoạt động quân sự từ cả hai phía, nếu không thì khu vực này đã không được gọi là khu phi quân sự.
PHẠM VĂN ĐỒNG: Mỹ muốn không có bất kỳ hoạt động quân sự nào trong khu phi quân sự, để nó không bị vi phạm, để các lực lượng quân sự không tập trung xung quanh nó.
Chúng tôi vẫn luôn tôn trọng quy chế của khu phi quân sự. Nhưng hiện nay người Mỹ lại muốn quy chế của khu phi quân sự được mở rộng ra các khu vực nằm ở phía nam của nó, kéo dài cho đến Khe Sanh. Tại đoạn này, Mỹ đã tập trung tới 4 sư đoàn. Đây không còn là khu phi quân sự nữa. Lầu Năm Góc muốn chúng tôi giảm bớt hoặc chấm dứt hoàn toàn các hoạt động chiến đấu tương hỗ tại khu vực này. Từ quan điểm của người Mỹ thì đây là một yêu cầu hợp lý. Nhưng theo quan điểm của chúng tôi, việc giảm bớt hoặc chấm dứt hoàn toàn các hoạt động quân sự chỉ có thể được thực hiện sau khi đã giải quyết các vấn đề mang tính quyết định cốt lõi liên quan đến miền Nam Việt Nam.
Gần đây, người Mỹ tuyên bố, chẳng hạn như chúng tôi đang tiến hành pháo kích xuyên qua khu phi quân sự và pháo kích tên lửa vào phần phía nam của nó. Trên thực tế không hề có những sự việc như vậy. Đó đơn giản chỉ là những tuyên bố vu khống của các đại diện chính thức phía Mỹ. Sau khi người Mỹ chấm dứt các cuộc ném bom miền Bắc Việt Nam và chấm dứt pháo kích phần phía nam khu phi quân sự, chúng tôi cũng đã ngừng bắn ở khu vực này.
LÊ DỨC THỌ: Không phải ngẫu nhiên mà gần đây người Mỹ lại lan truyền những luận điệu bị đặt cho rằng chúng tôi đang tiến hành pháo kích xuyên qua khu phi quân sự. Tất cả những điều đó phục vụ cho các kế hoạch đang được họ ấp ủ nhằm buộc chúng ta phải chấm dứt các hoạt động tại khu vực này.
Vấn đề thứ hai mà người Mỹ đặt ra liên quan đến việc chấm dứt các hoạt động quân sự trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam và pháo kích các thành phố miền Nam Việt Nam. Chúng tôi cho rằng chừng nào các vấn đề chính chưa được giải quyết, thì việc giảm bớt các hoạt động quân sự là điều bất khả thi, và điều đó càng đúng hơn khi phía Mỹ đang ngoan cố tăng cường lực lượng vũ trang của họ ở miền Nam nước ta.
Giờ đây, khi các cuộc ném bom miền Bắc Việt Nam đã chấm dứt, Mỹ đang sử dụng toàn bộ sức mạnh không quân của họ để ném bom miền Nam Việt Nam. Tại một số khu vực, họ thực hiện tới 500 lần xuất kích máy bay mỗi ngày, và cứ sau 15 phút là máy bay B-52 lại dội bom tàn phá khu vực này hay khu vực khác. Do đó chúng tôi cho rằng không thể tiến hành việc giảm bớt hoặc chấm dứt các hoạt động quân sự khi chưa giải quyết các vấn đề cốt lõi trên bàn đàm phán. Sau khi đạt được thỏa thuận về tất cả các vấn đề, các hoạt động quân sự trên thực tế sẽ được chấm dứt và khi đó quy chế của khu phi quân sự sẽ tiếp tục được duy trì.
Sau vấn đề về khu phi quân sự và về việc giảm bớt các hoạt động quân sự, người Mỹ đưa ra vấn đề rút quân. Khi trao đổi với chúng tôi về chủ đề này, Ha-ri-man nói rằng người Mỹ sẽ trong vòng 6 tháng rút toàn bộ quân đội Mỹ và quân đội các nước chư hầu của Mỹ, đồng thời xóa bỏ mọi căn cứ quân sự của Mỹ, nhưng với điều kiện là chúng tôi, tức là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cũng phải rút toàn bộ quân đội của mình. Ông ta nói rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải thực hiện điều đó trước cả Mỹ. Đồng thời ông ta viện dẫn lý do rằng người Mỹ có một đội quân đông đảo ở miền Nam Việt Nam và việc rút quân của họ sẽ đòi hỏi một khoảng thời gian kéo dài.
Đặc biệt, Ha-ri-man nhấn mạnh rằng việc rút quân đội Mỹ sẽ được triển khai thực hiện phù hợp với tuyên bố từng được đưa ra tại hội nghị ở Ma-ni-la vào một thời điểm trước đây.
Đó là những vấn đề mà kẻ thù đang đặt ra cho chúng tôi.
Đối với vấn đề về chính phủ liên hiệp, các đại diện của Mỹ cho đến nay vẫn chưa chạm đến. Đồng thời họ không mệt mỏi lặp lại rằng họ sẽ không bao giờ công nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Tình hình hiện tại vẫn là như vậy. Họ đồng ý tham gia hội nghị bốn bên nhưng đồng thời đưa ra điều kiện kèm theo rằng sự đồng ý của họ đối với hội nghị bốn bên chưa có nghĩa là công nhận Mặt trận. Do đó mới dẫn đến những phát biểu của họ về một hội nghị song phương chứ không phải hội nghị bốn bên.
Còn đối với các vấn đề khác, cụ thể là về kiểm soát quốc tế, thì nó cũng hoàn toàn chưa hề bị chạm tới. Có lẽ sẽ đến thời điểm mà chúng ta cũng sẽ bàn luận về vấn đề này.
Vậy lập trường của chúng tôi đối với đường lối do Hợp chủng quốc Hoa Kỳ tiến hành là như thế nào?
Đồng chí Phạm Văn Đồng đã trình bày các điểm chính trong lập trường của chúng tôi. Hiện tại đây chỉ là việc định hình trước đối với vấn đề này hay vấn đề khác. Như đã nói, trong tiến trình đàm phán trực tiếp với người Mỹ, chúng tôi sẽ có thể hiểu rõ hơn các ý định của họ và thấy được những hành động cần phải triển khai, cũng như việc đặt ra vấn đề này hay vấn đề khác ở bình diện cụ thể nào.
Trước hết, chúng tôi kiên quyết đòi hỏi phải thảo luận và giải quyết ngay lập tức tất cả các vấn đề. Nhưng trước khi giải quyết số phận của miền Nam Việt Nam sẽ ra sao, người Mỹ phải rút toàn bộ quân đội của họ và quân đội các nước chư hầu của Mỹ khỏi đó.
Công thức về thái độ của chúng tôi đối với việc rút quân đội Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam, đối với cái gọi là sự ra đi "trong danh dự" của Mỹ, đã được đồng chí Phạm Văn Đồng trình bày.
Còn về thái độ của chúng tôi đối với việc thành lập chính phủ liên hiệp ở miền Nam Việt Nam, đồng chí Phạm Văn Đồng đã nói về điều này. Tôi cũng đã nói với các đồng chí về điều này từ trước đó đôi chút. Trước khi chính phủ liên hiệp được tổ chức, như là kết quả của việc tiến hành tổng tuyển cử, cần phải thiết lập một cơ chế nào đó mang sứ mệnh là chính phủ liên hiệp lâm thời, và chính phủ đó sẽ phải chịu trách nhiệm về việc tiến hành tổng tuyển cử.
PHẠM VĂN ĐỒNG: Chính phủ liên hiệp lâm thời này sẽ có nghĩa vụ quản lý đất nước trong giai đoạn rút quân đội Mỹ. Nó sẽ được giao phó trách nhiệm chuẩn bị và tiến hành tổng tuyển cử.
LÊ DỨC THỌ: Chính phủ liên hiệp đích thực, chính thức ở miền Nam Việt Nam chỉ có thể được thành lập sau khi toàn bộ quân đội Mỹ đã được rút khỏi đó và sau khi đã tiến hành tổng tuyển cử. Chúng tôi cho rằng tổng tuyển cử phải là tổng tuyển cử tự do.
LÊ ĐỨC THỌ: Nếu nói về mối quan hệ giữa chính quyền này với các cơ quan quyền lực địa phương, thì chúng tôi hoàn toàn nắm giữ chính quyền ở các địa phương, tại các xã và các huyện.
Các cơ quan quyền lực địa phương trong tương lai, được thành lập thông qua bầu cử, sẽ rất rộng rãi, bao gồm các tầng lớp nhân dân khác nhau. Chúng tôi cho rằng sau khi tiến hành tổng tuyển cử, chính quyền ở các địa phương, từ cấp tỉnh trở xuống, sẽ hoàn toàn nằm trong tay chúng ta, và ưu thế của chúng ta ở đó sẽ được đảm bảo.
Đồng chí Brezhnev đã hỏi điều gì sẽ xảy ra với các lực lượng vũ trang của chúng tôi và quân đội Sài Gòn sau khi chính phủ liên hiệp được thành lập: liệu chúng có sáp nhập hay sẽ bị giải tán? Vấn đề về mối quan hệ giữa các lực lượng vũ trang của chúng tôi và quân đội của chính quyền Sài Gòn hiện tại sẽ chỉ được giải quyết sau khi thành lập chính phủ liên hiệp chính thức của miền Nam Việt Nam. Chỉ có chính phủ đó mới có thể quyết định cách thức xử lý các đơn vị quân đội.
Sau khi chấm dứt các hoạt động quân sự ở miền Nam Việt Nam, các lực lượng quân sự sẽ chiếm lĩnh các vị trí, các khu vực mà họ đã có mặt tính đến thời điểm ngưng bắn. Quân đội Mỹ sẽ được tập trung tại các căn cứ được xác định và thỏa thuận trước. Một bộ phận lực lượng của chúng tôi đã được xác định trước cũng sẽ được rút khỏi miền Nam Việt Nam.
Những vấn đề này chưa được xem xét một cách chi tiết. Vấn đề về kiểm soát quốc tế cũng chưa được thảo luận cụ thể. Chúng tôi đã suy nghĩ theo hướng dự trù xem Ủy ban Kiểm soát Quốc tế tại Việt Nam có thể đóng vai trò gì trong việc thực hiện kiểm soát việc chấm dứt các hoạt động quân sự và rút quân. Đối với việc đảm bảo các bảo đảm quốc tế, chúng tôi vẫn chưa đi đến các kết luận cụ thể và xác định rõ các hình thức bảo đảm quốc tế sẽ như thế nào. Có rất nhiều hình thức bảo đảm quốc tế khác nhau. Trong số đó có cả hình thức mà theo đó các bảo đảm sẽ được đảm bảo bằng sự hiện diện của một số lực lượng quân sự nước ngoài. Chúng tôi kiên quyết phản đối điều này.
Chúng tôi rất muốn biết ý kiến của các đồng chí liên quan đến việc đảm bảo sự kiểm soát quốc tế đối với việc chấm dứt các hoạt động quân sự và rút quân.
Và vấn đề cuối cùng mà chúng tôi muốn trao đổi là việc bồi thường những thiệt hại gây ra cho Việt Nam trong thời gian chiến tranh. Quy mô bồi thường sẽ ra sao, chúng tôi vẫn chưa tính toán. Dĩ nhiên, còn có cả một loạt các vấn đề khác tồn tại, ví dụ như vấn đề trao đổi tù binh, v.v.
Việc giải quyết từng vấn đề này, bao gồm cả những vấn đề mà chúng tôi vừa liệt kê, sẽ được chúng tôi thỏa thuận cụ thể với các đồng chí.
Chúng tôi sẽ thông báo hàng ngày cho các đồng chí Xô viết về cả các cuộc tiếp xúc không chính thức lẫn các cuộc gặp chính thức với người Mỹ, thảo luận với các đại diện Liên Xô tại Pa-ri về các quan điểm cụ thể phát sinh của chúng tôi về vấn đề này. Bằng cách đó, sự phối hợp hành động chặt chẽ giữa chúng ta sẽ được đảm bảo.
Thực tế đôi khi vấn đề được đặt ra ở một khía cạnh, nhưng khi nghiên cứu cụ thể hơn thì nó lại nổi lên theo một hướng khác. Rất khó để hiểu thấu đáo các ý định và mưu đồ của người Mỹ. Và về mặt này, việc thảo luận vấn đề chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam đã là một bài học tốt đối với chúng ta.
PHẠM VĂN ĐỒNG: Và không chỉ việc chấm dứt ném bom, mà cả vấn đề liên quan đến việc triệu tập hội nghị bốn bên nữa.
LÊ ĐỨC THỌ: Kinh nghiệm từ sáu tháng đàm phán tại Pa-ri gợi ý cho chúng tôi rằng chúng tôi phải kiên nhẫn. Đồng thời, thực tiễn dạy chúng tôi phải biết tận dụng kịp thời các cơ hội thuận lợi, kịp thời tận dụng các mâu thuẫn trong nội bộ kẻ thù, nhìn rõ điểm yếu và điểm mạnh của chúng. Chỉ khi tính toán đến tất cả các yếu tố này thì mới có thể bắt đầu một cuộc tiến công nào đó và chỉ khi đó mới có thể giành được thắng lợi.
Đồng chí Phạm Văn Đồng đã nói, cụ thể là chúng tôi sẽ cố gắng tranh thủ thời gian để giải quyết vấn đề theo hướng có lợi cho chúng ta. Nhưng điều này không chỉ phụ thuộc vào chúng tôi, mà còn phụ thuộc vào phía Mỹ. Có thể giải quyết mọi vấn đề một cách nhanh chóng nếu Mỹ trên thực tế muốn giải quyết chúng. Nhưng nếu họ không có mong muốn đó, thì dĩ nhiên sẽ có sự kéo dài thời gian. Tất cả những điều đó, đương nhiên, sẽ lộ diện trong tiến trình cuộc đấu tranh sắp tới. Đó là cách tôi muốn trả lời cho những quan điểm do các đồng chí Brezhnev và Kosygin trình bày.
L.I. BREZHNEV: Đồng chí Phạm Văn Đồng, chúng tôi chưa đưa ra bất kỳ quan điểm nào cả. Trước hết chúng ta phải biết rõ các ý định của các đồng chí, rồi sau đó mới suy nghĩ, trao đổi ý kiến về những điều nên khuyên các đồng chí. Các đồng chí là người tiến hành đấu tranh, các đồng chí sẽ thấy rõ hơn nên đưa ra những điều kiện nào. Khi đặt câu hỏi, chúng tôi muốn làm rõ các đồng chí sẽ giữ vững lập trường nào tại các cuộc đàm phán ở Pa-ri: các đồng chí đưa vấn đề nào lên hàng đầu, vấn đề nào lên hàng sau, trong vấn đề gì các đồng chí có thể nhượng bộ, trong vấn đề gì không thể nhượng bộ; các đồng chí sẽ tuân thủ chiến thuật nào sau đó. Nếu các đồng chí đồng ý, chúng tôi sẽ trình bày các quan điểm của mình về vấn đề này sau. Còn hiện tại, chúng ta chỉ đang tiến hành cuộc trao đổi nhằm làm sáng tỏ lập trường của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Các đồng chí đã ở Bắc Kinh, đã tiến hành đàm phán với các nhà lãnh đạo Trung Quốc. Đối với chúng tôi, việc tìm hiểu xem họ tuân thủ quan điểm nào đối với các kế hoạch của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pa-ri cũng là điều không kém phần thú vị. Rõ ràng là giữa các đồng chí đã có sự trao đổi ý kiến theo hướng đó phải không?
PHẠM VĂN ĐỒNG: Những vấn đề mà các đồng chí đặt ra trùng khớp với những gì tôi muốn nói bổ sung về cuộc đấu tranh ngoại giao của chúng tôi. Chúng tôi đã trình bày với các đồng chí các định hướng trong hoạt động ngoại giao của chúng tôi. Trong số đó, chúng tôi tách ra hai vấn đề chính: rút quân đội Mỹ và thành lập chính phủ liên hiệp. Sau khi đạt được thỏa thuận vững chắc về mọi vấn đề liên quan đến vấn đề Việt Nam, và người Mỹ đưa ra những bảo đảm đáng tin cậy về việc rút quân, chúng tôi cũng sẽ rút một phần lực lượng quân đội của mình như một biện pháp nhượng bộ lẫn nhau. Dĩ nhiên, cuộc trao đổi chính của chúng tôi sẽ diễn ra với người Mỹ. Để Mỹ rút quân đội của họ, cần phải có một mức độ nhượng bộ nào đó từ phía chúng tôi. Và trong trường hợp này, sự nhượng bộ đó sẽ là việc hình thành chính phủ liên hiệp.
Vấn đề này là một trong những điểm quan trọng của toàn bộ chính sách của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Chương trình chính trị của Mặt trận là một văn kiện thực chất và mang tính nguyên tắc. Nó dựa trên việc đánh giá tình hình ở miền Nam Việt Nam. Chương trình chính trị này sẽ phát huy vai trò của mình trong suốt một giai đoạn nào đó. Cả chúng tôi và Mặt trận Dân tộc Giải phóng sẽ nỗ lực thực hiện chương trình này trên thực tế, và đây không phải là một thủ mưu hay một thủ đoạn nào từ phía chúng tôi.
Có một loạt các vấn đề khác, ví dụ như sự trung lập của miền Nam Việt Nam. Đây cũng là một trong các định hướng chính sách của chúng tôi, được tính toán cho một giai đoạn nhất định.
A.N. KOSYGIN: Điều này đã được nói đến trong chương trình.
LÊ ĐỨC THỌ: Trong các cuộc đàm phán với Ha-ri-man, tôi đã lưu ý đến điều này. Tôi cũng đã nói với ông ta rằng sau khi chiến tranh chấm dứt ở miền Nam Việt Nam, miền Bắc Việt Nam có thể tiến hành việc thiết lập các mối quan hệ kỹ thuật, kinh tế và một số mối quan hệ khác trực tiếp với Mỹ.
PHẠM VĂN ĐỒNG: Tất cả những điều này cho thấy chính sách của chúng tôi trong tổng thể là một chính sách linh hoạt, toàn bộ đều hướng tới mục tiêu giành được độc lập dân tộc.
LÊ ĐỨC THỌ: Ha-ri-man đã theo dõi các phát biểu của tôi với sự quan tâm lớn.
PHẠM VĂN ĐỒNG: Như vậy, chúng tôi đã trả lời các câu hỏi chính của các đồng chí. Chúng tôi cho rằng các hướng đi trong cuộc đấu tranh ngoại giao của chúng tôi có một cơ sở vững chắc. Nếu phía Mỹ đồng ý với cuộc thảo luận mà chúng tôi đề xuất, thì giải pháp có thể đạt được trong một khoảng thời gian rất ngắn. Hiện tại, vấn đề nằm ở chỗ liệu Giôn-xơn có đồng ý đi theo con đường này hay không. Ông ta vẫn còn hai tháng trong tay. Như đồng chí A.N. Kosygin đã từng nói, điều quan trọng là liệu Giôn-xơn có muốn bước vào lịch sử như một con người đã chấm dứt cuộc chiến tranh gây tổn thất lớn cho nước Mỹ hay không. Hiện tại vấn đề đặt ra chính xác là như vậy: liệu Giôn-xơn có thực sự muốn tận dụng thời gian còn lại để bước vào lịch sử với tư cách là một sứ giả hòa bình hay không. Nếu ông ta có tâm thế như vậy, ông ta sẽ nói chuyện với chúng ta. Giôn-xơn, theo chúng ta thấy, có thể đảm bảo một giải pháp cho vấn đề này sao cho Ni-xơn khi lên nắm quyền sẽ không cách nào thay đổi được tình hình đã hình thành vào thời điểm đó. Có lẽ, ngay cả Ni-xơn cũng sẽ có thái độ thông cảm đối với việc Giôn-xơn hành động theo đúng cách thức như vậy.
Nếu Mỹ thực sự muốn đi theo con đường đàm phán và giải quyết chính trị vấn đề Việt Nam, thì cần có một giải pháp tổng thể; nếu không - thì điều đó có nghĩa là chiến tranh. Xuất phát từ điều này, chúng tôi phải chuẩn bị cho hai phương án phát triển tình hình có thể xảy ra.
Một mặt, chúng tôi phải tận dụng các tình huống thuận lợi để nhanh chóng chấm dứt chiến tranh. Dĩ nhiên, chúng ta sẽ đạt được việc chấm dứt chiến tranh sao cho đáp ứng các khát vọng dân tộc, lợi ích của cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam.
Chúng tôi đã trình bày với các đồng chí toàn bộ tổ hợp các vấn đề rất lớn lao. Chúng tôi đã thảo luận chúng nhiều lần, tiếp cận chúng từ khía cạnh này rồi đến khía cạnh khác. Theo quan điểm của chúng tôi, tất cả những gì chúng tôi trình bày là một cơ sở tốt để thảo luận.
Chúng tôi hy vọng rằng đường lối của chúng tôi sẽ được dư luận thế giới ủng hộ, rằng nó sẽ là một trong những nhân tố huy động dư luận thế giới đẩy mạnh cuộc đấu tranh ủng hộ chúng ta. Điều này cũng áp dụng đối với các lực lượng tiến bộ ngay tại Hoa Kỳ.
Các sự kiện gần đây cũng sẽ tác động ở mức độ nhất định đến tâm lý của những người lính Mỹ đang có mặt tại Việt Nam.
Cho phép chúng tôi bày tỏ hy vọng rằng các đồng chí sẽ xem xét các vấn đề do chúng tôi nêu ra và đưa ra những ý kiến cân nhắc của mình.
Trong tiến trình đàm phán với người Mỹ, chúng ta sẽ phải giải quyết cả một chuỗi các vấn đề. Hiện tại thậm chí thật khó để hình dung mọi thứ có thể phát sinh vào đúng thời điểm của nó! Dĩ nhiên, chúng tôi nhất định sẽ tham khảo ý kiến của các đồng chí.
Kinh nghiệm của những tháng vừa qua đã cho thấy rằng không hiếm khi không phải ở Hà Nội mà chính tại Pa-ri mới có thể nhìn thấy các vấn đề cụ thể và tìm kiếm các con đường giải quyết chúng. Đôi khi đã có trường hợp các đồng chí hỏi chúng tôi tại Hà Nội về những vấn đề mà thực ra không được giải quyết ở Hà Nội mà lại được giải quyết ở Pa-ri.
L.I. BREZHNEV: Các đồng chí đã hỏi, đồng chí Brezhnev, liệu chúng tôi có thảo luận về các vấn đề dàn xếp tại Bắc Kinh khi quá cảnh ở đó hay không. Chúng tôi không thảo luận về chúng. Phái đoàn của chúng tôi chỉ trình bày sự đánh giá về tình hình, kể về cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Các đồng chí Trung Quốc trả lời rằng nhân dân Việt Nam tự mình quyết định bất kỳ hướng đi nào, bất kỳ đường lối nào trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ nhằm cứu nước, trên cả mặt trận quân sự-chính trị lẫn mặt trận ngoại giao. Các đồng chí ấy cũng nói rằng chúng ta có kinh nghiệm và chúng ta hiểu rõ tình hình đang hình thành trong tiến trình đấu tranh chống Mỹ.
Các đồng chí Trung Quốc một lần nữa khẳng định niềm tin của họ rằng người Việt Nam sẽ đưa ra quyết định đúng đắn, và họ sẽ ủng hộ quyết định đó trong bất kỳ trường hợp nào. Nhưng cụ thể về các dự định của mình thì chúng tôi không thông báo cho họ.
LÊ ĐỨC THỌ: Về vấn đề này, tôi muốn đưa ra một nhận xét. Tôi đã nhiều lần trở về quê hương hoặc bay tới Pa-ri qua ngả Bắc Kinh. Nhưng chưa có lần nào tôi thảo luận các vấn đề này tại Trung Hoa. Tôi thường làm điều đó ở các đồng chí, tại Mát-xcơ-va. Trong trường hợp này, đồng chí Phạm Văn Đồng và các thành viên khác trong phái đoàn đã có các cuộc trao đổi với các đồng chí Trung Quốc, còn tôi thì không chần chừ, đã bay thẳng tới đây để thảo luận các vấn đề này với các đồng chí. Đó là câu trả lời cho câu hỏi của đồng chí, đồng chí Brezhnev.
PHẠM VĂN ĐỒNG: Tại Bắc Kinh, chúng tôi chỉ thảo luận các vấn đề chính trị một cách rất lướt qua và không tốn nhiều thời gian cho chúng. Phần lớn các cuộc trò chuyện của chúng tôi dành để thảo luận các vấn đề về viện trợ.
Các đồng chí Trung Quốc hoàn toàn nhận thức rõ rằng người Việt Nam là chủ nhân của đường lối của mình, vì cuộc đấu tranh chống người Mỹ là do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiến hành. Chúng tôi đã nói tại Trung Hoa rằng chúng tôi cần sự ủng hộ và giúp đỡ từ cả các đồng chí Trung Quốc lẫn các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác, nhưng đồng thời chúng tôi nhấn mạnh rằng chúng tôi tự mình xác định đường lối của mình và chính chúng tôi là chủ nhân của đường lối đó. Thái độ của các đồng chí Trung Quốc đối với chúng tôi cho thấy họ thừa nhận điều này.
Nếu các đồng chí cho phép, tôi muốn đề cập đến vấn đề viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong năm 1969. Chúng tôi đã chuyển các tài liệu liên quan cho phía Xô viết. Các chuyên gia của chúng tôi về các vấn đề viện trợ kinh tế và quân sự đã sang để làm việc với các đồng chí Xô viết. Do đó tôi nghĩ rằng không có ý nghĩa gì khi phải trình bày cụ thể tất cả các quan điểm và đơn hàng của chúng tôi.
Tôi chỉ muốn thu hút sự chú ý vào một số điểm cấp bách nhất. Năm nay nền nông nghiệp của chúng tôi đã chịu thiệt hại rất lớn do thiên tai, và chúng ta đang thiếu lương thực và các sản phẩm thực phẩm. Do đó chúng tôi đề nghị Liên Xô viện trợ cho chúng tôi trong năm 1969 số lượng lương thực là 500 nghìn tấn (bột mỳ, ngũ cốc).
Đối với viện trợ quân sự cho năm 1969, chúng tôi cũng đã chuyển cho các đồng chí các tài liệu và đơn hàng liên quan. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng chúng tôi rất mong các đồng chí giúp đỡ chúng tôi trong việc tăng cường năng lực quốc phòng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, củng cố tiềm lực quân sự của chúng tôi.
Chính nhờ chủ yếu vào sự giúp đỡ của Liên Xô mà chúng tôi đã có thể đánh bại cuộc chiến tranh tàn phá mà Hợp chủng quốc Hoa Kỳ phát động chống lại miền Bắc. Nhân dân tôi trên thực tế thấy rằng sự giúp đỡ mà Liên Xô dành cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là vô hạn.
Giờ đây, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã chấm dứt các cuộc ném bom lãnh thổ miền Bắc Việt Nam, nhưng chúng tôi không hoàn toàn tin tưởng họ. Dù các sự kiện có phát triển như thế nào trong tương lai, chúng tôi cho rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là phần xã hội chủ nghĩa của Việt Nam, phải củng cố tiềm lực quân sự của mình. Trong tương lai gần, miền Bắc Việt Nam phải trở thành hậu phương hùng mạnh cho sự phát triển của cuộc đấu tranh giải phóng ở miền Nam Việt Nam. Do đó Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã giao phó cho phái đoàn đảng và chính phủ tha thiết đề nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Chính phủ Xô viết giúp đỡ củng cố năng lực quốc phòng của đất nước chúng tôi. Chúng tôi đang làm tất cả những gì có thể vì sự nghiệp cứu nước. Chúng tôi chiến đấu vì lợi ích dân tộc của nhân dân Việt Nam. Nhưng đồng thời chúng tôi cũng tiến hành cuộc đấu tranh vì sự bảo vệ toàn bộ phe xã hội chủ nghĩa, vì sự tiến bước của phong trào giải phóng dân tộc. Chúng tôi coi cuộc đấu tranh của mình như một sự đóng góp vào việc bảo vệ hòa bình. Và trong đó chúng tôi nhìn thấy nghĩa vụ quốc tế của mình.
Do đó chúng tôi rất hy vọng rằng Liên Xô sẽ dốc toàn lực để giúp đỡ củng cố năng lực quốc phòng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Chúng tôi tràn ngập lòng biết ơn sâu sắc đối với các đồng chí và sẵn sàng thảo luận với các đồng chí mọi vấn đề có bất kỳ liên quan nào đến thông tin của chúng tôi. Chúng tôi cũng hy vọng rằng các đồng chí Xô viết sẽ, trong thời gian ngắn nhất có thể, giải quyết những đề nghị mà chúng tôi đã bày tỏ.
L.I. BREZHNEV: Có lẽ chúng ta kết thúc công việc ở đây nhé?
PHẠM VĂN ĐỒNG: Vâng, tôi đồng ý.
L.I. BREZHNEV: Ngày mai chúng ta có cuộc họp Bộ Chính trị, còn ngày kia chúng ta sẽ gặp nhau vào lúc 10 giờ sáng.
PHẠM VĂN ĐỒNG: Chúng tôi đồng ý. Nhưng nếu được, các đồng chí của chúng tôi phụ trách các vấn đề viện trợ kinh tế và quân sự, nhân khoảng thời gian nghỉ ngơi này, muốn được làm việc với các đồng chí của các đồng chí.
L.I. BREZHNEV: Cứ để họ làm việc.
A.N. KOSYGIN: Họ sẽ gặp gỡ và trao đổi: quân sự bàn về các vấn đề quân sự, kinh tế bàn về kinh tế.
L.I. BREZHNEV: Ngày mai chúng ta sẽ thảo luận kế hoạch cho năm 1969. Đây là một vấn đề rất quan trọng.
xxxxxxxx
Ngày 22 tháng 11 năm 1968
Cuộc họp buổi sáng
L.I. BREZHNEV: Trước hết, tôi muốn cảm ơn các đồng chí vì những thông tin đã cung cấp cho chúng tôi.
Chúng tôi muốn tái khẳng định sự tôn trọng sâu sắc và tình yêu đối với nhân dân Việt Nam, đối với đảng của các đồng chí. Đây không chỉ là tình cảm của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, mà là tình cảm của toàn thể Đảng Cộng sản Liên Xô và toàn thể nhân dân Xô viết. Chúng tôi không mệt mỏi giáo dục đảng của chúng tôi, những người Xô viết trong tinh thần tôn trọng sâu sắc nhân dân Việt Nam anh em. Điều này đặc biệt thể hiện rõ khi nhân dân đất nước các đồng chí đang tiến hành cuộc đấu tranh anh dũng để giải phóng quê hương. Có lẽ chúng tôi không cần phải liệt kê tất cả các hình thức công tác chính trị và ngoại giao của chúng tôi nhằm mục đích hỗ trợ và ủng hộ Việt Nam đang chiến đấu. Các đồng chí biết rõ điều đó: tại các cuộc mít tinh của công nhân, tại các hội nghị đảng luôn nói về cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Cuộc đấu tranh của các đồng chí phục vụ cho chúng tôi làm cớ tốt để giáo dục đảng, toàn thể nhân dân trong tinh thần đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, trước hết là chủ nghĩa đế quốc Mỹ.
Không chỉ Liên Xô là bạn và đồng minh của các đồng chí trong cuộc đấu tranh này. Các nước xã hội chủ nghĩa anh em cùng với chúng ta đang tiến hành một cuộc đấu tranh chính trị lớn chống chủ nghĩa đế quốc Mỹ, chống chủ nghĩa phục thù Tây Đức. Xu hướng này đã biểu hiện rõ nét tại Đại hội lần thứ V của Đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan. Các đại biểu và khách mời của đại hội đã nhiệt liệt chào đón các đại biểu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Đồng chí Gomułka đã nói về cuộc đấu tranh anh dũng của các đồng chí. Tôi đã phát biểu trong bài diễn văn của mình về cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Tôi dẫn ra những ví dụ này để một lần nữa cho thấy rằng Việt Nam không cô độc, rằng các đảng anh em đang dành cho Việt Nam sự ủng hộ to lớn về mặt tinh thần - chính trị và trong khả năng của mình là sự giúp đỡ về vật chất và quân sự. Nhìn chung đây là sự giúp đỡ to lớn và thiết thực cho cuộc đấu tranh của các đồng chí.
Bất chấp những mâu thuẫn trong phong trào của chúng ta nảy sinh do lỗi của những kẻ chia rẽ Trung Quốc, thông cáo của 67 đảng được công bố ngày hôm nay nói lên sự cần thiết cấp bách phải đoàn kết các lực lượng để đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc. Qua đó cảm nhận được nguyện vọng của tất cả các đảng anh em nhằm đoàn kết các nỗ lực của họ trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung.
Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa không chỉ bằng lời nói mà bằng hành động biết bảo vệ cách mạng và giáng trả chủ nghĩa đế quốc cùng chủ nghĩa phản cách mạng. Điều này đã được thể hiện rất rõ ràng tại Tiệp Khắc, khi quân đội của 5 nước xã hội chủ nghĩa được đưa vào đó để không cho phép chủ nghĩa phản cách mạng tước đoạt của giai cấp công nhân Tiệp Khắc những thành quả mà họ đã đạt được trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở đất nước mình.
Chủ nghĩa đế quốc khi thi hành chính sách của mình buộc phải tính đến sức mạnh, uy tín, tiềm lực quân sự của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa.
Chúng tôi tiếp nhận với sự hài lòng đánh giá cao mà Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, nhân dân Việt Nam và phái đoàn đảng và chính phủ của các đồng chí dành cho sự giúp đỡ về quân sự, kinh tế và chính trị do đảng của chúng tôi, Chính phủ Xô viết, toàn thể nhân dân Xô viết dành cho Việt Nam. Các đồng chí đã nói rất hay về sự giúp đỡ của chúng tôi, về sự giúp đỡ từ phía các đảng và nhân dân anh em, do đó không có sự cần thiết phải nói chi tiết về điều đó.
Chúng tôi có thể chú ý đặc biệt đến điều gì trong tiến trình đàm phán của chúng ta?
Chúng tôi luôn luôn nhất quán lấy làm nguyên tắc rằng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và chính phủ đất nước các đồng chí tự mình quyết định mọi vấn đề - cả kinh tế lẫn chính trị, nảy sinh ở trong nước cũng như trên trường quốc tế. Chúng tôi chỉ có thể xác nhận lại quan điểm này của mình.
Tuy nhiên, rõ ràng là cả trong thời gian tới chúng ta cũng phải tham khảo ý kiến lẫn nhau một cách hữu nghị, cởi mở, bởi vì chúng ta đang cùng nhau tiến hành cuộc đấu tranh. Khi trong tiến trình các cuộc trao đổi, chúng ta làm rõ một số vấn đề nào đó, thì chỉ là để hiểu rõ hơn lập trường của các đồng chí. Từ nhiều năm nay, chúng tôi làm điều này chỉ với một mục đích duy nhất: chúng tôi muốn định hướng tốt hơn để hành động tích cực và có mục tiêu hơn trong cuộc đấu tranh chính trị chống người Mỹ và những kẻ đế quốc khác.
Đất nước chúng tôi có một lĩnh vực hoạt động rộng lớn trên trường quốc tế. Khi chúng tôi được định hướng tốt, chúng tôi sẽ dễ dàng hơn trong việc tiến hành chính sách, đưa ra những tuyên bố nào đó, và có thể mắc ít sai lầm hơn. Đó là lý do duy nhất khiến chúng tôi cố gắng tìm hiểu kỹ hơn từ các đồng chí về hoàn cảnh này hay hoàn cảnh khác. Rất nhiều sự kiện (dữ liệu điện mã hóa, thông tin từ các đại sứ, thông tin tại các cuộc gặp, tuyên bố của TASS hoặc tuyên bố trên báo chí) làm chứng cho ý nghĩa to lớn của những cuộc tham vấn như vậy, cho vai trò to lớn của sự hiểu biết lẫn nhau và sự tin cậy hoàn toàn, bởi vì không thể tiến hành cuộc đấu tranh chung nếu thiếu những điều đó. Dĩ nhiên, Liên Xô là một cường quốc lớn, nhưng chúng tôi cũng không phải là được miễn trừ khỏi sai lầm này hay sai lầm khác nếu không có được thông tin chính xác từ những người bạn của mình.
L.I. BREZHNEV: Tính thời điểm của thông tin cũng mang ý nghĩa vô cùng to lớn. Tôi xin các đồng chí không coi những lời của tôi là sự trách móc hướng về phía các đồng chí, nhưng chúng ta có thể dẫn ra một số ví dụ khi các đồng chí yêu cầu chúng tôi thực hiện một hành động nào đó, nhưng lại đặt ra những điều kiện mà thực tế không có thời gian để triển khai nó vào thực tiễn. Do đó, tôi muốn nhấn mạnh tầm quan trọng đối với chúng ta trong việc nhận được thông tin một cách kịp thời. Chúng tôi đã không chỉ một lần đề nghị các đồng chí về vấn đề này, và hôm nay chúng tôi lại lặp lại điều đó.
Trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Chính phủ Liên Xô, vấn đề Việt Nam do một nhóm người nhất định đảm nhận. Các đồng chí không phải lo lắng rằng chúng tôi có thể bị rò rỉ hay bóp méo bất kỳ thông tin nào của các đồng chí. Nói một cách thành cựu, bằng việc cung cấp thông tin cho chúng tôi một cách kịp thời, các đồng chí sẽ chỉ nhận được những lợi ích.
Tôi thấy cần thiết phải nhấn mạnh điều này một cách đặc biệt, bởi vì chúng tôi đã không ít lần rơi vào tình thế khó khăn khi tiến hành một biện pháp nào đó chính là do sự thiếu kịp thời về mặt thông tin từ phía các đồng chí.
Chúng tôi muốn một lần nữa bày tỏ sự tôn trọng sâu sắc đối với lòng dũng cảm và chủ nghĩa anh hùng của quân đội các đồng chí, của các chiến sĩ ái quốc, của toàn thể nhân dân những người đang chiến đấu vô cùng can đảm chống lại chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh này đã đạt được những kết quả rất to lớn.
Chúng tôi cho rằng không có sự cần thiết phải dừng lại chi tiết tại các sự kiện diễn ra trong khoảng thời gian giữa các cuộc đàm phán tháng Tư và tháng Mười Một của chúng ta. Tôi chỉ muốn dừng lại ở các nguyên tắc cơ bản.
Điều chính yếu nằm ở chỗ một giai đoạn mới trong cuộc đấu tranh đã bắt đầu, khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, có tính đến các ý kiến của Liên Xô và các nước, đảng phái anh em khác, đã tận dụng rất tốt các phương tiện đấu tranh chính trị và buộc người Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán. Đây là thành công của đảng các đồng chí, của nhân dân các đồng chí, chứ không phải chiến thắng của người Mỹ. Những lời khuyên mà chúng tôi đưa ra, có lẽ đã được các đồng chí tiếp thu ở mức độ đầy đủ. Chúng tôi coi các cuộc gặp chính thức tại Pa-ri và thỏa thuận về các cuộc đàm phán bốn bên là một thành công rất lớn.
Nếu nhớ lại tất cả các cuộc đàm phán của chúng tôi với các đồng chí, đồng chí Phạm Văn Đồng, với đồng chí Lê Duẩn và các nhà lãnh đạo khác của Đảng Lao động Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thì mọi lập luận và lời khuyên của chúng tôi luôn luôn hướng tới mục đích giúp đỡ những người bạn Việt Nam tìm ra con đường mà trên đó, bằng cách kết hợp đấu tranh quân sự và chính trị, có thể giành chiến thắng với ít tổn thất hơn, nghĩa là đạt được không chỉ việc chấm dứt ném bom mà cả sự giải phóng quê hương.
Chúng tôi dành sự quan tâm đặc biệt to lớn cho giai đoạn mới của cuộc đấu tranh chính trị, tức là các cuộc đàm phán ở Pa-ri, và hôm nay chúng tôi muốn nói một cách cởi mở với các đồng chí, đồng chí Phạm Văn Đồng, rằng chúng tôi chưa thực sự rõ ràng về lập trường của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đối với vấn đề đàm phán dưới hình thức mà các đồng chí đã trình bày.
Từ quan điểm chiến thuật, chúng tôi hiểu yêu cầu đối với người Mỹ về việc rút quân đội của họ. Nhưng như trong bất kỳ cuộc đàm phán nào, và hơn thế nữa là tại các cuộc gặp giữa đại diện các bên tham chiến, các bên tham gia phải có trong cặp tài liệu của mình một loạt các điều kiện. Hơn nữa, ngay từ bây giờ đã có một loạt các vấn đề mà trong tiến trình các hoạt động quân sự đã biến thành đối tượng cho cuộc tranh luận chính trị, cho các cuộc trao đổi giữa các bên tham gia đàm phán.
Hoàn toàn chính xác khi đòi hỏi rút quân đội Mỹ, nhưng suy cho cùng thì chính quyền Sài Gòn và Mỹ cũng sẽ đưa ra các điều kiện của riêng họ. Chúng tôi không biết họ sẽ đặt ra những vấn đề gì, nhưng nói một cách thành thật, đối với chúng tôi, với tư cách là những đồng minh của các đồng chí, việc biết được những vị thế dự phòng nào mà các đồng chí bạn Việt Nam đang nắm giữ trong trường hợp có hành động này hay hành động khác từ phía kẻ thù tại bàn đàm phán là điều rất thú vị. Tuy nhiên, chính khía cạnh này của vấn đề lại được các đồng chí, đồng chí Phạm Văn Đồng, trình bày chưa đủ rõ ràng. Và các đồng chí, đồng chí Lê Đức Thọ, đã nói rằng các đồng chí muốn nhận được từ chúng tôi các khuyến nghị cho cuộc đấu tranh tiếp theo. Nhưng các đồng chí đã nói rằng lập trường của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là người Mỹ phải rút đi, chứ không làm sáng tỏ cho chúng tôi về các vấn đề khác, không nói rõ các đồng chí đang giữ điều gì "trong dự trữ". Thành thật mà nói, trong những điều kiện như vậy, chúng tôi bị tước mất khả năng đưa ra bất kỳ khuyến nghị nào. Việc xác định các lập trường trong cuộc đấu tranh ngoại giao là quyền của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam. Và vì các đồng chí đã không tiết lộ những lập trường này cho chúng tôi, nên chúng tôi rất khó để khuyên các đồng chí bất cứ điều gì.
Chúng tôi chỉ có thể đưa ra một mong muốn duy nhất, đó là các cuộc đàm phán kết thúc với một kết quả thực tế. Các đồng chí nói rằng nếu người Mỹ rời khỏi miền Nam, thì các đồng chí sẽ là chủ nhân của tình hình ở đó. Nhưng các đồng chí bạn Việt Nam hình dung điều đó như thế nào: liệu cuộc chiến tranh với Sài Gòn sẽ vẫn tiếp tục, hay cuộc đấu tranh chính trị sẽ bùng nổ. Chúng ta ở rất xa những ảo tưởng và không có ý định suy nghĩ theo kiểu người Mỹ ngồi vào bàn đàm phán để thực hiện các mong muốn của đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Sẽ là một sai lầm nếu hy vọng vào điều đó.
Trong chính trị cần phải có sự suy luận. Có thể chấp nhận rằng Giôn-xơn, khi thực hiện một bước đi đáng chú ý trước khi rời khỏi cương vị tổng thống, muốn chấm dứt cuộc chiến tranh "bẩn thỉu" này do chính ông ta phát động ở Việt Nam, để từ đó ít nhất có thể gột rửa phần nào vết nhơ ô nhục của mình. Nhưng, khi thừa nhận điều này, người ta cũng phải tính đến khía cạnh khác của vấn đề - đó là khát vọng của Giôn-xơn nhằm duy trì uy tín của Mỹ, để không làm suy giảm niềm tin của các đồng minh vào sức mạnh và khả năng của Oa-sinh-tôn. Và nếu tính đến cả hai khía cạnh này, thì dĩ nhiên tại các cuộc đàm phán người ta phải có một số lập trường. Nếu các cuộc trò chuyện thành công đối với các đồng chí, tất cả chúng ta sẽ rất vui mừng. Nếu các cuộc đàm phán Pa-ri không dẫn đến đâu cả, tất cả chúng ta sẽ có thể trình bày vấn đề theo phương diện chính trị sao cho người Mỹ là những kẻ bất hợp tác, rằng họ đã không đi bước nào đáp lại người Việt Nam. Đổi lại, những kẻ đế quốc sẽ khẳng định rằng người Việt Nam, ví dụ như vậy, là những kẻ khó thương lượng, không chấp nhận bất kỳ điều kiện hòa bình nào và do đó không thể đạt được bất kỳ thỏa thuận nào với họ. Chà, và sau đó chỉ còn lại một lựa chọn duy nhất - tiếp tục chiến tranh. Thật khó để kỳ vọng rằng sau các cuộc đàm phán Pa-ri hiện tại, người ta lại có thể triệu tập một hội nghị về vấn đề Việt Nam trong một tương lai có thể thấy trước. Tổng thống mới của Mỹ sẽ nhận được một di sản chính trị đến mức ông ta sẽ buộc phải tiếp tục chiến tranh. Cần phải tính đến hệ thống quản lý nhà nước ở Mỹ, quyền hạn của tổng thống, đặc biệt là việc đôi khi ông ta có thể tự mình đưa ra cả các quyết định quân sự. Trong trường hợp đó, chúng ta sẽ chờ đợi điều gì từ vị tổng thống mới của Mỹ, Ni-xơn, kẻ mà ngay trong tiến trình chiến dịch tranh cử đã khẳng định mình là một con người mang đường lối chính trị cứng rắn. Chúng ta đã biết Ni-xơn từ lâu. Ông ta nổi bật bởi tính tự ái cực kỳ trầm trọng, sự nóng nảy lớn. Một người Mỹ đã nói một cách rất hình ảnh rằng Ni-xơn nhạy cảm và nóng nảy giống như một cuộn phim ảnh. Điều đó không có nghĩa là chúng ta sợ ông ta. Nhưng cần phải tính đến thực tế là trong hoàn cảnh không đạt được giải pháp, ông ta sẽ chỉ còn lại con đường tiếp tục chiến tranh. Và Ni-xơn sẽ chiếm giữ lập trường nào, chiến tranh có thể mang những hình thức gì, hiện tại rất khó để nói.
Thật hợp lý khi khẳng định rằng việc phá vỡ các cuộc đàm phán Pa-ri sẽ làm phức tạp hóa việc tiến hành chiến dịch tuyên truyền chính trị chống lại người Mỹ. Những kẻ đế quốc và báo chí của chúng sẽ sử dụng toàn bộ sức mạnh và sự xảo trá của mình để tiêm nhiễm vào dư luận ý tưởng cho rằng hình như không thể thỏa thuận được với người Việt Nam, rằng Mỹ dường như đã nhượng bộ còn người Việt Nam thì không nhượng bộ, v.v. Tôi nói điều này dựa trên những phát biểu gần đây của Ni-xơn và các tuyên bố của báo chí Mỹ. Ni-xơn nói, ví dụ, rằng ông ta phản đối sự tham gia của đại diện Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trong chính phủ và nói chung phản đối việc thành lập chính phủ liên hiệp. Ông ta cũng có một loạt các tuyên bố hiếu chiến khác. Tôi nói tất cả những điều này để nhấn mạnh rằng cần phải thể hiện sự cảnh giác tối đa, nghiên cứu kỹ lưỡng về người Mỹ trong tiến trình đàm phán. Nhưng cũng cần phải tính đến hoàn cảnh là Giôn-xơn đang rời đi, thay thế ông ta là một vị tổng thống mới, do đó cần phải tận dụng thời gian để đẩy người Mỹ vào tình thế khó khăn và thu nhận lợi ích tối đa từ các cuộc đàm phán. Để làm được điều này, theo chúng ta thấy, việc chỉ có một lập trường là chưa đủ, mà cần phải vạch ra cả một loạt các lập trường dự phòng có thể được sử dụng vào thời điểm thích hợp.
Đồng chí Phạm Văn Đồng nói, chẳng hạn, rằng cuộc chiến tranh ở miền Nam sẽ tiếp tục, rằng Mỹ muốn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chấm dứt pháo kích khu phi quân sự. Chúng ta hãy thử đứng ở lập trường của người Mỹ trong một phút, thử hình dung quan điểm của kẻ thù. Tôi thừa nhận rằng Oa-sinh-tơn cũng có thể nói như thế này: "Các đại diện Việt Nam các đồng chí muốn gì, muốn chiến tranh tiếp tục, còn chúng tôi thì cút khỏi miền Nam Việt Nam sao? Vấn đề trung lập thì các ông phủ nhận, còn việc thành lập chính phủ liên hiệp thì các ông lại đặt ra những điều kiện không thể chấp nhận được!"
Xuất phát từ những quan điểm mà các đồng chí, đồng chí Phạm Văn Đồng, đã trình bày với chúng tôi ngày hôm trước, chúng tôi rất khó để đưa ra bất kỳ khuyến nghị nào. Vấn đề về chúng chỉ có thể được đặt ra trong trường hợp Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vạch ra một số vấn đề nào đó, một số câu hỏi nào đó. Nếu chúng được các đồng chí làm cho rõ, thì khi đó chúng tôi mới có thể bày tỏ quan điểm của mình về chúng. Trong các cuộc trao đổi trước đây của chúng ta, đồng chí Phạm Văn Đồng đã nói, ví dụ, về việc thành lập một chính phủ liên hiệp rộng rãi. Khi đó một loạt các ý tưởng cụ thể đã được đưa ra, mà chúng tôi đã dành sự quan tâm nghiêm túc nhất và có tính đến chúng. Trong thông tin gần đây, chúng có vẻ đã bị rơi rớt ra ngoài, có lẽ điều đó xảy ra một cách ngẫu nhiên. Tôi nhấn mạnh rằng chúng tôi luôn sẵn lòng đưa ra các khuyến nghị và lời khuyên cho những người bạn Việt Nam, nhưng trong trường hợp này chúng tôi thực sự gặp khó khăn, bởi vì chúng tôi không rõ về lập trường tổng thể của các đồng chí. Nếu hôm nay chúng tôi không thể nói được điều gì mới mẻ, cụ thể, thì sẽ thật đáng mong muốn nếu chúng tôi được thông báo theo tiến trình của các cuộc đàm phán ở Pa-ri. (Đương nhiên, nếu các đồng chí thấy điều đó là cần thiết). Khi đó chúng tôi mới có thể định hướng và đưa ra một số khuyến nghị nào đó. Đồng thời, chúng tôi lại muốn nhấn mạnh rằng thông tin hậu kiểm không còn đóng vai trò hiệu quả mà lẽ ra nó có thể đóng góp. Phía Xô viết sẽ có thể hỗ trợ các đồng chí nếu nhận được thông tin phù hợp từ trước. Còn thông tin hậu kiểm thì giống như một thứ trọng lượng chết. Nó tương đương với việc chúng ta biết tin tức từ các tờ báo hoặc từ các bản tin của TASS. Đôi khi cũng có chuyện chúng ta biết chúng từ báo chí phương Tây sớm hơn là từ những người bạn của mình.
Đối với viện trợ kinh tế và quân sự, chúng ta, cũng như trước đây, sẽ tiếp tục giúp đỡ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đồng chí Phạm Văn Đồng đã đưa ra đề nghị về sự cần thiết cung cấp lúa mì cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chúng tôi hiểu tầm quan trọng của vấn đề này. Ngày hôm qua, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã đi đến quyết định nhất trí và giao phó thông báo cho phái đoàn đảng và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rằng Liên Xô sẽ trao cho nhân dân Việt Nam anh em 500 nghìn tấn ngũ cốc. Bất kể những khó khăn và những thời điểm phức tạp của chúng tôi ở trong nước, chúng tôi vẫn dành cho các đồng chí số lượng mà đồng chí Phạm Văn Đồng đã yêu cầu. Tôi chỉ muốn cảnh báo rằng toàn bộ 500 nghìn tấn đó là ngũ cốc, chứ không phải bột mì. Lương thực sẽ được cung cấp thành các phần bằng nhau trong suốt năm 1969. Trong nửa đầu năm 1969, chúng tôi sẽ cố gắng gửi phần lớn hơn.
Nhân cơ hội này, tôi muốn đề nghị đồng chí Phạm Văn Đồng một lần nữa trao đổi với các nhà lãnh đạo Trung Quốc liên quan đến việc cải thiện quá trình trung chuyển hàng hóa của chúng ta qua lãnh thổ Trung Hoa, bởi vì tất cả các hoạt động vận chuyển của chúng ta đến Việt Nam đều vấp phải những khó khăn vô cùng lớn. Chúng ta đang có tình hình căng thẳng về phương tiện vận tải. Chúng ta buộc phải mua toa tàu ở Ấn Độ, ở Ba Lan. Khối lượng vận chuyển đang gia tăng, không đủ toa xe lửa, trong khi ở Triều Tiên, tại biên giới Trung Quốc, và ở những nơi khác, hàng trăm toa tàu đang nằm phơi nắng phơi sương.
Do việc đóng cửa kênh đào Su-ê, các con tàu của chúng ta buộc phải đi đến Việt Nam theo đúng nghĩa đen là vòng quanh thế giới. Còn các đồng chí lại gặp khó khăn trong việc bốc dỡ. Chỉ tính riêng trong nửa đầu năm 1968, do thời gian tàu nằm chờ tại các cảng Việt Nam, chúng tôi đã mất tới 800 nghìn rúp ngoại tệ. Sẽ tốt hơn biết bao nếu Liên Xô có thể hỗ trợ các đồng chí số tiền này đã bị mất do các tàu nằm chờ tại các cảng của Việt Nam.
Chúng tôi cũng đã xem xét phần còn lại của các đơn hàng về viện trợ kinh tế và quân sự. Trong khả năng của mình, có tính đến tất cả các đặc thù của tình hình đất nước các đồng chí, chúng tôi đã xác định quy mô cung cấp của mình cho Việt Nam trong năm 1969.
Sẽ thật tốt nếu chúng ta có thể, chẳng hạn vào thứ Hai, ký kết với các đồng chí thỏa thuận về vấn đề này. Điều đó cũng sẽ rất hữu ích về mặt thúc đẩy thành công các cuộc đàm phán ở Pa-ri tiến lên phía trước.
A.N. KOSYGIN: Sẽ là một tấm gương được nêu ra cho các nước khác đang giúp đỡ các đồng chí.
L.I. BREZHNEV: Theo quan điểm của chúng tôi, cũng đáng để làm cho các cuộc đàm phán của chúng ta mang tính công khai. Sẽ không có gì đáng sợ nếu chúng ta nói rằng tại Liên Xô đã có những nhà lãnh đạo Việt Nam như thế này như thế nọ. Việc thăm viếng lẫn nhau là quyền của chúng ta, và sẽ không tồi nếu người Mỹ cũng biết rằng tại Mát-xcơ-va đã có các cuộc đàm phán giữa các phái đoàn Liên Xô và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
A.N. KOSYGIN: Điều đó sẽ củng cố lập trường của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pa-ri.
L.I. BREZHNEV: Vào thứ Hai, chúng ta có thể ký kết thỏa thuận và đưa ra một thông báo nhỏ hoặc một thông cáo về việc này.
Nếu vì lý do nào đó mà đồng chí Phạm Văn Đồng cho rằng không thể công khai sự hiện diện của mình tại Mát-xcơ-va, thì khi đó có lẽ chúng ta cần phải thông báo rằng tại Liên Xô đã có một phái đoàn đảng và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã tiến hành các cuộc đàm phán trong bầu không khí hữu nghị, thắm tình đồng chí, rằng một thỏa thuận về viện trợ kinh tế, quân sự và cung cấp lương thực cho Việt Nam đã được ký kết. Tôi nghĩ rằng vấn đề này có thể được thỏa thuận.
Đồng chí Phạm Văn Đồng, tôi muốn trình bày thêm một ý nghĩ nữa. Chúng tôi có cảm giác rằng nếu tại các cuộc đàm phán ở Pa-ri, người Mỹ đưa ra một sự đảm bảo nào đó về việc rút quân đội của họ khỏi Việt Nam, thì cần phải tìm ra bất kỳ hình thức linh hoạt nào để một thỏa thuận được ký kết về vấn đề này và để các cuộc đàm phán đạt được thành công. Một kết quả như vậy sẽ cho phép những người bạn Việt Nam ở lại một mình trên lãnh thổ đất nước mình, không có bóng dáng kẻ chiếm đóng và sự hiện diện của bất kỳ lực lượng quân sự nước ngoài nào. Điều đó sẽ làm cho toàn bộ tiến trình đấu tranh vì độc lập của các đồng chí trở nên dễ dàng hơn đáng kể.
A.N. KOSYGIN: Chính xác.
L.I. BREZHNEV: Cả thế giới sẽ đánh giá một bước ngoặt như vậy của sự việc như một chiến thắng của các đồng chí. Thực tế là - các đồng chí sẽ đuổi cổ những kẻ chiếm đóng ra khỏi mảnh đất của mình! Các đồng chí sẽ dễ dàng hơn trong việc tiến hành công tác chính trị giữa các tầng lớp nhân dân ở miền Nam Việt Nam. Các đồng chí sẽ thu hút về phía mình nhiều người hơn, những người đôi khi còn sợ chuyển sang phía các đồng chí, v.v. Chúng tôi có cảm giác rằng một phương án như vậy rất đáng được xem xét một cách vô cùng nghiêm túc.
Dĩ nhiên, sẽ còn xuất hiện cả những vấn đề khác, có lẽ là rất phức tạp, nhưng điều chính yếu nằm ở chỗ các đồng chí sẽ tự mình giải quyết chúng, chỉ có những người Việt Nam, không có sự hiện diện của người nước ngoài. Khi đó Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng sẽ có thể tiến hành các cuộc đàm phán với các nước xã hội chủ nghĩa liên quan đến việc khôi phục nền kinh tế quốc dân. Hiện tại đây là một cuộc trò chuyện vô chủ đề. Các đồng chí hiện đang rất khó khăn để lập ra một kế hoạch kinh tế quốc dân, xác định thứ tự công việc khôi phục, v.v. Chính các đồng chí cũng nói rằng các đồng chí không được đảm bảo khỏi sự tái diễn các cuộc ném bom của Mỹ.
Ngay cả để thu gom và kiểm kê toàn bộ thiết bị công nghiệp và các thiết bị khác đang bị vứt rải rác ở các con đường, trong các khu rừng, được lưu kho tại các cảng, cũng sẽ đòi hỏi một khoảng thời gian nhất định. Công việc như vậy cần phải được tiến hành trong một bầu không khí yên bình. Không thể nghĩ rằng nếu không có các đảm bảo an ninh cho đất nước mà lại có thể khôi phục nền kinh tế quốc dân và nhanh chóng nâng cao tiềm lực của nó. Đó là một ảo tưởng!
Một lần nữa tôi muốn nhấn mạnh rằng đối với chúng tôi, tình hình phức tạp với việc vận chuyển hàng hóa mang ý nghĩa rất lớn.
Một vấn đề riêng tư. Các đồng chí đã đề nghị chúng tôi cấp một đài phát thanh cho phái đoàn ở Pa-ri. Chúng tôi tặng các đồng chí không hoàn lại một đài phát thanh với trang thiết bị đầy đủ, và nó sẽ được gửi tới Pa-ri.
Hai vấn đề liên quan đến tình hình quốc tế. Chúng tôi rất biết ơn những người bạn Việt Nam vì họ đã hiểu đúng đắn hành động của 5 nước xã hội chủ nghĩa đã đưa quân vào Tiệp Khắc để bảo vệ sự nghiệp của cách mạng. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam trong trường hợp này đã thể hiện sự thấu hiểu sâu sắc bản chất của nghĩa vụ cách mạng.
Một vấn đề khác có ý nghĩa vô cùng to lớn. Sẽ rất tốt nếu Đảng Lao động Việt Nam tham gia Hội nghị Quốc tế các đảng cộng sản và công nhân. Toàn bộ phong trào cộng sản đều đứng về phía nhân dân Việt Nam. Và dĩ nhiên, sẽ rất khó để giải thích cho những người cộng sản trên thế giới hiểu tại sao Đảng Lao động Việt Nam, tổ chức mà sự đoàn kết với nó được tất cả các đảng ca ngợi, lại không muốn tham gia Hội nghị này.
Đương nhiên, đó là quyền của đảng các đồng chí trong việc quyết định có cử hay không cử đại diện của mình đến Hội nghị này. Nhưng chúng tôi khuyên một cách hữu nghị những người bạn Việt Nam hãy cân nhắc thêm một lần nữa tất cả những điểm "lợi" và "hại" để tham gia Diễn đàn Quốc tế của những người cộng sản. Bằng cách đó, các đồng chí sẽ đóng góp một phần to lớn vào sự nghiệp của phong trào cộng sản thế giới, vào việc củng cố sự đoàn kết của nó trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc.
Hôm nay chúng tôi chưa nói lời tạm biệt với các đồng chí, nhưng chúng tôi xin thay mặt Bộ Chính trị, thay mặt chính phủ của chúng tôi chuyển tới các đồng chí Hồ Chí Minh, Lê Duẩn và tất cả các nhà lãnh đạo Việt Nam khác, tới nhân dân các đồng chí những lời thăm hỏi chân thành nhất và những lời chúc tốt đẹp nhất về những thành công trong thắng lợi hoàn toàn trước kẻ thù.
Chúng tôi có ý định, thưa đồng chí Phạm Văn Đồng, vào ngày thứ Hai, sau khi ký kết thỏa thuận, sẽ tổ chức một bữa tiệc nhân danh Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Chính phủ Liên Xô để chiêu đãi phái đoàn đảng và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Có lẽ ai đó trong số các đồng chí của chúng ta muốn bổ sung điều gì đó không?
Tôi xin được nói vài lời.
Thứ nhất, hiện nay là thời điểm thuận lợi nhất để đạt được thành công trên bàn đàm phán. Chúng ta phải tận dụng triệt để thời điểm này và tạo ra một bầu không khí ở Pa-ri sao cho Mỹ cảm thấy rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng hoàn toàn coi trọng các cuộc đàm phán. Để làm được điều này, điều rất quan trọng là những cam kết mà các đồng chí gánh vác khi đạt được thỏa thuận phải được thực hiện một cách chắc chắn.
Nhưng chừng đó là chưa đủ. Khi thực hiện một cam kết nào đó, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên phổ biến rộng rãi điều đó trên báo chí và qua đài phát thanh. Cần phải để toàn thế giới biết rằng kết quả của một thỏa thuận như vậy là phía Việt Nam đang tiến hành một hành động nhất định. Cần phải làm cho dư luận thế giới tin tưởng rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ tiến hành đàm phán mà còn thực hiện những hành động thực tế nhằm triển khai các quyết định của những cuộc đàm phán đó.
Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô cho rằng — và đồng chí Brezhnev đã nói về điều này — các đồng chí Việt Nam đang nghiêm túc tiến hành đàm phán để đạt được thỏa thuận trên các điều kiện có thể chấp nhận được đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đồng thời, một số thỏa hiệp nào đó là có thể xảy ra và là điều không thể tránh khỏi để giải quyết vấn đề cốt lõi, nhằm buộc Mỹ phải rút quân đội khỏi Việt Nam.
Bằng cách này hay cách khác, cần phải tìm ra một số giải pháp thỏa hiệp có thể giúp ích cho các đồng chí trong tương lai, khi người Mỹ đã rút đi. Suy cho cùng, các đồng chí hoàn toàn có thể đưa ra các sửa đổi đơn phương đối với những giải pháp này. Nhưng hiện tại, chúng ta phải tìm ra một sự thỏa hiệp, nếu không thì với sự xuất hiện của Ni-xơn, một hoàn cảnh bất lợi sẽ hình thành đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Tôi muốn lặp lại một lần nữa rằng việc chúng tôi biết được quan điểm của lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không phải là vào thời điểm các cuộc đàm phán đã đang diễn ra, khi các đồng chí đã giải thích mọi thứ cho người Mỹ và bỗng nhiên các đồng chí nảy sinh một vấn đề nào đó, là điều rất quan trọng. Chúng tôi cần phải biết trước nền tảng lập trường của các đồng chí. Đây không phải là sự tò mò vô bổ. Sự hiểu biết đó sẽ trang bị cho chúng tôi, giúp chúng tôi tích cực hơn trong việc gây sức ép lên người Mỹ vì lợi ích của các đồng chí.
Các đồng chí có cho rằng có thể giải quyết cả vấn đề này hay không? Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã công bố một số tài liệu có tính nguyên tắc. Một trong số đó là chương trình của Mặt trận Dân tộc Giải phóng.
Đây là một tài liệu rất chi tiết, tốt. Nhưng theo quan điểm của chúng tôi, trong đó có một số điểm có thể đẩy một số tầng lớp dân cư miền Nam Việt Nam ra xa Mặt trận. Chẳng hạn, chúng ta đang nói về vấn đề quy trách nhiệm cho những cá nhân hiện đang tiếp tay cho sự hiện diện của người Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Khái niệm này có thể bao gồm các loại đối tượng rộng lớn: giáo viên trong trường học, trí thức-kỹ sư, công nhân làm việc tại các xí nghiệp, v.v. Những con người này đơn giản sẽ sợ rằng khi quân đội của Mặt trận tiến vào, tất cả bọn họ sẽ bị trừng phạt. Do đó, thay vì nhận được sự ủng hộ, các đồng chí có thể vấp phải sự kháng cự từ phía họ. Hiện tại họ có thể cảm thông với các đồng chí, nhưng đồng thời họ cũng có thể sợ hãi cho sinh mạng của mình trong tương lai. Có lẽ chúng ta nên suy nghĩ và, mà không cần sửa đổi bất cứ điều gì trong chương trình của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, hãy soạn thảo một văn kiện mới nào đó có tính đến tình hình hiện tại. Chương trình của Mặt trận Dân tộc Giải phóng được thông qua vào năm 1967. Đã hơn một năm trôi qua. Giờ đây, các đồng chí có thể cùng với Mặt trận Dân tộc Giải phóng công bố, ví dụ, một văn kiện nào đó có thể hợp nhất tất cả các lực lượng tiến bộ ở miền Nam và tạo cho họ động lực để đấu tranh chống người Mỹ trong liên minh với Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Nó có thể đóng một vai trò quan trọng.
Chúng tôi có cảm giác rằng vấn đề bồi thường thiệt hại mà sự xâm lược của Mỹ gây ra cho Việt Nam cần phải được các đồng chí chuẩn bị thật tốt. Có một số con đường để giải quyết vấn đề này. Gần đây tôi đã trò chuyện với Mác-na-ma-ra. Hiện ông ấy là chủ tịch Ngân hàng Thanh toán Quốc tế và Quỹ Tiền tệ. Ngân hàng này có trong tay những nguồn tiền khổng lồ. Nó cấp các khoản vay trong thời hạn 25 năm không tính lãi để hỗ trợ phần nào cho các quốc gia. Có lẽ chúng ta nên suy nghĩ về điều này.
Nếu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cảm thấy thuận lợi với phương án này, các đồng chí có thể bày tỏ những suy nghĩ của mình để chúng tôi có thể đặt vấn đề trước ngân hàng này. Ví dụ, ngân hàng đó sẽ cho vay một tỷ đô-la không tính lãi. Tất nhiên là sau khi đạt được một thỏa thuận nào đó. Nếu không có sự đồng ý của các đồng chí, chúng tôi không thể làm điều đó.
Chúng ta cần đặt vấn đề về việc nhận khoản tín dụng dài hạn kỳ hạn 25 năm để khôi phục nền kinh tế quốc dân với số tiền lên tới 1 tỷ đô-la. Nếu các đồng chí đồng ý, chúng ta có thể thử thực hiện một hành động như vậy. Mặt khác, theo đường lối liên nhà nước, chúng ta cần đòi chính phủ Mỹ bồi thường thiệt hại, đưa ra các khiếu nại đối với họ liên quan đến những tổn thất đã gây ra cho Việt Nam. Tuy nhiên, có vẻ như chúng ta không nên vội vàng về điều này. Một hành động như vậy có thể được thực hiện ở giai đoạn tiếp theo của các cuộc đàm phán. Khi đó, phía chúng ta cũng có thể thực hiện các bước đi cần thiết theo hướng này.
Và điều cuối cùng mà tôi muốn dừng lại là vấn đề về Hội nghị các đảng cộng sản. Đảng Lao động Việt Nam phải tham gia vào hội nghị đó, bất chấp mọi sự phức tạp gắn liền với chính sách của Trung Quốc trong vấn đề này. Trách nhiệm đối với vận mệnh của phong trào cộng sản thế giới mà đảng này gánh vác với tư cách là một đảng cộng sản buộc đảng này phải làm như vậy. Sự tham gia của các đồng chí vào Hội nghị toàn thế giới của các đảng cộng sản là điều cực kỳ cần thiết. Và tất nhiên, các đồng chí sẽ thu được lợi ích to lớn từ việc này cho uy tín, cho tính độc lập của mình. Sự tham gia của các đồng chí bạn Việt Nam vào Hội nghị sẽ được tất cả những người cộng sản trên thế giới đón nhận với sự hào hứng lớn, và họ sẽ chỉ hoan nghênh bước đi đó của Đảng Lao động Việt Nam.
L.I. BREZHNEV: Có lẽ chúng ta làm thế này nhé, đồng chí Phạm Văn Đồng. Hôm nay rất nhiều vấn đề đã được chạm đến, và có lẽ các đồng chí Việt Nam cần phải suy nghĩ về chúng, thảo luận về chúng. Có lẽ chúng ta sẽ tiếp tục đàm phán vào sáng thứ Hai, để các đồng chí có thể đưa ra câu trả lời cho các câu hỏi của chúng ta. Chúng ta thỏa thuận như vậy nhé? Về phần mình, chúng tôi đồng ý với điều đó.
A.N. KOSYGIN: Và sau đó chúng ta sẽ ký thỏa thuận.
L.I. BREZHNEV: Chúng ta sẽ tiến hành thế nào?
PHẠM VĂN ĐỒNG: Do ngày mai đồng chí Lê Đức Thọ bay đi Pa-ri, chúng tôi muốn nói vài lời ngay lúc này. Nếu cần phải trò chuyện bổ sung, chúng ta sẽ làm điều đó vào thứ Hai.
Trước hết, tôi muốn dừng lại ở một số điểm mà đồng chí Brezhnev đã đề cập. Trước khi đến đây theo lời mời của các đồng chí, chúng tôi đã suy nghĩ rất nhiều. Khi đó chúng tôi đã gặp phải một loạt các khó khăn, chính những điều đó đã không cho phép chúng tôi đến Mát-xcơ-va một cách kịp thời. Chúng tôi xin các đồng chí thứ lỗi vì điều này.
L.I. BREZHNEV: Đương nhiên, sẽ tốt hơn nếu chúng ta gặp nhau sớm hơn. Nhưng chúng tôi luôn thấu hiểu những khó khăn nảy sinh ở phía các đồng chí.
PHẠM VĂN ĐỒNG: Thưa các đồng chí Brezhnev, Kosygin, Kirilenko!
Các đồng chí thân mến!
Khi lắng nghe các đồng chí, tôi rất xúc động. Đồng thời cuộc trò chuyện của chúng ta đã cổ vũ tôi. Tôi cảm thấy sự hài lòng, bởi vì các đồng chí đang giúp đỡ chúng tôi và đưa ra các đề xuất của mình, những đề xuất mà chúng tôi cho là rất tuyệt vời; những đề xuất cho phép chúng tôi suy ngẫm. Tôi xúc động bởi vì chúng tôi luôn coi trọng quan điểm của các đồng chí một cách rất nghiêm túc. Chúng tôi đặc biệt xúc động trước việc các đồng chí bày tỏ những suy nghĩ của mình một cách cởi mở, từ tận đáy lòng, cũng như tình cảm đồng chí, anh em của các đồng chí dành cho chúng tôi. Tôi cho rằng tất cả những điều này thật tuyệt vời! Về phần mình, chúng tôi dành sự tôn trọng lớn lao đối với những tình cảm hữu nghị mà các đồng chí thể hiện đối với chúng tôi. Chúng tôi hứa với các đồng chí rằng đảng của chúng tôi, nhân dân Việt Nam sẽ luôn luôn duy trì những tình cảm như vậy đối với các đồng chí, đối với Đảng Cộng sản Liên Xô, đối với toàn thể nhân dân Xô viết.
Chúng tôi vẫn luôn nói và đang nói rằng quan hệ giữa những người cộng sản, giữa các đảng phái, giữa các nước xã hội chủ nghĩa phải là những mối quan hệ giống như đang tồn tại giữa Đảng Lao động Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa một bên, với Đảng Cộng sản Liên Xô và Liên Xô ở bên kia. Những tình cảm mà chúng tôi dành cho Liên Xô tựa như một chỉ số, một hòn đá thử vàng cho thái độ của chúng tôi đối với các đảng cộng sản, đối với phong trào cộng sản quốc tế, đối với toàn bộ phe xã hội chủ nghĩa.
Chúng tôi nhìn nhận hai mặt của vấn đề này. Thứ nhất, nhận sự cảm thông và ủng hộ từ tất cả các đảng nhằm đảm bảo cho thắng lợi của chúng tôi. Dĩ nhiên, hoàn toàn tự nhiên là chúng tôi phải dựa vào sức mạnh của chính mình. Cũng hoàn toàn dễ hiểu rằng đồng thời chúng tôi phải làm chủ đường lối của chính mình. Và chính xuất phát từ sự thấu hiểu đúng đắn về tính độc lập của chúng tôi, từ sự thấu hiểu đúng đắn về nguyên tắc tự lực cánh sinh, chúng tôi cũng hiểu rằng chúng tôi phải dựa vào Liên Xô. Đây là quan điểm mang tính nguyên tắc của chúng tôi. Chúng tôi luôn hành động hoàn toàn phù hợp với lập trường này.
Cuộc đấu tranh cách mạng đang tiếp diễn tại đất nước chúng tôi đã giành được một loạt thắng lợi mới. Tôi muốn nhấn mạnh rằng chúng tôi đã có thể đạt được chúng nhờ sự giúp đỡ, ủng hộ và cảm thông từ phía Liên Xô. Chúng tôi hy vọng rằng mọi chuyện vẫn sẽ như vậy trong thời gian tới.
Thứ hai, đó là trách nhiệm của chúng tôi trước Đảng Cộng sản Liên Xô, trước Liên Xô, trước nhân dân Xô viết. Các nguyên tắc của chủ nghĩa quốc tế vô sản buộc chúng tôi phải làm mọi thứ trong khả năng của mình để dành sự ủng hộ và giúp đỡ kịp thời cùng hiệu quả nhất cho Đảng Cộng sản Liên Xô, nhân dân Xô viết, đất nước của các đồng chí. Chúng tôi nhìn nhận trách nhiệm của mình trước các đồng chí ở điểm đó.
Chúng tôi rất nghiêm túc đối với trách nhiệm này của mình. Kể từ khi chúng tôi thấm nhuần ý thức cộng sản, khi chúng tôi trở thành những người cộng sản, chúng tôi vẫn luôn nhìn nhận thái độ của mình đối với Liên Xô chính là như vậy. Và chúng tôi cho rằng thái độ đó phải hiện hữu trong bất kỳ hoàn cảnh nào: cả trong lúc khó khăn cũng như trong những buổi chiến thắng.
Chúng tôi có niềm tin không lay chuyển vào sự nghiệp của các đồng chí. Đó là niềm tin sắt đá vào những con người đã là những người tổ chức và tiếp nối Cách mạng Tháng Mười, những người đang tiếp tục sự nghiệp của V.I. Lê-nin vĩ đại, đang xây dựng chủ nghĩa xã hội, đóng góp cống hiến lớn lao nhất vào phong trào giải phóng thế giới.
Niềm tin ấy cực kỳ quan trọng đối với bản thân chúng tôi. Không chỉ những người cộng sản Việt Nam mà toàn thể nhân dân Việt Nam đều tràn ngập sự tôn trọng đối với các đồng chí. Minh chứng cho điều này chính là lập trường của chúng tôi liên quan đến các sự kiện ở Tiệp Khắc. Ngay từ đầu, chúng tôi đã kiên quyết định đoạt rằng chúng tôi phải chiếm giữ một lập trường rõ ràng đối với các sự kiện đó. Chúng tôi đã công khai và chính thức tuyên bố về lập trường của mình, và tin chắc rằng những người cộng sản Việt Nam, nhà nước xã hội chủ nghĩa của chúng tôi phải chiếm giữ chính xác lập trường như vậy.
Diễn biến tiếp theo của sự việc đã cho thấy chúng tôi đã hành động đúng đắn và kịp thời. Chúng tôi biết rằng lập trường của chúng tôi liên quan đến các sự kiện Tiệp Khắc đã khiến nhiều người phải suy ngẫm. Họ hiểu rằng chúng tôi được dẫn dắt bởi các nguyên tắc của chủ nghĩa quốc tế vô sản.
Đây chỉ là một trong những ví dụ về thái độ của chúng tôi đối với Đảng Cộng sản Liên Xô và Liên Xô. Trong công tác chính trị, đảng của chúng tôi luôn luôn dành tầm quan trọng to lớn cho việc giáo dục trong quần chúng tình cảm đoàn kết với Đảng Cộng sản Liên Xô.
Vài lời về các mối liên lạc của chúng tôi.
Các đồng chí Brezhnev và Kosygin đã nói, cụ thể là, việc các đồng chí Xô viết có được bức tranh rõ ràng về tình hình ở Việt Nam là rất quan trọng, để tiến hành thành công các bước đi tương ứng nhằm hỗ trợ và ủng hộ chúng tôi trong cuộc đấu tranh chính trị và ngoại giao, nhằm phối hợp tốt hơn các hành động của Liên Xô và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Chúng tôi hiểu rằng để làm được điều này, các đồng chí Xô viết phải có được thông tin kịp thời. Tuy nhiên, đôi khi những khó khăn lớn lại nảy sinh ở đây. Chẳng hạn, trong tiến trình các cuộc đàm phán hiện nay, chúng tôi đã trình bày với các đồng chí các hướng đi chung của hoạt động ngoại giao, những khía cạnh chính yếu, quan trọng nhất của nó. Chúng tôi vẫn chưa vạch ra các phương án cụ thể cho sự phát triển của các sự việc tại phân đoạn này hay phân đoạn khác.
Chúng tôi hiểu rằng trong tiến trình đấu tranh, việc cần thiết phải vạch ra các phương án cụ thể của nó cho phù hợp với hoàn cảnh sẽ hình thành trong giai đoạn nhất định là điều tất yếu. Kinh nghiệm của vài tháng đàm phán ở Pa-ri làm chứng cho thực tế là tại mỗi thời điểm xác định, người ta cần phải vạch ra một đường lối cụ thể nào đó. Có những thời điểm mà việc hành động phải diễn ra cực kỳ khẩn trương.
Như tôi đã nói, một số vấn đề cụ thể cấp bách được giải quyết tại chỗ, ngay tại Pháp. Chính vì thế mà Bộ Chính trị đảng chúng tôi thấy rằng sự cần thiết để đồng chí Lê Đức Thọ có mặt ở Pa-ri là vô cùng quan trọng. Chúng tôi cho rằng một tình huống có thể phát sinh khi chúng tôi gặp khó khăn trong việc đưa ra quyết định kịp thời tại Hà Nội.
Tôi nhớ lại một trường hợp khi các đồng chí truy vấn chúng tôi về một vấn đề thông qua Hà Nội, nhưng vào thời điểm đó nó đã được giải quyết ở Pa-ri rồi.
Tất cả những điều này không có nghĩa là chúng tôi sẽ không vạch ra các hướng đi cụ thể cho cuộc đấu tranh của mình. Chúng tôi sẽ làm điều đó và sẽ thông báo cho các đồng chí tại Hà Nội hoặc Mát-xcơ-va về các dự định của mình. Chúng tôi có thể truyền đạt các dữ liệu mang tính khẩn trương nhất tới các đồng chí tại Pa-ri.
Tôi muốn ghi nhận bầu không khí tốt đẹp trong các cuộc đàm phán của chúng ta. Thật rất tuyệt vời khi chúng ta định kỳ gặp gỡ các đồng chí, xem xét tình hình đã hình thành, thảo luận về các hướng đi chính trong cuộc đấu tranh của chúng ta.
Theo quan điểm của chúng tôi, chúng ta phải luôn duy trì bầu không khí như vậy, nó tạo cơ hội để đạt được những kết quả tuyệt vời. Chúng tôi cho rằng trong tiến trình đấu tranh chống những kẻ đế quốc Mỹ, chúng ta phải duy trì mối liên hệ cực kỳ khắt khe với các đồng chí, củng cố sự hợp tác lẫn nhau của chúng ta. Và nếu từ phía chúng tôi có điều gì đó được thực hiện chưa được hoàn toàn tốt, chưa thực sự kịp thời, thì tôi xin hứa rằng chúng tôi sẽ cố gắng khắc phục điều đó.
Liên quan đến một số ý kiến của các đồng chí, tôi xin được lưu ý những điểm sau đây.
Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với các đồng chí rằng các cuộc đàm phán tại Pa-ri là rất quan trọng. Chúng tôi không hề xem nhẹ chúng, ngược lại, chúng tôi nhìn nhận chúng một cách rất nghiêm túc. Bản thân việc chúng tôi bắt đầu các cuộc đàm phán ở Pa-ri đã là một thành công. Việc chúng tôi đạt được lệnh chấm dứt các cuộc ném bom cũng là một thắng lợi. Chúng tôi cho rằng cần phải trụ vững tại Pa-ri và phát huy những cơ hội đang có ở đó.
Dựa trên cơ sở này, chúng tôi sẽ không làm bất cứ điều gì khiến các cuộc đàm phán ở Pa-ri thất bại vì lỗi của chúng tôi. Ngược lại. Chúng tôi sẽ làm mọi cách để tận dụng chúng. Tôi đồng ý với nhận xét của đồng chí Cô-xê-gin rằng hiện nay đã đến thời điểm thuận lợi nhất, cần phải tận dụng triệt để, kịp thời, tích cực và chủ động nhất có thể. Đó là yêu cầu của toàn thể nhân dân Việt Nam, và chúng tôi phải phục vụ nhân dân mình một cách trung thành.
Chúng tôi đang chuẩn bị để cả hai tay đều sẵn sàng chiến đấu. Một mặt, chúng tôi phải tận dụng mọi thứ để tiến hành đàm phán ở Pa-ri, mặt khác — phải có khả năng đẩy lùi bất kỳ âm mưu thủ đoạn nào của kẻ thù.
Chúng tôi đã đưa ra một số ý kiến liên quan đến cuộc đấu tranh ngoại giao. Chúng tôi sẽ nghiên cứu kỹ lưỡng mọi suy nghĩ của các đồng chí Xô viết. Bây giờ tôi muốn dừng lại ở một số điểm.
Hiện nay, điều quan trọng nhất là buộc người Mỹ phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Chúng tôi đã suy nghĩ rất nhiều về việc làm thế nào để đạt được điều đó. Việc quân đội Mỹ rút đi trong thời hạn hợp lý sẽ có nghĩa là chúng tôi đã chiến thắng. Nhưng cần phải làm gì để đạt được điều đó? Hôm qua tôi đã nói rằng nếu người Mỹ thực sự tiến hành rút quân đội của họ và quân đội chư hầu, tiến hành xóa bỏ các căn cứ quân sự của Mỹ ở miền Nam, thì chúng tôi cũng sẽ rút một phần lực lượng của mình. Tất nhiên đây sẽ là một bước đi mang tính biểu tượng. Chúng tôi làm điều đó để người Mỹ, khi rút quân và xóa bỏ các căn cứ, có thể giữ gìn thể diện của họ. Đó là lập trường mang tính nguyên tắc của chúng tôi.
Vấn đề chính quyền liên hiệp là một vấn đề rất nghiêm trọng. Điều quan trọng cần nói là đây là vấn đề phức tạp nhất trong toàn bộ tổ hợp các vấn đề cần phải giải quyết. Dĩ nhiên là chúng tôi phải nghiên cứu vấn đề này một cách hết sức kỹ lưỡng. Những suy nghĩ mà các đồng chí bày tỏ sẽ giúp chúng tôi khảo sát vấn đề này một cách toàn diện hơn.
Chúng tôi cho rằng chương trình chính trị của Mặt trận là rất đúng đắn và rất nghiêm túc. Theo chương trình này, một chính phủ liên hiệp rất rộng rãi cần phải được thành lập ở miền Nam Việt Nam. Đó là điều mà hoàn cảnh thực tế hiện đang hình thành ở miền Nam Việt Nam đòi hỏi.
A.N. KOSYGIN: Giữa chúng ta với nhau, chúng ta có thể nói rằng đây sẽ là một chính phủ lâm thời. Dĩ nhiên, điều này không nên để cho người Mỹ biết.
PHẠM VĂN ĐỒNG: Nó có thể là chính phủ lâm thời trong một khoảng thời gian nào đó. Nhưng điều đó cũng sẽ phụ thuộc vào tình hình.
Sau khi đạt được thỏa thuận và sau khi Mỹ bắt đầu rút quân đội và xóa bỏ các căn cứ của họ, một chính phủ liên hiệp sẽ được thành lập. Chính phủ đó phải giám sát việc rút quân, đồng thời tiến hành bầu cử ở miền Nam Việt Nam.
Kết quả của cuộc bầu cử cũng sẽ hình thành nên một chính phủ liên hiệp với thành phần vô cùng rộng rãi.
Các đồng chí đã dành sự quan tâm lớn đối với phát biểu của đồng chí Cô-xê-gin liên quan đến việc sẽ có ý nghĩa quan trọng nếu cả chúng ta và Mặt trận đều thực hiện nghiêm chỉnh những cam kết mà chúng ta sẽ đảm nhận sau thỏa thuận, cụ thể là đối với chính quyền Sài-gòn.
Chương trình của Mặt trận sẽ đóng vai trò của mình trong suốt một khoảng thời gian nào đó. Ở giai đoạn này, chính sách trung lập do chương trình đó công bố cũng sẽ có ý nghĩa. Chúng tôi đang nói về một sự trung lập thực sự, chân chính, hoàn toàn phù hợp với các Hiệp định Giơ-ne-vơ. Chính phủ sẽ được thành lập ở miền Nam Việt Nam sẽ thiết lập các mối quan hệ rộng rãi với tất cả các quốc gia, trong đó có cả Mỹ. Nếu các cuộc đàm phán ở Pa-ri mang lại kết quả tốt, nếu các giải pháp đạt được trên toàn bộ tổ hợp các vấn đề chính yếu, thì hoàn toàn tự nhiên là chính phủ tương lai của miền Nam Việt Nam sẽ có quan hệ tốt đẹp với Mỹ.
Tôi muốn nhấn mạnh lại một lần nữa rằng chúng tôi coi trọng các cuộc đàm phán ở Pa-ri. Chúng tôi có ý định với sự giúp đỡ và ủng hộ của các đồng chí, phối hợp hành động với các đồng chí, để làm sao cho các cuộc đàm phán ở Pa-ri mang lại những kết quả tốt đẹp. Chúng tôi sẽ bằng mọi sức lực để tranh thủ tận dụng khoảng thời gian khi Tổng thống Giôn-sơn vẫn còn đang nắm quyền.
Hiện nay mọi thứ phụ thuộc vào Giôn-sơn. Làm thế nào để tác động đến ông ta? Chúng tôi cho rằng các đồng chí Xô viết có những khả năng để làm điều đó.
Chúng tôi sẽ làm mọi cách để các cuộc đàm phán ở Pa-ri mang lại những kết quả thuận lợi cho chúng ta, nhằm không để xảy ra tình trạng chỉ còn lại duy nhất một lối thoát — đó là chiến tranh. Về tất cả các vấn đề này, chúng ta và các đồng chí về mặt nguyên tắc có chung một quan điểm.
Cần phải chú ý đến hoàn cảnh rằng việc triệu tập hội nghị bốn bên ở Pa-ri đang vấp phải những khó khăn. Chúng tôi vẫn chưa có hình dung rõ ràng về việc làm thế nào để vượt qua những khó khăn đó. Có thể tình hình sẽ trở nên sáng tỏ sau khi đồng chí Lê Đức Thọ đến Pa-ri.
Chúng tôi có lập trường vững chắc. Mặt trận Dân tộc Giải phóng tại các cuộc đàm phán ở Pa-ri phải là một bên hoàn toàn độc lập, bình đẳng. Họ có đầy đủ mọi thẩm quyền để giải quyết các vấn đề liên quan đến miền Nam Việt Nam. Nếu điều này không được công nhận, thì những hậu quả tiêu cực có thể phát sinh và làm phức tạp thêm tình hình.
Đồng chí Cô-xê-gin đã đưa ra nhận xét về một trong các điều khoản trong chương trình của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Chúng tôi sẽ suy nghĩ kỹ lưỡng về vấn đề này.
Đoàn đại biểu chúng tôi thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bày tỏ lời cảm ơn nồng nhiệt tới Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Chính phủ Liên Xô về quyết định hỗ trợ chúng tôi 500 nghìn tấn ngũ cốc. Những yêu cầu khác của chúng tôi có thể được thảo luận theo thứ tự.
L.I. BREZHNEV: Chúng tôi đã chuẩn bị sẵn các suy nghĩ về vấn đề này.
PHẠM VĂN ĐỒNG: Vài lời về việc vận chuyển hàng hóa viện trợ qua lãnh thổ Trung Quốc. Chúng tôi đang làm mọi thứ trong khả năng của mình về vấn đề này. Chúng tôi dự định sẽ thảo luận tại Bắc Kinh vấn đề tăng khối lượng vận chuyển, bởi vì nếu không thì viện trợ của Liên Xô sẽ không thể đến Việt Nam một cách kịp thời.
Về đề xuất công bố thông cáo chung về các cuộc đàm phán của chúng ta, chúng tôi phải xin ý kiến của Bộ Chính trị đảng chúng tôi. Chúng tôi không có thẩm quyền để tự mình giải quyết vấn đề này.
L.I. BREZHNEV: Cần phải giải thích cho Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam hiểu ý nghĩa và mục đích của đề xuất này.
A.N. KOSYGIN: Đề xuất này trước hết đáp ứng lợi ích của những người bạn Việt Nam của chúng ta.
PHẠM VĂN ĐỒNG: Chúng tôi sẽ lập tức gửi yêu cầu về Hà Nội.
Tôi muốn cảm ơn các đồng chí vì đã cung cấp đài phát thanh cho đoàn đại biểu của chúng tôi ở Pa-ri.
Phần cuối cùng cần dừng lại ở vấn đề về Hội nghị các đảng cộng sản và công nhân sắp tới. Sáng nay chúng tôi đã làm quen với thông báo được đăng trên tờ "Pravda" về vấn đề này.
Trong các cuộc trò chuyện với các đồng chí, chúng tôi đã nhiều lần bày tỏ thái độ của mình đối với Hội nghị các đảng anh em. Đồng thời chúng tôi bày tỏ hy vọng rằng các đồng chí sẽ hiểu đúng lập trường của chúng tôi. Chúng tôi rất tiếc vì không thể tham gia Hội nghị. Khi trở về Hà Nội, đoàn đại biểu của các đồng chí sẽ báo cáo lại những suy nghĩ mà các đồng chí vừa bày tỏ nhân dịp này. Chúng tôi hiểu rằng chúng tôi phải ý thức được trách nhiệm của mình trước Đảng Cộng sản Liên Xô. Chúng tôi xin thông báo với các đồng chí về quan điểm của lãnh đạo chúng tôi đối với vấn đề này.
A.P. KIRILENKO: Không thể không tính đến việc Hội nghị có ý định thông qua một văn kiện ủng hộ Việt Nam. Điều đó làm cho sự hiện diện của các đồng chí ở đó càng trở nên cần thiết hơn nữa.
PHẠM VĂN ĐỒNG: Chúng tôi sẽ suy nghĩ về điều này.
Bây giờ tôi muốn thay mặt đoàn đại biểu của chúng tôi cảm ơn đồng chí Brezhnev và tất cả các đồng chí vì những lời chúc tốt đẹp mà các đồng chí đã gửi gắm tới các đồng chí Hồ Chí Minh, Lê Duẩn và toàn thể đảng của chúng tôi.
LÊ ĐỨC THỌ: Tất cả những gì đồng chí Phạm Văn Đồng đã nói đều thể hiện chung ý kiến của toàn thể đoàn đại biểu chúng ta. Chúng tôi rất nghiêm túc đối với mọi suy nghĩ mà các đồng chí bày tỏ với chúng tôi, trong đó có cả các vấn đề về cuộc đấu tranh ngoại giao của chúng ta.
Trong các cuộc trò chuyện diễn ra giữa chúng tôi với các đồng chí trước đây, các đồng chí đã bày tỏ những suy nghĩ khác nhau, và chúng tôi đã nghiên cứu chúng rất kỹ lưỡng. Tôi phải nhấn mạnh rằng đối với Đảng Cộng sản Liên Xô, chúng tôi dành trọn vẹn niềm tin tuyệt đối. Chúng tôi chuyển giao cho các đồng chí toàn bộ thông tin về mọi vấn đề liên quan đến cuộc đấu tranh ngoại giao của chúng tôi. Về tất cả các vấn đề phát sinh trong tiến trình đàm phán, tôi đã kể lại trong các cuộc trò chuyện của mình với đồng chí Cô-xê-gin. Chúng tôi chưa từng cung cấp thông tin đầy đủ như vậy về những vấn đề này cho bất kỳ đảng nào khác. Dĩ nhiên là chúng tôi sẽ không làm điều đó nếu chúng tôi không có niềm tin tuyệt đối vào các đồng chí.
Như đồng chí Phạm Văn Đồng đã nói, hiện nay cần phải tận dụng tối đa bầu không khí thuận lợi đã hình thành. Tuy nhiên, việc giải quyết vấn đề không chỉ phụ thuộc vào chúng tôi mà còn phụ thuộc vào phía Mỹ. Toàn bộ vấn đề nằm ở chỗ liệu Mỹ có thực sự nghiêm túc và có thiện chí muốn hành động hay không. Dĩ nhiên, nếu các bên bước vào đàm phán, họ phải sẵn sàng nhượng bộ lẫn nhau, thỏa hiệp. Chúng tôi hoàn toàn đồng tình với những suy nghĩ mà các đồng chí Brezhnev và Cô-xê-gin đã bày tỏ rằng cần phải tranh thủ thời gian, thể hiện sự linh hoạt. Nhưng đồng thời chúng ta phải giữ nguyên vẹn các yêu cầu mang tính nguyên tắc của mình.
Kinh nghiệm của sáu tháng qua cho thấy chỉ sau khi giải quyết vấn đề về nguyên tắc thì mới có thể đi đến thỏa hiệp. Chúng tôi kiên định bám sát chính sách mang tính nguyên tắc nhưng đồng thời cũng thể hiện sự linh hoạt. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từng yêu cầu Mỹ chấm dứt vô điều kiện các cuộc ném bom và tuyên bố rằng ngay khi họ làm điều đó, chúng tôi sẽ thảo luận các vấn đề khác. Nhưng khi người Mỹ bắt đầu lên tiếng về việc công nhận chính quyền Sài-gòn, về sự đồng ý để chính quyền Sài-gòn tham gia hội nghị, chúng tôi đã quyết định rằng có thể chấp nhận thảo luận vấn đề này, chấp nhận đề xuất này của người Mỹ trước cả khi các cuộc ném bom miền Bắc Việt Nam được chấm dứt, bởi vì chúng tôi cho rằng sau đó người Mỹ sẽ chấm dứt việc ném bom miền bắc đất nước chúng ta.
Về vấn đề công bố thông cáo về ngày giờ chấm dứt ném bom, chúng tôi cũng đã nhượng bộ người Mỹ.
Còn đối với các vấn đề chính trị, họ đã nhượng bộ khi công nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Chúng tôi cũng đã thỏa hiệp khi đồng ý cho sự tham gia của các đại diện Sài-gòn.
Tôi liệt kê tất cả các sự kiện này để cho thấy rằng chúng tôi cũng biết cách tận dụng thời điểm thuận lợi, biết cách thể hiện sự linh hoạt tùy thuộc vào hoàn cảnh. Nhưng đồng thời chúng tôi cũng kiên định bám sát đường lối nguyên tắc. Chúng tôi thể hiện sự linh hoạt và nhượng bộ cả trong các cuộc gặp gỡ không chính thức. Người Mỹ muốn có các cuộc đàm phán song phương. Chúng tôi không nói rằng đây sẽ là các cuộc gặp song phương, nhưng cũng không tuyên bố đây là các cuộc đàm phán bốn bên. Chúng tôi định hình theo cách thức rằng hội nghị sẽ có sự tham gia của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mỹ, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và chính quyền Sài-gòn. Chúng tôi không khẳng định đây là đàm phán bốn bên, nhưng bằng cách liệt kê các thành phần tham gia, chúng tôi ngầm cho thấy hội nghị mang tính chất bốn bên.
Đó là những vấn đề đã được thảo luận với các đại diện Mỹ khi chuẩn bị thông cáo về việc chấm dứt ném bom. Khi đi đến việc thống nhất văn bản thông cáo, điểm nghẽn chính là từng từ ngữ riêng lẻ. Người Mỹ đồng ý với một số công thức diễn đạt bằng miệng, nhưng trong văn bản thì lại không chịu nhượng bộ. Chúng tôi cũng tuyên bố rằng sẽ không có thông cáo về việc chấm dứt ném bom. Bằng cách đó, chúng tôi không chỉ kiên định giữ vững nguyên tắc mà còn thể hiện sự linh hoạt, nhượng bộ và thấu hiểu. Oa-sinh-tơ-n biết rằng chúng tôi là những con người lý trí.
Giờ đây, đường lối của chúng tôi ở Pa-ri là Mỹ phải đồng ý với hội nghị bốn bên, và quan trọng nhất là phải công nhận vai trò của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Người Mỹ hiện nay nói rằng họ muốn hội nghị chỉ mang tính chất song phương. Trong các cuộc tiếp xúc không chính thức, họ gọi hội nghị này là bốn bên. Bây giờ cần phải làm sao để đảm bảo việc tiến hành hội nghị bốn bên. Tất nhiên đây là một vấn đề phức tạp. Sau khi hội nghị được triệu tập, việc thảo luận sẽ bắt đầu và trước hết là vấn đề rút quân đội Mỹ. Người Mỹ sẽ đòi hỏi phải giảm bớt các hoạt động quân sự, không có pháo kích, không tấn công vào các thành phố. Mỹ cũng đặt ra vấn đề về khu phi quân sự.
Còn về vấn đề pháo kích qua khu phi quân sự và các hoạt động quân sự trực tiếp trong khu vực đó, chúng tôi không thực hiện các hành động như vậy. Nhưng nếu nói một cách thành thật, các đơn vị của chúng tôi có vượt qua khu phi quân sự. Đó chính là vấn đề cốt lõi của sự trợ giúp đối với miền Nam Việt Nam. Chiến tranh ở miền Nam Việt Nam vẫn đang tiếp diễn. Làm sao có thể chiến đấu nếu không hỗ trợ miền Nam? Khi có giải pháp cho mọi vấn đề, các hoạt động quân sự được chấm dứt, thì khi đó mới không cần thiết phải đi qua khu vực này nữa. Khi đưa ra vấn đề về khu phi quân sự, Mỹ đang cố gắng cản trở việc hỗ trợ miền Nam Việt Nam. Tất cả những điều đó được họ thực hiện nhằm có được khả năng tập trung không quân và pháo binh của mình để giáng đòn vào các lực lượng của chúng tôi ở miền Nam Việt Nam, và vì thế chúng tôi luôn bác bỏ cách đặt vấn đề như vậy.
Chúng tôi cho rằng vấn đề rút quân phải được thảo luận đầu tiên, sau đó là vấn đề chính quyền liên hiệp, và tiếp theo mới là vấn đề kiểm soát quốc tế và các bảo đảm quốc tế. Nếu Mỹ đưa ra các vấn đề giống như cách họ đang làm hiện nay, chúng tôi sẽ bác bỏ chúng.
Như đồng chí Phạm Văn Đồng đã nói, chúng tôi muốn giải quyết vấn đề Việt Nam bằng con đường hòa bình, nhưng đồng thời các yêu cầu cơ bản của chúng ta phải được đáp ứng. Cần phải làm sao để người Mỹ đảm bảo chắc chắn việc thực hiện các yêu cầu của chúng tôi. Nếu có được điều đó, chúng tôi sẽ tiến hành nhượng bộ tương ứng. Chỉ sau khi giải quyết các vấn đề lớn, cốt lõi, miền Nam Việt Nam mới thực sự độc lập, trung lập và hòa bình, và khi đó các vấn đề liên quan đến thống nhất toàn bộ đất nước mới được giải quyết dần dần. Dĩ nhiên, sau khi chiến tranh kết thúc sẽ nảy sinh sự cần thiết phải thành lập một chính phủ lâm thời nào đó có khả năng điều hành đất nước và giải quyết mọi vấn đề cho đến khi các cuộc tổng tuyển cử được tiến hành. Dĩ nhiên là chính phủ lâm thời sẽ phải chuẩn bị cho cả các cuộc bầu cử đó. Chúng sẽ được tiến hành ngay khi người Mỹ rút quân đội của họ. Chúng tôi đảm bảo việc thành lập một chính phủ liên hiệp vô cùng rộng rãi.
Trong Chương trình của Mặt trận Dân tộc Giải phóng có nêu rõ rằng chính phủ này sẽ bao gồm các đại diện của các tầng lớp rộng rãi ủng hộ độc lập dân tộc, chống lại sự xâm lược của Mỹ. Khi vấn đề này được thảo luận, các lập điểm khác cũng được đưa ra, cụ thể là chính phủ đó sẽ không chỉ bao gồm các đại diện của các đảng phái, các nhóm phái khác nhau và các cá nhân chống lại sự xâm lược của Mỹ, mà còn có cả đại diện của các giới thân Mỹ và thân Pháp. Chỉ có cách tiếp cận như vậy mới có thể đảm bảo giải quyết được vấn đề thành lập chính phủ liên hiệp. Còn về việc phân chia các ghế trong chính phủ, điều đó cũng phải là đối tượng thảo luận tại hội nghị. Nhưng điều quan trọng nhất là đạt được việc rút quân đội Mỹ. Còn nếu chính quyền vẫn giữ nguyên như hiện tại, và Mặt trận bị gạt ra khỏi việc điều hành đất nước, thì dĩ nhiên sẽ không thể có bất kỳ giải pháp nào cho vấn đề cả. Chúng tôi cho rằng về mặt này đường lối của chúng ta là rõ ràng.
Chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi sẽ duy trì mối liên hệ cực kỳ khắt khe với các đại diện Xô viết ở Pháp, sẽ thường xuyên thông báo cho các đồng chí về tiến trình đàm phán, và nếu phát sinh bất kỳ vấn đề gì, chúng tôi sẽ cố gắng thảo luận trước với các đồng chí. Trước đây cũng đã từng như vậy, ví dụ như với việc chấm dứt ném bom Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chúng tôi đã truyền đạt thông tin thông qua đại sứ của các đồng chí ở Pa-ri và làm điều đó ngay trước khi đạt được thỏa thuận với người Mỹ về vấn đề này.
Khi đến Liên Xô, chúng tôi đã thông báo cho đồng chí Cô-xê-gin. Tôi đã nói về tất cả các công thức này một cách khái quát, bởi vì trước tiên tôi phải biết được ý kiến cụ thể của Bộ Chính trị Trung ương đảng chúng tôi. Vì điều đó mà đôi khi tôi phải khẩn trương bay về Hà Nội. Lần gần đây nhất là một ví dụ, khi liên quan đến chuyến đi của tôi mà máy bay của các đồng chí ở Pa-ri đã phải hoãn bay sang Mát-xcơ-va 2 tiếng đồng hồ. Có thể trong các cuộc trò chuyện với các đồng chí Cô-xê-gin và Ma-zu-rốp, tôi đã không làm sáng tỏ một cách cụ thể tất cả các chi tiết của những sự kiện đã diễn ra ở Pa-ri, nhưng khi đó vấn đề chấm dứt ném bom và triệu tập hội nghị bốn bên vẫn chưa được giải quyết. Sau khi chúng tôi trở về Hà Nội, kết quả của cuộc thảo luận kiên quyết tại Pa-ri đã đạt được thỏa thuận.
Còn đối với các vấn đề cụ thể, chúng tôi sẽ thảo luận chúng và sẽ thông báo cho các đồng chí về kết quả của cuộc thảo luận đó. Đó là tất cả những gì tôi muốn nói về các định hướng đấu tranh ngoại giao của chúng ta.
Ngày mai tôi sẽ bay đi Pa-ri, và vì thế tôi muốn cảm ơn các đồng chí Brezhnev, Cô-xê-gin và tất cả các đồng chí Xô viết vì sự đón tiếp nồng ấm, đồng thời khẳng định rằng chúng tôi sẽ chiến đấu và phối hợp hành động một cách chặt chẽ với các đồng chí.
Người phiên dịch các cuộc trò chuyện: Bí thư Thứ hai Ban Châu Á thuộc Bộ Ngoại giao Liên Xô Shashikhin V.S. và chuyên gia của đoàn đại biểu đảng và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tạ Hữu Cảnh.
Bản ghi chép các cuộc trò chuyện do các đồng chí hoàn thiện: B. Kulik V. Zeltsov I. Ognetov
RGANI. Ф. 80. Оп. 1. Д. 525. Л. 5-67. Bản sao. Văn bản đánh máy. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10