D.N. Pritt & Pat Sloan, Phiên tòa Moscow là công bằng, 1937


1

Bởi D.N. Pritt, K.C., M.P.

Tôi đã nghiên cứu thủ tục tố tụng hình sự tại Nga Xô viết một cách khá cẩn thận vào năm 1932, và đi đến kết luận (được xuất bản vào thời điểm đó trong cuốn “Twelve Studies in Soviet Russia” – Mười hai nghiên cứu về nước Nga Xô viết) rằng thủ tục này mang lại cho bị cáo một phiên tòa rất công bằng. Sau khi nghe các đồng nghiệp pháp lý của tôi ở Moscow thông báo khi tôi quay lại vào mùa hè này rằng các thay đổi chính đã thực hiện hoặc sắp tới đều hướng đến việc trao quyền độc lập lớn hơn cho Đoàn luật sư và các thẩm phán cũng như tạo điều kiện thuận lợi hơn cho bị cáo, tôi đặc biệt hứng thú khi có thể tham dự phiên tòa xét xử Zinoviev, Kamenev và những người khác diễn ra vào tháng 8 năm 1936.

Tại đây, từ góc độ của một luật sư, một chính trị gia, hay một công dân bình thường, đã xuất hiện một bài kiểm tra rất tốt đối với hệ thống này.

Lời buộc tội rất nghiêm trọng. Một nhóm nam giới, hầu như tất cả đều từng lập được công trạng lớn qua các giai đoạn đầy lo âu và bận rộn trong lịch sử chưa đầy hai thập kỷ của nước Nga Xô viết, hầu như tất cả đều từng chịu một mức độ nghi kỵ nào đó vì các hoạt động phản cách mạng hoặc chủ nghĩa biệt phái, và hầu như tất cả đều từng được dung thứ cho những hoạt động đó trong quá khứ nhờ những lời cam kết trung thành trong tương lai, nay lại bị buộc tội âm mưu lâu dài, máu lạnh và có tính toán nhằm ám sát Kirov (người thực sự bị sát hại vào tháng 12 năm 1934), Stalin, Voroshilov và các nhà lãnh đạo nổi bật khác.

Mục đích của họ, có vẻ như, chỉ là để cướp lấy quyền lực cho bản thân, mà không hề có bất kỳ sự giả vờ nào rằng họ có lực lượng ủng hộ đáng kể trong nước, cũng như không có bất kỳ chính sách hay triết lý thực sự nào để thay thế Chủ nghĩa xã hội Xô viết hiện hành.

Bất chấp mọi khó khăn và thiếu sót, bất chấp mọi sự đối lập, dù là quân sự hay thương mại, của thế giới bên ngoài, Chủ nghĩa xã hội Xô viết đã vực dậy một quốc gia Châu Á nghèo nàn lạc hậu trầm trọng trong khoảng 19 năm thành một quốc gia có tầm quan trọng toàn cầu, có sức mạnh công nghiệp to lớn, và hơn hết là đạt mức sống mà từ điểm xuất phát thấp ngang hàng với những người dân bị áp bức nhiều nhất ở Ấn Độ, nay đã vượt qua mức sống của nhiều dân tộc ở Đông Âu và chẳng mấy chốc sẽ sánh ngang với những dân tộc công nghiệp phương Tây ưu tú nhất.

Và cáo buộc chống lại những người đàn ông đó không chỉ được đưa ra đơn thuần. Nó đã được thừa nhận, được thừa nhận bởi những người mà phần lớn hồ sơ cho thấy họ sở hữu lòng dũng cảm cả về thể xác lẫn tinh thần, hoàn toàn đủ khả năng để ngăn cản họ không phải nhận tội trước bất kỳ một áp lực nào. Và ở bất kỳ giai đoạn nào, không hề có bất kỳ ý kiến nào từ bất kỳ ai trong số họ cho thấy bất kỳ hình thức đối xử không đúng mực nào đã được sử dụng để ép họ nhận tội.

Điều đầu tiên đập vào mắt tôi, với tư cách là một luật sư người Anh, là thái độ gần như thoải mái, tự nhiên của các bị cáo. Tất cả bọn họ trông đều khỏe mạnh; tất cả đều đứng lên và phát biểu, thậm chí nói rất dài, bất cứ khi nào họ muốn (thực ra, họ có thể đi dạo ra ngoài cùng lính canh khi họ muốn).

Một hoặc hai nhân chứng do bên nguyên triệu tập đã bị các bị cáo có liên quan trực tiếp chất vấn với sự tự do tương tự như ở Anh.

Các bị cáo đã tự nguyện từ chối luật sư; họ có thể đã có luật sư miễn phí nếu muốn, nhưng họ thích tự biện hộ hơn. Xét đến những lời nhận tội của họ và khả năng tự phát biểu của chính họ, mà trong phần lớn các trường hợp đạt đến mức độ hùng biện thực sự, có lẽ họ không bị thiệt thòi gì từ quyết định đó, dẫu cho một số đồng nghiệp của tôi ở Moscow rất tài giỏi.

Điểm mới lạ nổi bật nhất, có lẽ đối với một luật sư Anh, là cách thức dễ dàng mà lần lượt từng bị cáo chen ngang vào quá trình xét hỏi một đồng đội của họ, mà không gặp phải bất kỳ sự phản đối nào từ Tòa án hay từ công tố viên, khiến người ta có ấn tượng về một cuộc tranh luận nhanh chóng và sinh động giữa bốn người, gồm công tố viên và ba bị cáo, tất cả cùng nói, nếu không thực sự cùng một thời điểm – một phương pháp tuy bất khả thi khi có bồi thẩm đoàn, nhưng chắc chắn có lợi cho việc làm sáng tỏ các tranh chấp về sự thật với một tốc độ khá nhanh.

Tuy nhiên, quan trọng hơn nhiều,  chính là các bài phát biểu kết luận.

Theo luật pháp Xô viết, các bị cáo có quyền nói lời sau cùng – 15 bài phát biểu sau, là cơ hội cuối cùng để bị cáo phát biểu bất cứ điều gì.

Công tố viên nhà nước, Vishinsky, phát biểu trước. Ông nói trong bốn hoặc năm tiếng đồng hồ. Ông trông giống như một doanh nhân người Anh rất thông minh và có cung cách khá điềm đạm.

Ông nói với sự mạnh mẽ và rõ ràng. Ông hiếm khi nâng cao giọng. Ông không hề lớn tiếng, la hét hay đập bàn. Ông hiếm khi nhìn vào công chúng hoặc cố tình làm trò để tạo hiệu ứng.

Ông nói những lời mạnh mẽ; ông gọi các bị cáo là những tên còi cọc, những con chó dại, và đề nghị rằng chúng nên bị tiêu diệt. Ngay cả trong một vụ án nghiêm trọng như thế này, một số Tổng chưởng lý Anh có lẽ cũng không dùng từ ngữ mạnh mẽ đến vậy; nhưng trong nhiều vụ án ít nghiêm trọng hơn, nhiều luật sư công tố Anh đã dùng những từ ngữ gay gắt hơn nhiều.

Ông không bị Tòa án hay bất kỳ bị cáo nào ngắt lời. Bài phát biểu của ông đã được công chúng vỗ tay tán thưởng, và không có nỗ lực nào được thực hiện để ngăn chặn tràng pháo tay đó.

Điều đó có vẻ kỳ lạ đối với tư duy người Anh, nhưng khi không có bồi thẩm đoàn thì nó không thể gây ra nhiều tổn hại, và có một điều đáng chú ý xuyên suốt là những nỗ lực của Tòa án – bằng cách sử dụng một chiếc chuông nhỏ – nhằm trấn an những tiếng cười phát sinh từ những lời châm chọc của bị cáo hoặc từ bất kỳ sự cố nào khác đã không ngay lập tức thành công.

Nhưng giờ đây là bài kiểm tra cuối cùng. 15 kẻ có tội, những kẻ đã mưu lật đổ toàn bộ Nhà nước Xô viết, giờ đây có quyền được lên tiếng; và họ đã lên tiếng.

Một số người nói rất dài, một số người nói ngắn gọn, một số người tranh luận, những người khác mang theo chút ít sự khẩn khoản; phần lớn mang theo sự hùng biện, một số có cảm xúc; một số có ý thức hướng về công chúng trong hội trường chật kín, một số quay mặt về phía tòa án.

Nhưng tất cả bọn họ đều nói những gì họ cần nói.

Họ không vấp phải sự ngắt lời nào từ công tố viên, không quá một vài từ ngắn ngủi hiếm hoi từ tòa án; và bản thân công chúng ngồi im lặng, không biểu lộ chút căm thù nào mà lẽ ra họ phải cảm thấy.

Họ phát biểu mà không hề có sự lúng túng hay cản trở nào.

Các cơ quan hành pháp của Liên Xô có thể đã thực hiện, thông qua việc truy tố thành công vụ án này, một bước tiến rất lớn hướng tới việc xóa bỏ các hoạt động phản cách mạng.

Nhưng cũng rõ ràng không kém là cơ quan tư pháp và công tố viên của Liên Xô đã thực hiện một bước tiến lớn không kém trong việc thiết lập uy tín của họ giữa các hệ thống pháp lý của thế giới hiện đại.

II

Bởi PAT SLOAN

Vừa trở về sau 5 năm ở Liên Xô

Bất cứ khi nào có một phiên tòa lớn ở Liên Xô, báo chí thế giới lại được một phen xôn xao. Điều này là tự nhiên, vì các phiên tòa lớn ở bất kỳ quốc gia nào cũng là Tin tức, và khi phiên tòa lại mang thêm tính chất "Bolshevik", thì tiềm năng biến phiên tòa thành cái cớ cho mọi loại vu khống chống Liên Xô, dù đáng tin hay phi lý, lại càng lớn.

Và phiên tòa vừa kết thúc cũng không ngoại lệ. Lần này nó đặc biệt giật gân: (a) bởi vì một số cựu thành viên nổi tiếng của Đảng Bolshevik là những bị cáo chính; (b) bởi vì, liên quan đến Bản Hiến pháp Dự thảo mới, báo chí tư bản ở tất cả các quốc gia đều khao khát có thêm tư liệu nhằm giảm nhẹ ý nghĩa của tài liệu quan trọng này; và (c) bởi vì cuộc tấn công phát xít chống lại Hòa bình và Dân chủ đang ở một giai đoạn quan trọng ngày nay.

Giống như tất cả các phiên tòa lớn trước đây của Liên Xô, phiên tòa này đã bị tuyên bố là một "vụ án dàn dựng" (frame-up). Nhưng cũng giống như sự bùng nổ của ông Alan Monkhouse tại tòa trong phiên tòa nổi tiếng Metro-Vickers rằng phiên tòa đó là một "vụ án dàn dựng", chưa từng được chứng minh bằng một chút bằng chứng nào; thì ngày nay, cáo buộc về một "vụ án dàn dựng" vẫn hoàn toàn không có bất kỳ bằng chứng nào hậu thuẫn ở mức độ nhỏ nhất.

Những tuyên bố nghiêm trọng nhất xuất hiện trên báo chí, và cũng gây hiểu lầm nhiều nhất, là: (a) rằng Stalin giờ đây đứng đơn độc, đã "sát hại" toàn bộ "Cận vệ Già Bolshevik"; (b) rằng phiên tòa là một "vụ án dàn dựng" vì tất cả các bị cáo đều nhận tội; và (c) rằng phiên tòa này làm giảm đi ý nghĩa của bản Hiến pháp Dự thảo mới.

Nếu chúng ta xem xét giới lãnh đạo hiện tại trong Đảng Bolshevik và các chức vụ do các nhân vật hàng đầu nắm giữ, chúng ta thấy rằng thực tế tất cả đều là những người Bolshevik có thâm niên trên ba mươi năm. Do đó, trong gần hai mươi năm, họ đã làm việc cùng Lenin. Hãy thử nghĩ đến những cái tên sau:

Kalinin, Chủ tịch Liên Xô từ năm 1922, ban đầu là một công nhân kim khí. Ông gia nhập Đảng năm 1898 (thậm chí trước khi mang tên "Bolshevik"), và là ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ năm 1919. Molotov, Chủ tịch Hội đồng Dân ủy, là đảng viên từ năm 1906, là ủy viên Cục Nga thuộc Ban Chấp hành Trung ương năm 1919, và là Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô những năm sau 1920, đồng thời là một trong những cộng sự gần gũi nhất của Lenin. Ordjonikidze, Dân ủy Công nghiệp Nặng, là đảng viên từ năm 1903, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương năm 1912, và đóng vai trò tích cực trong lãnh đạo Cách mạng ở Kavkaz. Voroshilov, Dân ủy Quốc phòng, là một công nhân gia nhập Đảng năm 1903, đóng vai trò nổi bật trong Nội chiến, và sau đó được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Kaganovitch là một công nhân đồ da, gia nhập Đảng năm 1911.

Như vậy, người trẻ nhất trong số các nhà lãnh đạo này đã làm việc dưới sự lãnh đạo của Lenin ít nhất mười năm, và phần lớn là hai mươi năm, và nay đã có ba mươi năm tuổi Đảng. Vậy có công bằng không khi nói rằng Stalin vẫn đơn độc và "cận vệ già" đã bị tiêu diệt? À, nhưng người ta có thể lập luận rằng chỉ những ai từng giữ chức vụ nhỏ khi Lenin còn sống mới tiếp tục nắm quyền.

Vì vậy, hãy nhìn vào hai cá nhân, cho đến năm 1917, đã làm việc liên tục trong mối liên hệ chặt chẽ với Lenin. Những người giữ các vị trí lãnh đạo. Hãy xem xét hồ sơ của những người này. Năm 1917, khi Đảng đang chuẩn bị khởi vũ trang, hai nhà trí thức Kamenev và Zinoviev đã phản đối cuộc khởi nghĩa này trong một cuộc họp của Ban Chấp hành Trung ương. Khi thất bại, họ mang sự phản đối đó lên báo chí công khai – và tiết lộ kế hoạch của những người Bolshevik cho chính phủ tư sản. Vào thời điểm đó, Lenin đã viết: "Tôi sẽ coi là một sự nhục nhã cho bản thân nếu vì mối quan hệ thân thiết trước đây với những đồng chí cũ này mà tôi không lên án họ. Tôi tuyên bố thẳng thừng rằng tôi không coi ai trong số họ là đồng chí nữa và tôi sẽ chiến đấu hết sức mình, cả trong Ban Chấp hành Trung ương lẫn tại Đại hội, để đảm bảo khai trừ cả hai người khỏi Đảng. Hãy để các ngài Zinoviev và Kamenev tự lập đảng riêng từ hàng chục con người mất phương hướng đó. Giai cấp công nhân sẽ không gia nhập một đảng như vậy."

Do đó, chúng ta thấy rằng hai nhà trí thức từng có "mối quan hệ thân thiết trước đây" với Lenin trước tháng 10 năm 1917, và nay được tung hô từ tờ "Daily Mail" đến "Daily Herald" là "Cận vệ Già Bolshevik", đã bị Lenin lên án vì sự phản bội của họ vào một trong những thời điểm nghiêm trọng nhất của Cách mạng, và ông đã tìm cách khai trừ họ khỏi Đảng. Mặt khác, những người Bolshevik đang hợp tác chặt chẽ nhất với Stalin ngày nay là những người lao động chân tay, những người đã có từ 20 đến 30 năm tuổi Đảng, và vươn lên nắm quyền nhờ các hoạt động của họ trong cuộc Nội chiến, sau khi Zinoviev và Kamenev đã tự làm mất uy tín của mình.

Và đối với Trotsky, không có tuyên bố nào cho rằng con người này đã sát cánh cùng Lenin trong nhiều năm trước Cách mạng. Trên thực tế, ông ta từng gọi Lenin là "lãnh đạo của cánh phản động trong Đảng" vào năm 1903, và vào năm 1917, ông ta nói rằng "những người Bolshevik đã tự phi-Bolshev hóa mình" và rằng "chủ nghĩa bè phái Bolshevik" là một "chướng ngại vật cho sự đoàn kết." Và ngày nay, trong một cuộc phỏng vấn gần đây với tờ "News Chronicle", ông ta đề cập đến "Chủ nghĩa bảo thủ mới" của giới lãnh đạo Xô viết – một sự lặp lại trực tiếp các cuộc tấn công của ông ta nhằm vào Lenin từ tận năm 1903.

Nhưng ngay cả khi ở trong Đảng, từ tháng 7 năm 1917 – khi rõ ràng rằng chỉ có những người Bolshevik mới có thể dẫn dắt quần chúng đến thành công – cho đến khi bị khai trừ, Trotsky đã chống lại Lenin, người luôn được Stalin ủng hộ xuyên suốt, từ vấn đề này sang vấn đề khác. Và trong bộ máy lãnh đạo Hồng quân, nơi Trotsky trở nên nổi tiếng, đã có những xung đột liên tục với giới lãnh đạo Đảng cũng như với Lenin và Stalin. Nhưng trong khi Trotsky nổi tiếng nhờ các bài phát biểu, Stalin lại được phái đến từng mặt trận hiểm yếu với tư cách là đại diện của Ban Chấp hành Trung ương, và định hình chính sách thông qua các bức điện tín ngắn gọn, súc tích gửi cho Lenin.

Và khi Lenin qua đời, Trotsky đã chôn vùi mọi cuộc cãi vã cũ với Lenin. Ông ta không còn nhắc lại những cáo buộc trước đây của mình rằng những người Bolshevik đã trở nên "quan liêu" và "phản động" dưới thời Lenin nữa, mà thay vào đó đưa ra những đòn tấn công nhắm vào "bộ máy quan liêu Stalin", cáo buộc Stalin phá vỡ chính sách của Lenin.

Chính khi các sự kiện được nhìn nhận dưới ánh sáng này, vị trí thực sự của Trotsky, Zinoviev và Kamenev – mới chỉ kể tên ba người – mới có thể được hiểu rõ. Cả ba đều là những cựu lãnh đạo đã mất uy tín, những kẻ đã đánh mất niềm tin của quần chúng, và do đó không bao giờ có thể được bầu lại vào các vị trí lãnh đạo trong Đảng hay Nhà nước. Họ chính là những Ramsay MacDonald, Snowden và Thomas của phong trào công nhân Nga.

Nhưng những Ramsay MacDonald, Snowden và Thomas đã bị mất uy tín dưới chế độ tư bản. Do đó, khi họ đánh mất quyền lãnh đạo Phong trào Lao động, khi giai cấp công nhân hất cẳng họ, họ vẫn có thể tìm ra phương tiện để quảng bá cá nhân mình – trong chính trị hoặc kinh doanh tư bản tùy theo lựa chọn – trong khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản.

Nhưng tại Liên Xô, một khi giai cấp công nhân nắm quyền, một "lãnh đạo" mất uy tín sẽ không có giai cấp tư bản nào trao việc làm hay tài trợ cho một sự nghiệp chính trị chống lại giai cấp công nhân. Tại Liên Xô, kẻ đó phải phục tùng làm việc dưới sự lãnh đạo của chính những nhà lãnh đạo đã thay thế mình. Và một người công nhân, theo quy tắc, nhận thức được sự cần thiết của kỷ luật giai cấp trên hết mọi thứ, có thể nhận ra sai lầm của mình và làm việc ở một vị trí nhỏ khi thất bại trong một vấn đề. Nhưng các nhà trí thức cách mạng, lần này qua lần khác trong những thời khắc khủng hoảng, đã thể hiện khuynh hướng đặt uy tín cá nhân lên trên hết mọi thứ, và chiến đấu đến cùng chống lại các đối thủ chính trị, ngay cả khi điều đó hy sinh chính những nguyên tắc mà họ từng lớn tiếng thừa nhận.

Kamenev và Zinoviev buộc phải chấp nhận sự lãnh đạo của Stalin – nhưng điều đó khiến họ ấm ức. "Tính độc lập" của họ đòi hỏi họ không được phục tùng sự thống trị này bởi một nhà lãnh đạo được bầu mà họ không đồng tình. Do đó, từ sự phản đối công khai, họ bắt đầu đấu tranh trong vòng bí mật. Và thế là họ tiếp xúc với những kẻ khác cũng đang đấu tranh trong vòng bí mật – những điệp viên phát xít ở Liên Xô.

Trotsky đã bị trục xuất khỏi đất nước. Kể từ khi bị trục xuất, ông ta chưa bao giờ ngừng tấn công "bộ máy quan liêu Stalin". Nhưng nếu một bộ máy quan liêu đang cai trị Liên Xô – thì hãy lật đổ bộ máy quan liêu đó, và Trotsky có thể quay về như một anh hùng! Do đó, việc toàn thể nhân dân Liên Xô bị thống trị trái với ý muốn của họ bởi một "bộ máy quan liêu" nhỏ bé, và rằng chỉ cần lật đổ "bộ máy quan liêu" là ông ta được chào đón trở lại như một vị cứu tinh, hoàn toàn phù hợp với lý thuyết của Trotsky. Thật bất hợp lý sao khi cho rằng Trotsky, khi đưa lý thuyết này vào thực tiễn, đã hợp tác với bất kỳ ai và mọi người để đặt dấu chấm hết cho một vài cá nhân cấu thành nên "bộ máy quan liêu" của ông ta, như một con đường quay lại nắm quyền?

Nhưng cáo buộc sau đó lại được dựng lên – rằng Stalin là một Nhà độc tài cá nhân, không có sự hậu thuẫn của quần chúng, và rằng chính phiên bản tòa này sẽ mang lại các cuộc đấu tranh quần chúng. Trên thực tế, không có cuộc đấu tranh quần chúng nào thành hình ngoại trừ trên báo chí phát xít Đức, được trích dẫn lại một cách hào hứng bởi tờ "Daily Herald" trong những ngày qua. Và hai "cụ già", những nhà nghiên cứu phong trào công nhân trong sáu mươi năm, đã nghiên cứu sự vận hành của Liên Xô, và họ cũng đã đặt câu hỏi: "Stalin có phải là một Nhà độc tài không?" Đây là câu trả lời của Sidney và Beatrice Webb trong cuốn "Soviet Communism":

"Trước hết cần lưu ý rằng, không giống như Mussolini, Hitler và các nhà độc tài hiện đại khác, Stalin không được pháp luật trao cho bất kỳ thẩm quyền nào đối với các đồng bào của mình, thậm chí không phải đối với các đảng viên trong Đảng mà ông là thành viên. Ông thậm chí còn không có quyền lực rộng lớn mà Quốc hội Hoa Kỳ đã tạm thời trao cho Tổng thống Roosevelt." (tr. 431)

"Nếu chúng ta được mời gọi tin rằng Stalin trên thực tế là một nhà độc tài, chúng ta có thể hỏi liệu ông có thực sự hành động theo cách mà các nhà độc tài thường hành động không?

Chúng ta không nghĩ rằng Đảng được quản lý theo ý chí của một cá nhân đơn độc; hay Stalin là kiểu người đòi hỏi hoặc mong muốn một vị trí như vậy. Bản thân ông đã phủ nhận rất rõ ràng bất kỳ sự độc tài cá nhân nào bằng những thuật ngữ mà dù có được tin là thành khẩn hay không, chắc chắn vẫn phù hợp với ấn tượng của chính chúng ta về các sự thật." (tr. 432)

"Đảng Cộng sản Liên Xô đã áp dụng cho tổ chức của chính mình mô hình mà chúng ta đã mô tả là phổ biến trong toàn bộ hiến pháp Xô viết. Trong mô hình này, sự độc tài cá nhân không có chỗ đứng. Các quyết định cá nhân bị hoài nghi và được canh gác phòng ngừa một cách công phu. Để tránh những sai lầm do thành kiến, cơn giận, sự ghen tuông, sự kiêu ngạo và những trạng thái tâm lý bất ổn khác mà không ai có thể lúc nào cũng hoàn toàn thoát khỏi hoặc cảnh giác đề phòng, việc mong muốn ý chí cá nhân luôn phải được kiểm soát bởi sự cần thiết phải giành được sự đồng thuận của các đồng nghiệp cùng cấp, những người đã thảo luận thẳng thắn về vấn đề đó, và những người phải cùng nhau chịu trách nhiệm chung về quyết định đó."

Vâng, thế là đủ cho những cáo buộc rằng Stalin cá nhân giờ đây đứng đơn độc, đã đặt dấu chấm hết cho toàn bộ "Cận vệ Già Bolshevik". Nhân tiện, đây là lần đầu tiên trong lịch sử mà "Daily Herald" và "Daily Mail" cùng khóc những giọt nước mắt muối mặn hòa quyện vì số phận của "những người Bolshevik cũ". Và không xét đến chuyện "vụ án dàn dựng". Câu hỏi thực sự là: Tại sao mười sáu bị cáo đều nhận tội, tham gia một cách sống động vào các thủ tục tố tụng tại tòa, và thể hiện toàn bộ khả năng hùng biện và ứng đối sắc bén trước công chúng cũ, thế mà vẫn nhận "Có tội"?

Không phải vì họ đã mục rữa trong ngục tối hay bất kỳ điều gì đại loại thế. Trên thực tế, những bị cáo bị bắt gần đây nhất vẫn tự do ở Liên Xô cho đến tháng 5 năm nay. Và dù sao đi nữa, nếu họ đã bị tra tấn hay đối xử tệ bạc trong tù, chắc chắn một số dấu hiệu của điều đó sẽ phải hiển hiện trước công chúng, hoặc ít nhất một người trong số họ đã đưa ra một tuyên bố nào đó về vấn đề này!

Không – thực tế là thế này: Các bị cáo có bốn sự lựa chọn. Thứ nhất, nhận vô tội. Thứ hai, nhận tội – đưa ra các bài phát biểu chính trị chống lại chính phủ Xô viết, chống lại "bộ máy quan liêu Stalin", và biện minh cho tội ác của họ. Thứ ba, nhận tội và không nói gì thêm nữa. Thứ tư, thú nhận và đưa ra một bản tường trình đầy đủ về các hoạt động của họ. Ngoài những khả năng này, không có con đường nào khác mở ra cho họ – ngoại trừ tự sát, con đường mà chỉ một mình Tomsky đã chọn.

Nhận vô tội là bất khả thi vì các bằng chứng là quá áp đảo, và tất cả những con người này đều biết điều đó. Họ biết những bằng chứng bổ sung nào có thể được đưa ra chống lại họ nếu họ cố gắng chứng minh sự vô tội của mình.

Tấn công chính phủ Xô viết và "bộ máy quan liêu Stalin" là bất khả thi – bởi vì trong gần mười năm nay, những con người này hoàn toàn không có bất kỳ chính sách chính trị nào để đối trọng lại với chính sách của Stalin. Thực tế là chính sách của Stalin đang thành công, và điều này đã tước đoạt của các đối thủ của ông mọi cái cớ để thực hiện một cuộc tấn công chính trị. Thực tế này được chính các bị cáo thừa nhận cởi mở.

Bên ngoài Liên Xô, từ nơi trú ẩn ở Na Uy, Trotsky thực sự có đưa ra một chính sách "đối lập". Đó là: (a) vô sản hóa các thành phần phi vô sản ở Liên Xô; (b) tổ chức một Mặt trận Công nhân, đối lập với Mặt trận Nhân dân, tại các quốc gia tư bản. Có vẻ như tất cả các bị cáo đều đủ nhạy bén với các xu hướng chính trị để nhận ra rằng việc đưa ra một đường lối như vậy tại tòa án, như là sự biện minh chính trị của họ, sẽ còn tồi tệ hơn việc thẳng thừng thừa nhận rằng họ không có chính sách thay thế thực sự nào; nghĩa là hoàn toàn không có chương trình chính trị nào cả.

Trên thực tế, chính sách của Stalin luôn nhất quán là "vô sản hóa" các thành phần phi vô sản trong dân cư, và chính sách đó nay đã gần như hoàn tất. Và trên bình diện quốc tế, việc đề xuất phá vỡ Mặt trận Nhân dân và thành lập một Mặt trận Công nhân để thay thế hầu như không đáng để nhắc tới.

Và do đó, trước tất cả những con người ấy, những kẻ mà bằng chứng chống lại họ là áp đảo, những kẻ không có chính sách nào, chỉ còn lại duy nhất một khả năng là nhận tội – có hoặc không có chi tiết về tội ác của họ.

Hầu như tình cờ là không một cá nhân nào bị đưa ra xét xử từng từ bỏ cơ hội phát biểu trước toàn thế giới trong sự nghiệp chính trị của mình. Và họ đã giữ vững bản chất đó. Tại tòa án, họ đã phát biểu, thể hiện những dấu hiệu về niềm vui sướng cũ trong việc "thao túng thông điệp" và sự xuất sắc về tài hùng biện cũ của họ – và họ đã nói sự thật với toàn thế giới.

Tờ báo "Observer" ngày 23 tháng 8, không phải là một người hâm mộ những người Bolshevik, dù là "cận vệ già" hay mới, đã buộc phải kết luận:

"Stalin giờ đây là nhà lãnh đạo được thừa nhận của Đảng thống nhất, người mà uy tín trong nước không còn phải nghi ngờ gì nữa."

"Các bị cáo thừa nhận thẳng thừng rằng họ đã viện đến khủng bố cá nhân như một giải pháp cuối cùng, hoàn toàn biết rằng sự bất mãn trong nước hiện nay chưa đủ mạnh để đưa họ lên nắm quyền bằng bất kỳ con đường nào khác."

"Thật là vô ích khi nghĩ rằng phiên tòa được dàn dựng và các cáo buộc bịa đặt. Vụ án của Chính phủ chống lại các bị cáo là hoàn toàn xác thực."

Và giờ đây, hai vấn đề cuối cùng. Đầu tiên, người ta nói rằng phiên tòa là "không đúng lúc", đó là một "sai lầm chính trị" khi tổ chức nó ngay lúc này. Tất nhiên, nếu đó là một "vụ án dàn dựng", được dàn dựng đặc biệt bởi chính phủ Xô viết, thì cáo buộc đó sẽ là sự thật. Nhưng tại sao chính phủ Xô viết lại phải, vào thời điểm vô cùng tế nhị này trong các vấn đề quốc tế, dàn dựng một vụ án dàn dựng mang lại nguy cơ làm phật lòng toàn bộ dư luận khắp thế giới vốn ngày càng ủng hộ chính sách hòa bình của Liên Xô, nhưng lại có ác cảm với các án tử hình, ngay cả đối với những kẻ ám sát đã bị chứng minh tội lỗi? Ba giả thuyết đã được đưa ra.

Thứ nhất, rằng chính phủ Xô viết muốn chứng minh rằng họ đang "trở nên đáng kính trọng". Nhưng các nhà lãnh đạo Xô viết đủ thông minh để biết rằng các phiên tòa xét xử tội phản quốc không bao giờ có khả năng giành được uy tín về sự đáng kính trong giới Tự do, trong khi Chủ nghĩa Bolshevik tự thân nó không bao giờ có thể trở nên đáng kính đối với giới phản động, bất kể ai bị tiêu diệt.

Và giả thuyết thứ hai là để đánh lạc hướng sự chú ý khỏi Tây Ban Nha ngay trong nội bộ Liên Xô! Khi mà các Công đoàn Xô viết đã quyên góp được nhiều tiền hơn cho công nhân Tây Ban Nha so với bất kỳ quốc gia nào khác!

Giả thuyết thứ ba là – tình trạng bất ổn của quần chúng đang gia tăng ở Liên Xô. Nhưng nếu điều này là sự thật, và nếu những người bị đưa ra xét xử là những thủ lĩnh của tình trạng bất ổn này, thì hoàn toàn không thể tưởng tượng nổi, với các nhà báo nước ngoài và các micrô phát thanh trước mặt, lại không có một bị cáo nào thốt lên một lời nào để huy động tình trạng bất ổn đó, tiếp thêm can đảm cho quần chúng bất mãn, và châm ngòi cho ngọn lửa bất mãn đang âm ỉ lan khắp đất nước!

Chỉ có sự nhận thức rằng các bị cáo biết họ không có sự hậu thuẫn của quần chúng, như họ đã trình bày tại phiên tòa, mới có thể giải thích được sự hoàn toàn thiếu vắng bất kỳ nỗ lực nào nhằm huy động dư luận và hành động chống lại chính phủ Xô viết hiện hành.

Và cuối cùng, về Hiến pháp Xô viết mới. Có một từ nào trong Hiến pháp này nói rằng những kẻ Khủng bố, lên kế hoạch hành động khủng bố hợp tác với phát xít, chống lại các nhà lãnh đạo của Nhà nước Xô viết, sẽ không bị xét xử và nếu cần thiết sẽ bị kết án tử hình không? Không – không hề có một từ nào. Bởi vì, chừng nào vẫn còn các nhà nước phát xít và tư bản, thì chừng đó vẫn sẽ còn các điệp viên phát xít và tư bản ở Liên Xô; và chừng nào việc sử dụng bạo lực còn là nguyên tắc của chủ nghĩa tư bản, được đẩy đến mọi hình thức khủng bố dã man dưới chủ nghĩa phát xít; thì Nhà nước của giai cấp công nhân cũng phải sử dụng vũ lực để trấn áp vũ lực.

Trong phiên tòa ở Moscow, các bị cáo đã được trao quyền có luật sư bào chữa, và họ đã từ chối. Bản thân họ đã nhận tội, và giải thích tội ác của mình, bởi vì họ không có cách nào khác tốt hơn để cư xử.

Những cựu lãnh đạo mất uy tín của giai cấp công nhân Nga, những MacDonald và Snowden của nước Nga, không có giai cấp tư bản nào chống lưng cho sự nghiệp chính trị tiếp theo của họ, vì vậy họ đã viện đến khủng bố ngầm, và đứng chung hàng ngũ với giai cấp tư bản nước Đức cùng các điệp viên phát xít của nó.

Nhà lãnh đạo chưa-hoàn-toàn-mất-uy-tin của giai cấp công nhân Anh, Sir Walter Citrine, người đã nổi tiếng trên báo chí Đức Quốc xã vì những cuộc tấn công nhằm vào Liên Xô, đã phản đối phiên tòa, đòi sử dụng "luật sư nước ngoài" để biện hộ, và đòi "không có những vụ hành quyết". Tờ "Daily Herald", tờ báo của "giai cấp công nhân" chưa-hoàn-toàn-mất-uy-tin, đã trích dẫn hàng cột những cáo buộc sai lệch chống lại Liên Xô. Nó đã bịa ra sự "biến mất" của bà Czersky, phu nhân của Đại diện Thương mại Xô viết – người đang đi nghỉ mát trong nước. Nó đã đưa tin về những "tin đồn ở Moscow" được thuật lại bởi một "Hãng thông tấn Đức". Và Đức Quốc xã, trong các chương trình phát thanh của họ, đã trích dẫn từng đoạn lớn từ tờ "Daily Herald"!

Sự liên minh của những "lãnh đạo" mất uy tín ở Liên Xô với Gestapo của Đức Quốc xã nhằm mục đích khủng bố – vốn là phương thức đấu tranh duy nhất còn có thể thực hiện được chống lại sự lãnh đạo của giai cấp công nhân Xô viết đoàn kết, chỉ có thể phân biệt về mức độ với sự liên minh của "giới lãnh đạo" Công đoàn chưa-hoàn-toàn-mất-uy-tin ở Anh, tờ "Daily Herald", và toàn bộ bộ máy tuyên truyền của Đức Quốc xã. Trong cả hai trường hợp, những kẻ thù của phong trào công nhân chiến đấu, khi mất đi sự hậu thuẫn của quần chúng, đều sẵn sàng đi đến bất kỳ cực đoan nào để nắm giữ hoặc giành lại quyền lực của mình. Ở Liên Xô, đó hiện là một cuộc đấu tranh bằng vũ lực thể xác, giống như ở Tây Ban Nha. Ở Anh, đó vẫn chỉ là một cuộc xung đột tuyên truyền.

Tờ "Daily Herald" trích dẫn các cơ quan tuyên truyền của Hitler, và Hitler thì đang trích dẫn tờ "Daily Herald". Chính sách của họ là một.

Trotsky, Kamenev, Zinoviev và những kẻ khác đã nhận sự hỗ trợ từ Mật vụ Hitler và làm việc với sự trợ giúp của các điệp viên Đức Quốc xã – chính sách của họ là một.

Chính sách này là: Làm suy yếu Liên Xô bằng cách tiêu diệt sự lãnh đạo của nước này, và chia rẽ cuộc đấu tranh đoàn kết của những người công nhân đang tiến bước liên minh với tầng lớp trung lưu và nông dân của tất cả các quốc gia để chống lại phát xít – trên thực tế, dù là có ý thức hay vô thức, là củng cố cuộc tấn công của phát xít cùng chính sách đàn áp phong trào công nhân ở tất cả các quốc gia và các cuộc chiến tranh xâm lược trên toàn thế giới.

Nhiệm vụ của chúng ta là vạch trần những kế hoạch này, và chiến đấu bằng toàn bộ sức mạnh của mình chống lại "mặt trận thống nhất" này của tất cả các lực lượng phản động!