Biên bản đàm phán giữa Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô L.I. Brezhnev, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô A.N. Kosygin, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xô viết Tối cao Liên Xô N.V. Podgorny, Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô A.A. Grechko, Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô A.A. Gromyko với đoàn đại biểu Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn dẫn đầu về việc Sài Gòn vi phạm Hiệp định Paris, chiến thắng trong chiến tranh và triển vọng công cuộc xây dựng hòa bình. ngày 28 tháng 10 năm 1975


Ngày 28 tháng 10 năm 1975

Thành phố Mát-xcơ-va — Ngày 28 tháng 10 năm 1975

Tuyệt mật

BIÊN BẢN ĐÀM PHÁN

giữa các nhà lãnh đạo Xô viết và đoàn đại biểu Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Ngày 28 tháng 10 năm 1975 (Điện Kremlin)

Tham gia đàm phán:

  • Phía Liên Xô: các đồng chí L.I. Brezhnev, N.V. Podgorny, A.N. Kosygin, A.A. Gromyko, A.A. Grechko, K.F. Katushev.

  • Phía Việt Nam: các đồng chí Lê Duẩn, Lê Thanh Nghị.

Cùng tham gia:

  • Phía Liên Xô: các đồng chí N.K. Baibakov, A.M. Alexandrov, L.M. Zamyatin¹, O.B. Rakhmanin², N.P. Firyubin, B.N. Chaplin³.

  • Phía Việt Nam: các đồng chí Nguyễn Cơ Thạch, Nguyễn Văn Khả, Lê Khắc, Nguyễn Văn Đào, Nguyễn Hữu Khiếu⁴.

L.I. Brezhnev: Trước hết, các đồng chí Việt Nam thân mến, cho phép tôi bày tỏ niềm hoan hỉ sâu sắc nhân cuộc gặp mới của chúng ta, diễn ra vào thời điểm trọng đại — sau thắng lợi lịch sử mà nhân dân Việt Nam đã giành được, biểu hiện qua việc giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam⁵. Cho phép tôi thay mặt Bộ Chính trị Trung ương ĐCS Liên Xô Chính phủ Xô viết và toàn thể nhân dân Liên Xô nhiệt liệt chúc mừng các đồng chí Việt Nam thân mến, qua các đồng chí để gửi lời chúc mừng đến Đảng Lao động Việt Nam, nhân dân Việt Nam anh em về thắng lợi vẻ vang này.

Chúng tôi vô cùng vui mừng vì đoàn đại biểu Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do người bạn của chúng ta, Bí thư Thứ nhất Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, đồng chí Lê Duẩn dẫn đầu. Cho phép tôi bày tỏ hy vọng rằng cuộc đàm phán của chúng ta sẽ mang lại kết quả tốt đẹp. Chúng tôi sẵn sàng trao đổi ý kiến với các đồng chí một cách cởi mở và thắm tình anh em, đúng như tác phong của những thành viên trong một đại gia đình các dân tộc xã hội chủ nghĩa.

Trước hết, tôi rất mong đồng chí Lê Duẩn cho chúng tôi biết về các kế hoạch của Đảng Lao động Việt Nam nhằm đạt được sự ổn định trong nước. Tình hình hiện nay ở Việt Nam cũng như các kế hoạch của những người anh em là những điều mà chúng tôi không thể không quan tâm, bởi vì chúng tôi là những người bạn thủy chung của các đồng chí, chia sẻ ý định biến Việt Nam thành một nhà nước xã hội chủ nghĩa phát triển.

Lê Duẩn: Thưa đồng chí Brezhnev kính mến, thưa đồng chí Podgorny kính mến, thưa đồng chí Kosygin kính mến! Thưa các đồng chí thân mến! Trước hết, cho phép tôi thay mặt toàn thể đảng tôi, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và toàn thể nhân dân Việt Nam gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất tới Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Chính phủ Xô viết và nhân dân Xô viết anh em, những người đã hết lòng dành cho chúng tôi sự giúp đỡ to lớn nhất trong cuộc đấu tranh chống lại cuộc xâm lược đế quốc của Mỹ.

Sau ba mươi năm chiến đấu gian khổ, chúng tôi đã giành được độc lập thực sự. Giờ đây, toàn bộ đất nước chúng tôi đã bước lên con đường xã hội chủ nghĩa. Do đó, có thể hiểu được niềm vui sướng mà nhân dân tôi đang trải qua lúc này. Tôi muốn chia sẻ niềm vui ấy với các đồng chí ngày hôm nay. Mong muốn này là hoàn toàn tất yếu, bởi vì thành công của chúng tôi có được là nhờ sự tham gia của nhân dân Xô viết vào cuộc đấu tranh của chúng tôi, cũng như nhờ chiến thắng của Liên Xô trước chủ nghĩa phát xít. Không còn nghi ngờ gì nữa, chiến thắng của nhân dân Việt Nam chính là chiến thắng của những người anh em Xô viết chúng ta. Chúng tôi biết rằng Đảng Cộng sản Liên Xô và nhân dân Xô viết chia sẻ niềm vui của chúng tôi với mức độ trọn vẹn giống như họ từng chia sẻ những đau thương và gian khó cùng chúng tôi.

Tôi muốn sơ lược đôi điều về cách chúng tôi đánh giá chiến thắng giành được vào mùa xuân năm 1975, đồng thời thông tin về tình hình đất nước đang hình thành sau chiến thắng đó. Cho phép tôi nhắc lại đôi lời về cách thức mà cuộc kháng chiến vũ trang của nhân dân Việt Nam chống lại sự xâm lược đế quốc của Mỹ đã bắt đầu.

Với sự giúp đỡ của phe xã hội chủ nghĩa, chúng tôi đã đánh bại người Pháp vào năm 1954. Kết quả của chiến thắng đó là Hiệp định Genève đã được ký kết. Tuy nhiên, khi ký kết hiệp định này, chúng tôi hoàn toàn không tính đến việc có thể tái thống nhất đất nước trên cơ sở của nó. Chúng tôi biết rằng bọn đế quốc sẽ không bao giờ đồng ý để chúng tôi thống nhất tổ quốc bằng con đường đàm phán. Chúng tôi đã đồng ý ký kết Hiệp định Genève vì nếu tiếp tục chiến tranh, sẽ xuất hiện nguy cơ thực sự về việc Mỹ can thiệp rộng rãi vào công việc nội bộ của Việt Nam. Chúng tôi đã lắng nghe lời khuyên của các đồng chí Xô viết và Trung Quốc về việc chấm dứt chiến tranh ở giai đoạn đó nhằm bảo đảm nền độc lập của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và duy trì hòa bình cho toàn bộ phe xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, chúng tôi biết rằng chúng tôi sẽ phải trải qua một cuộc đấu tranh lâu dài để đạt được chiến thắng cuối cùng — đó là thống nhất Việt Nam. Sau năm 1954, kẻ thù chính của chúng tôi đã trở thành Hợp chủng quốc Hoa Kỳ chứ không phải nước Pháp. Đó là kết luận được rút ra bởi đảng của chúng tôi. Chúng tôi đã không ngờ rằng người Mỹ lại xâm lược nước tôi nhanh chóng đến vậy, hất cẳng người Pháp ra khỏi đó. Mỹ đã ấp ủ những kế hoạch to lớn không chỉ đối với đất nước chúng tôi mà còn đối với toàn bộ khu vực Đông Nam Á, nhằm biến nơi đây thành bàn đạp để chống lại chủ nghĩa xã hội và phong trào giải phóng dân tộc.

Trước mắt chúng tôi đã đặt ra một sự lựa chọn: Hoặc chiến đấu chống lại kẻ ngoại bang, hoặc rơi vào ách áp bức của chúng. Chúng tôi không còn sự lựa chọn nào khác, chúng tôi đã quyết định vùng lên đấu tranh ở cả thành thị và nông thôn. Kết quả của cuộc đấu tranh đó là vào năm 1963, chế độ Ngô Đình Diệm đã bị lật đổ.

Ngay từ năm 1960, khi phong trào quần chúng ở miền Nam bắt đầu, Lầu Năm Góc hiểu rằng nếu không có sự can thiệp trực tiếp của Mỹ, chiến lược thực dân mới của họ ở Đông Nam Á sẽ thất bại, nên họ đã lập ra bộ chỉ huy quân sự tại miền Nam Việt Nam, thành lập ở đó một lực lượng cố vấn đáng kể. Mỹ hy vọng sẽ sử dụng ở miền Nam Việt Nam kinh nghiệm đàn áp phong trào du kích ở Mã Lai đã được giới đế quốc tổng kết. Ngoài ra, người Mỹ còn muốn sử dụng Việt Nam như một thứ bàn đạp để tiến hành các thử nghiệm nhằm trau dồi phương pháp chống lại phong trào giải phóng dân tộc.

Mỹ cho rằng sự can thiệp của họ vào công việc nội bộ của Việt Nam sẽ vấp phải thái độ phản ứng chậm chạm từ phía chúng tôi. Tuy nhiên, tiến trình các sự kiện đã không diễn ra theo cách mà giới đế quốc mong muốn. Khi Mỹ đưa 200 nghìn quân vào miền Nam Việt Nam, lực lượng của chúng tôi đã được bố trí phân tán khắp cả nước, chiếm giữ các vị trí có lợi về mặt chiến lược. Ví dụ, người ta biết đến một trận đánh với quân Mỹ, trong đó họ sử dụng lực lượng không quân, hải quân và 10 nghìn binh sĩ. Chúng tôi đã mở màn trận đánh và tiêu diệt một nghìn binh sĩ Mỹ, trong khi tổn thất của chúng tôi chỉ có 50 người. Chúng tôi tuân thủ chiến thuật tấn công; ngoài khu vực phía nam của miền Nam Việt Nam, chúng tôi đã mở mặt trận thứ hai ở gần vĩ tuyến 17. Sau khi chuốc lấy thất bại, Lầu Năm Góc đã đưa thêm lực lượng mới vào: 50 nghìn quân Hàn Quốc, quân Philippines, Thái Lan, New Zealand và gây dựng nên một đội quân bù nhìn một triệu người. Tuy nhiên, chúng tôi nắm rõ mọi kế hoạch và hành động của họ. Chúng tôi hiểu rằng 500 nghìn binh sĩ Mỹ ở miền Nam Việt Nam chính là giới hạn đối với nước Mỹ đang tiến hành "chiến tranh cục bộ". Lực lượng của chúng tôi vào năm 1968 đã tập trung quanh Sài Gòn, thâm nhập trực tiếp vào nội đô. Chúng tôi đã tiến hành cuộc tổng tấn công vào thủ đô của miền Nam Việt Nam vào năm 1968, kết quả của nó nằm ngoài dự đoán của Johnson. Ông ta do dự không biết có nên đưa thêm quân vào Việt Nam hay rút lui. Và Mỹ đã quyết định rút lui sẽ tốt hơn là đưa thêm quân. Họ đã bắt đầu đàm phán với chúng tôi.

Nixon bắt đầu chiến dịch tranh cử dưới khẩu hiệu "hòa bình ở Việt Nam". Tuy nhiên, khi trở thành tổng thống, ông ta lại hành xử hoàn toàn khác. Dưới thời Nixon, số lượng bom dội xuống đất nước chúng tôi nhiều hơn hẳn so với thời Johnson. Chúng tôi đã không hề dễ dàng, nhưng chúng tôi vững tin rằng kẻ thù sẽ không thể trụ vững, bởi vì chúng không còn khả năng đưa thêm quân vào Việt Nam. Những lời kêu gọi rút quân Mỹ vang lên trên toàn thế giới. Thậm chí Tây Đức cũng yêu cầu Mỹ rút quân, tuyên bố rằng nếu không làm vậy, một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng có thể bùng phát.

Tình hình chính trị nội bộ ngay tại nước Mỹ lúc bấy giờ rất trầm trọng. Chúng tôi đã tính toán đến mọi hoàn cảnh, và khi bắt đầu đàm phán, chúng tôi đặt ra mục tiêu buộc người Mỹ phải rời khỏi Việt Nam. Để đạt được mục tiêu này, chúng tôi sẵn sàng chịu đựng những khó khăn mới, vượt qua mọi thử thách. Như đã biết, vào cuối năm 1972, người Mỹ đã sử dụng các máy bay ném bom chiến lược B-52 nhằm ép chúng tôi phải nhượng bộ. Nhưng họ đã thất bại, họ buộc phải rút quân khỏi Việt Nam. Dựa trên lời khuyên do các đồng chí Xô viết đưa ra, chúng tôi đã tiến hành ký kết Hiệp định Paris vào năm 1973. Khi thực hiện bước đi này, chúng tôi tràn đầy niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của mình. Đã có hai kịch bản phát triển sự kiện. Chúng tôi đã lập luận như sau: nếu người Mỹ chịu thực thi hiệp định, chúng tôi sẽ thắng lợi, bởi vì quần chúng nhân dân đứng về phía chúng tôi, lực lượng thứ ba nằm trong tay chúng tôi; nếu họ không thực thi hiệp định, chúng tôi sẽ tiếp tục cuộc đấu tranh và cũng sẽ giành thắng lợi. Nói cách khác, khi ký kết Hiệp định Paris, chúng tôi vô cùng vững lòng tin vào chiến thắng của mình. Đảng tôi cho rằng sau khi quân Mỹ rời khỏi miền Nam, chúng tôi có thể đạt được thắng lợi trước quân đội bù nhìn miền Nam Việt Nam một cách tương đối dễ dàng. Tuy nhiên, khi rời khỏi Việt Nam, Mỹ đã làm mọi cách để duy trì ở đây lực lượng của họ. Chúng đã giao cho quân đội bù nhìn một số lượng lớn máy bay, giúp chúng chiếm giữ các vùng giải phóng. Tất nhiên, chúng tôi đã chờ đợi bọn bù nhìn sẽ tiến công. Nhưng phải nói rằng, các cán bộ đảng của chúng tôi ở một số khu vực thuộc miền Nam Việt Nam đã đánh giá thấp bản chất hiếu chiến của bọn bù nhìn. Đã có những khu vực mà tỷ lệ lực lượng là 3 chọi 1 nghiêng về phía chúng. Lợi dụng điều đó, chúng đã mở cuộc tấn công. Trong khi đó, một số tổ chức đảng ở những khu vực này, viện dẫn Hiệp định Paris, đã quyết định không chống trả mà rút lui. Nhưng cũng có những khu vực mà tỷ lệ lực lượng diễn biến theo chiều hướng khác — 9 chọi 1 nghiêng về phía chúng. Song các đồng chí của chúng tôi đã đánh giá đúng tình hình và kiên quyết chống lại các hành động khiêu khích, tự mình phát động tiến công quân bù nhìn và giành chiến thắng.

Chúng tôi đã đánh giá được điểm mạnh và điểm yếu của mình. Trong 2 năm thi hành Hiệp định Paris, chính quyền Sài Gòn đã chiếm đoạt của chúng tôi một lãnh thổ đáng kể. Trong nghị quyết của Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, nơi xem xét vấn đề thực thi Hiệp định Paris, đã dự trù hai phương án. Thứ nhất, nghiêm chỉnh chấp hành Hiệp định Paris để đáp ứng kỳ vọng của dư luận thế giới. Tuy nhiên, chúng tôi cũng chuẩn bị phương án thứ hai: nếu kẻ thù tiếp tục phá hoại việc thực hiện Hiệp định Paris, chúng tôi phải giáng cho chúng một đòn quyết liệt và chớp nhoáng nhằm giành thắng lợi hoàn toàn ít nhất trong vòng một năm.

Như đã biết, Sài Gòn đã không chịu thực thi Hiệp định Paris. Vào đầu mùa xuân năm 1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã họp và quyết định phát động tổng tiến công. Sau các chiến dịch thành công ở khu vực Tây Nguyên, chúng tôi đi đến kết luận rằng chúng tôi hoàn toàn có đủ khả năng giành thắng lợi hoàn toàn trước quân đội bù nhìn. Và chúng tôi sẽ mất khoảng ba tháng để làm điều đó.

Chúng tôi đã giao tranh trong suốt hai tháng. Vào cuối chiến dịch này, các đồng chí đã khuyên chúng tôi nên cho người Mỹ hai tuần để họ có thể sơ tán người của mình khỏi Sài Gòn. Như các đồng chí biết, chúng tôi đã lắng nghe lời khuyên đó. Khi ấy, chúng tôi tập trung xung quanh Sài Gòn 5 quân đoàn. Tuy nhiên, chúng tôi đã chờ cho đến khi tên người Mỹ cuối cùng rời khỏi Sài Gòn, và chỉ sau đó chúng tôi mới tiến vào thành phố. Giả sử chúng tôi phát động tấn công Sài Gòn sớm hơn, chẳng hạn 5 ngày, thì người Mỹ đã không thể đưa một lượng lớn người rời khỏi thành phố. Phải nói rằng, vào thời điểm bắt đầu chiến dịch tấn công Sài Gòn, người Mỹ có 20 nghìn người ở trong thành phố. Họ đã dùng trực thăng vận chuyển người của mình thẳng lên các tàu chiến.

Toàn bộ chiến dịch quân sự giải phóng miền Nam đã được chúng ta thực hiện trong vòng 54 ngày. Người ta có thể chiến đấu 20-30 năm, nhưng cũng có thể chỉ chiến đấu 2-3 tháng, tất cả phụ thuộc vào hoàn cảnh. Trong chiến dịch mùa xuân năm 1975, chúng tôi đã được quần chúng nhân dân nổi dậy ủng hộ. Nhờ chiến dịch diễn ra chớp nhoáng như vậy, chúng tôi đã bảo toàn được tính mạng cho nhân dân, giữ gìn được các thành phố nguyên vẹn. Kết quả của chiến dịch này là chúng tôi đã xóa sổ được một đội quân có quy mô khoảng 1 triệu người, tiêu hủy và thu giữ 1.700 máy bay và trực thuyền, cùng vài nghìn xe tăng.

A.A. Grechko: Giờ đây các đồng chí Việt Nam có rất nhiều vũ khí. Họ có thể giúp đỡ những người khác.

Lê Duẩn: Quân đội Sài Gòn được trang bị trực thăng như một binh chủng đặc biệt, một dạng kỵ binh hiện đại, cũng như xe tăng, máy bay, v.v.

Chiến thắng của chúng tôi không phải là điều bất ngờ, bởi vì chúng tôi đã tính toán thực tế dựa trên lực lượng và khả năng sẵn có của mình. Trong những năm chiến tranh, chúng tôi đã chịu đựng được sức tàn phá của 7 triệu tấn bom, và chúng tôi đã học được cách chiến đấu.

Đó là một thắng lợi to lớn, được toàn thể nhân dân chào đón với niềm hân hoan vô bờ bến.

Khi bắt đầu các chiến dịch ở miền Nam vào mùa xuân năm nay, chúng tôi cũng khuyên các đồng chí Campuchia tiến công Phnom Penh. Đó là một lời khuyên kịp thời, bởi vì người Campuchia chưa có sự đồng thuận về vấn đề này. Một số người trong số họ khăng khăng rằng cần phải tiến hành cuộc đấu tranh lâu dài trong nhiều năm, chủ yếu bám trụ ở các vùng nông thôn và cô lập các thành phố. Nhưng chúng tôi đã nói với ban lãnh đạo cách mạng Khmer rằng cần phải có một trận chiến quyết định, rằng nhất thiết phải chiếm lấy Phnom Penh, và chúng tôi sẽ hỗ trợ trong việc này. Họ đã nghe theo lời khuyên của chúng tôi, phát động tấn công Phnom Penh và giành thắng lợi trước cả chúng tôi ở miền Nam Việt Nam. Chúng tôi đã đặc biệt đề nghị họ làm chủ Phnom Penh trước khi chúng tôi tiến đánh Sài Gòn.

Nhờ sự thay đổi tình hình ở Campuchia và miền Nam Việt Nam, chiến thắng của các lực lượng cách mạng Đông Dương đã được thiết lập. Chúng tôi đã nói với các đồng chí Lào rằng họ có mọi điều kiện để đạt được thành công bằng cách sử dụng các lực lượng chính trị chứ không phải lực lượng vũ trang. Cứ thế, ở Lào năm nay thắng lợi cũng đã giành được. Đó là logic lịch sử. Thành thật mà nói, nếu người Việt Nam không tiến hành cuộc đấu tranh chống lại sự can thiệp của Mỹ, thì cả lực lượng dân chủ Campuchia lẫn Lào đều không thể đạt được thành công. Như đã biết, ở Đông Dương thoạt đầu chỉ có một đảng — Đảng Cộng sản Đông Dương. Bây giờ có ba đảng độc lập, nhưng giữa chúng tôi vẫn tồn tại mối quan hệ vô cùng khăng khít.

Đó là những chiến dịch đã được thực hiện vào mùa xuân năm nay. Trong quá trình đó, chúng tôi đã tổng kết kinh nghiệm đấu tranh tích lũy từ trước trên mặt trận quân sự và chính trị, ở các vùng nông thôn và miền núi; chúng tôi đã tổng kết kinh nghiệm kết hợp các hành động tấn công của lực lượng vũ trang với cuộc nổi dậy của nhân dân.

Thắng lợi giành được vào mùa xuân năm 1975 là thành quả của cuộc đấu tranh 30 năm của chúng tôi, là kết quả của việc vận dụng kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười. Khi nói về chiến thắng của chúng tôi, cần phải nhấn mạnh rằng nếu không có sự giúp đỡ từ toàn bộ phe xã hội chủ nghĩa, chúng tôi đã không thể giành được nó. Rốt cuộc, chúng tôi nào có xe tăng, nào có pháo hạng nặng, v.v. Chính Liên Xô đã trao cho chúng tôi những thứ đó. Cả người Mỹ lẫn quân đội bù nhìn Sài Gòn đều rất sợ vũ khí của Liên Xô, đặc biệt là những khẩu pháo cỡ nòng 130 mm. Ai nấy cũng đều biết rằng hai chiếc xe tăng đầu tiên tiến đến Dinh Độc Lập chính là xe tăng Liên Xô. Chúng đã vượt qua quãng đường dài hàng nghìn cây số từ Hà Nội vào đến Sài Gòn.

Bây giờ Việt Nam về cơ bản là một đất nước thống nhất. Chúng tôi hiện có một đảng, một quân đội. Việc thành lập các cơ quan quyền lực thống nhất chỉ là vấn đề hình thức. Vẻ bề ngoài dường như có hai chính phủ, nhưng thực chất đây chỉ là một quyền lực duy nhất. Chúng tôi tạm thời duy trì tình trạng này để tìm ra những hình thức tốt nhất cho việc hợp nhất chính thức Việt Nam. Lấy ví dụ, chúng tôi cũng cần tính đến thực tế là khoảng 70-80 nước đã công nhận Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam. Chúng tôi sẽ cố gắng giải quyết từng bước và bằng con đường hợp lý các vấn đề liên quan đến việc thống nhất.

Những khác biệt đặc biệt trầm trọng giữa miền Bắc và miền Nam nằm ở lĩnh vực kinh tế. Dân số nước tôi hiện nay là 45 triệu người: miền Bắc 24 triệu, miền Nam 21 triệu người. Tỷ lệ sinh của chúng tôi cao. Chúng tôi cho rằng trong vòng 10 năm, dân số sẽ tăng lên đến 50-60 triệu người.

Ở miền Nam Việt Nam hiện nay tồn tại 5 thành phần kinh tế: khu vực xã hội chủ nghĩa nhà nước, khu vực hợp tác xã, khu vực tư nhân, tư sản dân tộc, tiểu tư sản. Đảng tôi cho rằng tính nhiều thành phần kinh tế của miền Nam Việt Nam cần được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Không thể nói rằng về mặt này chúng tôi đang thực hiện chính sách tương tự như Chính sách Kinh tế Mới (NEP) ở Liên Xô vào những năm 20. Tuy nhiên, bằng cách duy trì cấu trúc kinh tế đang hiện hữu ở miền Nam, chúng tôi sẽ có thể phát triển nền kinh tế nhanh hơn. Ví dụ, ở miền Nam các doanh nghiệp thuộc sở hữu của tư sản dân tộc phát triển khá mạnh. Nếu đột ngột thay đổi thái độ của chúng tôi đối với tư sản dân tộc ngay lập tức, sản lượng sẽ sụt giảm nghiêm trọng. Phải nói rằng một số công ty tư nhân, chẳng hạn như trong lĩnh vực vận tải, đang cung cấp dịch vụ vận chuyển rẻ hơn vài lần so với các doanh nghiệp nhà nước của chúng tôi ở miền Bắc. Chúng tôi đã tính toán chính xác điều này sau khi quy đổi cước phí vận tải của miền Nam Việt Nam sang mức giá của tôi.

A.N. Kosygin: Đó là quy đổi ước chừng phải không?

Lê Duẩn: Không, đây là quy đổi theo thực chất: theo kilôgam gạo, theo mét vải. Trên cơ sở đó mà đưa ra các kết luận.

A.N. Kosygin: Ở Việt Nam, một kilôgam gạo giá bao nhiêu nếu tính bằng đô la?

Lê Duẩn: Ở miền Bắc Việt Nam, đơn vị tiền tệ là đồng. Cứ một đồng miền Bắc thì chúng tôi đổi lấy 0,85 đồng miền Nam.

Ở miền Nam Việt Nam, một kilôgam gạo có giá 38 kô-pếch (xu Nga), còn ở miền Bắc là 45 kô-pếch.

Vùng biển ven bờ miền Nam Việt Nam có rất nhiều cá. Không có nơi nào trên thế giới có nhiều cá và tôm như vậy. Xuất khẩu tôm đạt 30 triệu tấn mỗi năm. Ở miền Nam Việt Nam, sản lượng đánh bắt cá đạt 800 nghìn tấn mỗi năm; trong khi ở miền Bắc, các nông mồng quốc doanh chỉ đạt 100 nghìn, còn các hợp tác xã chỉ đạt 80 nghìn tấn mỗi năm.

A.N. Kosygin: Hiện nay loại mặt hàng xuất khẩu này vẫn được duy trì chứ?

Lê Duẩn: Vâng, chúng tôi xuất khẩu tôm sang Nhật Bản.

Như vậy, hiện nay chúng tôi phải giữ lại ở miền Nam Việt Nam tất cả các thành phần kinh tế đang tồn tại. Chúng tôi sẽ bắt đầu công cuộc hợp tác hóa nông nghiệp ở miền Nam bằng cơ khí hóa nông nghiệp. Trong trường hợp này, đường lối của chúng tôi khác với những gì đã tiến hành ở miền Bắc Việt Nam. Nhìn chung, nông dân miền Nam Việt Nam đều là tầng lớp trung nông, những người tương đối khá giả, không quen với lối sống đã hình thành ở nông dân miền Bắc. Và nếu chúng tôi không đạt được năng suất lao động cao trong các hợp tác xã miền Nam Việt Nam trong tương lai, thì nông dân sẽ khó lòng mà gia nhập vào đó.

Ở miền Nam hoàn toàn không có công nghiệp nặng. Tuy nhiên, công nghiệp nhẹ ở đó khá phát triển. Tôi đã từng đến Hội chợ Quảng Châu ở Trung Quốc. Và khi đến miền Nam Việt Nam, tôi thấy rằng hàng hóa ở đây tốt hơn và rẻ hơn những mặt hàng được trưng bày tại Hội chợ Quảng Châu. Điều này được giải thích là do miền Nam có trang thiết bị của Nhật Bản hoặc Mỹ hoàn thiện hơn. Các điều kiện lao động cũng được sắp xếp hợp lý: công nhân ăn trưa ngay tại nhà máy, xe buýt đưa đón công nhân đến xí nghiệp và chở họ về nơi ở. Công nhân bị buộc phải làm việc với cường độ cao trong suốt 8 tiếng. Trong khi đó ở miền Bắc, mặc dù cũng phải làm việc 8 tiếng, nhưng thực tế không hiếm trường hợp họ chỉ lao động có 4 tiếng.

Trong quản lý kinh tế, chúng tôi còn mắc nhiều sai sót và hạn chế, đó là lý do tại sao chúng tôi quyết định tạm thời chưa động chạm đến các đại diện tư sản dân tộc ở miền Nam — những người biết cách quản lý kinh tế rất giỏi.

Như đã biết, Sài Gòn thực chất là một thành phố mang phong cách Pháp, có liên hệ rất chặt chẽ với Paris cũng như với Mỹ. Ở Sài Gòn hiện nay vẫn còn 10 nghìn người Pháp sinh sống. Tất cả những điều này không thể không tác động đến việc hình thành lối sống và tâm lý của các thế hệ người dân Sài Gòn. Họ hướng về lối sống châu Âu và đã quen với điều đó. Đây cũng là điều cần phải được tính đến.

A.N. Kosygin: Những người Pháp sống ở Sài Gòn làm nghề gì?

Lê Duẩn: Chủ yếu họ là những người buôn bán.

A.N. Kosygin: Nguyên liệu cho các xí nghiệp miền Nam Việt Nam lấy từ đâu?

Lê Duẩn: Hiện nay đây là một vấn đề lớn, bởi vì trước đây họ nhập khẩu nguyên liệu và bán thành phẩm từ Nhật Bản và Mỹ. Mỗi năm, lượng nguyên liệu và các loại hàng hóa trị giá 700 triệu đô la đã được nhập khẩu từ các nước tư bản.

A.N. Kosygin: Đó là tổng kim ngạch nhập khẩu hay chỉ là lượng hàng nhập vào Sài Gòn?

Lê Duẩn: Đó là tổng kim ngạch nhập khẩu nói chung, nhưng chủ yếu là dành cho Sài Gòn.

Theo quan điểm của chúng tôi, ở miền Nam Việt Nam có những tiềm năng to lớn để phát triển kinh tế. Ví dụ, chúng tôi có thể khai thác thêm 2 triệu héc-ta đất. Tính đến việc có thể thu hoạch hai vụ một năm từ diện tích đó, trên thực tế chúng tôi sẽ có thêm 4 triệu héc-ta đất mới.

Các vùng đồng bằng rộng lớn ở miền Nam Việt Nam hầu như không chịu ảnh hưởng của bão, trong khi ở miền Bắc chỉ tính riêng năm nay đã có tới 9 cơn bão đi qua. Dĩ nhiên, ở đó cần phải tiến hành các công trình thủy lợi. Đây là một vấn đề lớn đối với chúng tôi.

Đất đỏ ở Tây Nguyên rất tốt; độ dày của tầng đất lên tới 15 mét. Ở đó có thể trồng cao su, ngô và các loại cây trồng khác. Người Mỹ đã xây dựng cả một kế hoạch phát triển nông nghiệp miền Nam Việt Nam, cụ thể là khu vực Tây Nguyên.

A.N. Kosygin: Khu vực Tây Nguyên có dân cư đông đúc không?

Lê Duẩn: Ở đó chỉ có nửa triệu người sinh sống. Có thể di dời thêm 3-4 triệu người nữa lên đó. Ngay lúc này chúng tôi đang xem xét vấn đề này. Trong số 100 nghìn người xây dựng "đường mòn Hồ Chí Minh", chỉ để lại 20 nghìn người để duy trì hoạt động bình thường của nó. Số còn lại được điều động lên Tây Nguyên. Gần đây, Ban Chấp hành Trung ương đảng tôi đã chỉ đạo bộ chỉ huy quân đội nhân dân huy động lực lượng quân nhân để khai hoang 300 nghìn héc-ta đất trồng mía.

Quân đội đã cam kết thực hiện chỉ thị này của Ban Chấp hành Trung ương.

Để tận dụng một cách hợp lý mọi tiềm năng của miền Nam Việt Nam, chúng tôi phải di dời người dân từ miền Bắc vào đó và tiến hành tổ chức sản xuất quy mô lớn.

Chúng tôi có thể mở rộng diện tích trồng cao su. Đây là loại cây trồng có giá trị đặc biệt của chúng tôi. Trước đây người Pháp thu hoạch 75 nghìn tấn cao su ở miền Nam Việt Nam. Hiện nay chúng tôi có giống cây cao su, cây hê-vê (hevea) mới và chúng tôi có thể gia tăng sản lượng của nó. Ở miền Nam sản xuất rất nhiều bột cá, đồng thời có khả năng phát triển cả ngành chăn nuôi gia cầm. Trong vòng năm năm có thể đạt được sự phát triển nhanh chóng của ngành này. Chỉ cần chú trọng vào việc trồng ngô, đánh bắt cá và phát triển chăn nuôi gia cầm thì sẽ không đòi hỏi quá nhiều chi phí và thời gian dài để thu về kết quả. Ngoài ra, chúng tôi còn có các loại trái cây nhiệt đới. Nhìn chung, ở miền Nam Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi hơn để phát triển nông nghiệp so với miền Bắc.

Hiện nay chúng tôi đang cố gắng di dời 1 triệu người từ các thành phố ở miền Nam Việt Nam về vùng nông thôn. Ngay cả khi họ chỉ làm việc ít nhất 6 tháng một năm, thì vẫn có thể sống sung túc. Trong khi ở Sài Gòn thì chẳng có việc gì làm, ở đó không có công việc. Trước đây, một người lính của quân đội bù nhìn có thể nuôi sống 3-4 người, nhưng giờ đây các điều kiện để tồn tại những "trụ cột" như vậy không còn nữa.

Chúng tôi tin tưởng rằng sau khi giải phóng miền Nam Việt Nam, vấn đề lương thực cũng có thể được giải quyết. Chúng tôi đã đặt ra mục tiêu đạt được điều này trong vòng ba năm và cho rằng sẽ hoàn thành nhiệm vụ. Trước khi giải phóng, chúng tôi đã liên tục suy nghĩ về cách giải quyết vấn đề này nhưng không thể tìm ra lối thoát cho tình thế. Chính đó là một trong những nguyên nhân khiến chúng tôi phát động cuộc tiến công ở miền Nam Việt Nam.

Như vậy, có thể coi như Việt Nam giờ đây đã trở thành một trung tâm nào đó của khu vực Đông Nam Á. Nếu miền Nam Việt Nam trở nên mạnh mẽ, điều đó sẽ gây ảnh hưởng đến Campuchia và Lào, những nơi có mối liên hệ vô cùng chặt chẽ với nó. Người dân miền Nam Việt Nam làm việc tại các xí nghiệp phát triển cao về mặt công nghiệp, còn ở miền Bắc chủ yếu là phương thức sản xuất thủ công và năng suất lao động rất thấp.

Sau khi đất nước tái thống nhất, chúng tôi có thể nhanh chóng nâng cao năng suất lao động ở cả miền Bắc lẫn miền Nam.

Hiện nay ở miền Nam Việt Nam, chúng tôi cũng gặp một khó khăn như sau: giai cấp tư sản mại bản vẫn duy trì được những vị thế rất vững chắc. Bọn mại bản chủ yếu là những kẻ có gốc gác Trung Quốc, có mối quan hệ chặt chẽ với Hồng Kông, Singapore, Đài Loan, Băng-cốc, In-đô-nê-xi-a. Gần đây chúng tôi đã bắt đầu mở cuộc tấn công vào các lực lượng này. Nhà nước phải nắm giữ vị thế độc quyền trong nền kinh tế.

A.N. Kosygin: Ở Sài Gòn có những xí nghiệp công nghiệp lớn nào?

Lê Duẩn: Ở đó có, ví dụ, nhà máy giấy với công suất 20 nghìn tấn giấy mỗi năm. Tôi đã đến thăm nhà máy này. Ở đó có trang thiết bị của Tây Đức và Ý rất hiện đại. Ngoài ra, ở Sài Gòn có một nhà máy dệt lớn, nơi đang đặt trang thiết bị của Đài Loan và Nhật Bản. Có các xí nghiệp nhỏ chuyên lắp ráp tranzito, ti-vi và các sản phẩm cơ khí chính xác khác có liên quan đến Nhật Bản. Các chủ sở hữu xí nghiệp công nghiệp giày da đã bỏ trốn và giờ đây những nhà máy này đã trở thành của nhà nước.

N.V. Podгорny (Podgorny): Sau chừng ấy năm chiến tranh, không thể ngay lập tức chuyển đời sống sang quỹ đạo thời bình được.

Lê Duẩn: Tất nhiên, vẫn tồn tại những khó khăn lớn và các vấn đề phức tạp, nhưng nhân dân hoàn toàn tin tưởng vào tương lai của mình. Trước đây, mọi sự giàu có của miền Nam Việt Nam đều nằm trong tay các tập đoàn độc quyền. Từ đó dẫn đến cảnh nghèo đói của những người lao động bình thường, nạn đói, v.v. Bây giờ chúng tôi đã cho phép người dân làm nông nghiệp, rời khỏi các thành phố và nhận lấy mảnh đất của mình. Trong những điều kiện này, chúng tôi sẽ dễ dàng đạt được sự phục hồi của nông nghiệp.

Trong tất cả những năm chiến tranh chống thực dân Pháp, tôi đã công tác ở miền Nam. Sau khi tiến hành cải cách ruộng đất vào năm 1953, đời sống của người nông dân đã bắt đầu khá lên. Trong thời kỳ chiến tranh chống Pháp, chúng tôi đã phân phát 2 triệu héc-ta đất cho nông dân; nhờ vậy mà nông dân miền Nam hoàn toàn đứng về phía chúng tôi. Đó là lý do tại sao chúng tôi chiến thắng nhanh chóng đến vậy. Ngay cả trong những năm chiến tranh chống Pháp, nông dân ở miền Nam vẫn có mức sống cao. Tuy nhiên, hiện nay nó đã thấp đi một chút. Gần đây, nông dân đã nói với tôi rằng sẽ mất 2-3 năm để đạt được sự phục hồi hoàn toàn của mức độ phát triển nông nghiệp trước đây. Đó là tất cả những gì tôi muốn nói với các đồng chí một cách vắn tắt về tình hình ở miền Nam Việt Nam.

Đối với miền Bắc Việt Nam, tình hình ở đó đã trở nên tốt hơn so với thời kỳ chiến tranh. Tuy nhiên, phải nói rằng vẫn cần thêm vài năm nữa, và chỉ khi đó mới có thể nói về việc cải thiện đời sống. Nhu cầu của người dân hiện nay đã tăng lên đáng kể. Chúng tôi có những cựu chiến binh nói rằng họ không còn sống được bao lâu nữa và họ không thể chờ đợi quá lâu, vì vậy mức sống cần phải được nâng cao ngay từ bây giờ.

A.N. Kosygin: Việc đi lại giữa miền Bắc và miền Nam hiện nay có tự do không?

Lê Duẩn: Việc đi lại giữa hai miền của Việt Nam là tự do, bởi vì đây đã là một đất nước.

Một vấn đề quan trọng là việc xóa bỏ nạn thất nghiệp. Hiện tại, chúng tôi cấp cho những người thất nghiệp một khoản trợ cấp nhỏ, tiến hành quản lý chính xác số lượng của họ, và đề nghị họ đi làm việc tại các vùng nông thôn. Tình hình ở miền Nam rất ổn định, mặc dù tất nhiên chúng tôi vẫn chưa kịp khắc phục mọi hậu quả của chiến tranh. Trong rừng sâu vẫn có các băng nhóm tội phạm, côn đồ. Đại diện của các cơ quan chính quyền địa phương đến từng nhà để tìm hiểu xem ai đang làm việc và ai chưa làm việc.

Mỗi ngày có hàng nghìn người rời khỏi các thành phố để đến giúp đỡ công việc ở các vùng nông thôn.

N.V. Podgorny: Hệ thống cơ quan chính quyền đã được thiết lập ở miền Nam chưa?

Lê Duẩn: Vâng, chúng đã được thiết lập trên toàn quốc.

L.I. Брежнев (Brezhnev): Hiện tại ở Việt Nam có các đơn vị quân đội Trung Quốc nào không?

Lê Duẩn: Đã từ lâu là không có. Khi chúng tôi tiến hành cuộc chiến chống lại người Mỹ, phía Trung Quốc đề nghị cử 200 nghìn binh sĩ sang nước tôi, nhưng tôi đã nói rằng chúng tôi sẽ không tiếp nhận dù chỉ một người. Chúng tôi đã trả lời các nhà lãnh đạo Trung Quốc rằng chúng ta không muốn cuộc xung đột ở Đông Dương biến thành một cuộc chiến tranh lớn và do đó chúng tôi không mời các tình nguyện viên nước ngoài.

L.I. Brezhnev: Người Trung Quốc, như đã biết, từng có những yêu sách lãnh thổ đối với Việt Nam.

Lê Duẩn: Vâng, đã từng có. Gần đây tôi có gặp Đặng Tiểu Bình, chúng tôi cũng đã bàn luận về chủ đề này, cụ thể là về quần đảo Hoàng Sa. Như đã biết, những hòn đảo này thuộc về chúng tôi. Nhưng sau khi người Mỹ rút đi, khi chính quyền bù nhìn Sài Gòn lung lay, người Trung Quốc đã chiếm lấy các hòn đảo này.

N.V. Podgorny: Khi có người Mỹ ở đó, người Trung Quốc đã không dám chiếm lấy chúng.

Lê Duẩn: Khi Trung Quốc chiếm lấy các hòn đảo đó, các nhà ngoại giao của chúng tôi trên khắp thế giới đã giải thích cho công chúng hiểu rõ lập tức của chúng tôi về vấn đề này. Chủ quyền đối với lãnh thổ của mình là quyền thiêng liêng của mỗi quốc gia. Tôi cũng đã nói điều này với các đồng chí Trung Quốc. Vì chúng tôi và Trung Quốc là láng giềng, nên giữa chúng tôi có thể tồn tại những vấn đề về lãnh thổ. Nhưng chúng tôi cho rằng chúng cần phải được giải quyết theo tinh thần đồng chí, thắm tình anh em.

A.N. Kosygin: Các cuộc đàm phán của các đồng chí với các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã kết thúc như thế nào?

Lê Duẩn: Tôi đã nói với các nhà lãnh đạo Trung Quốc rằng chúng tôi có rất nhiều vấn đề được lịch sử để lại làm di sản. Tôi đã nói: các đồng chí nói về các lãnh thổ tranh chấp rằng đó là đất của các đồng chí, còn chúng tôi khẳng định rằng nó thuộc về chúng tôi, rằng nó là của chúng tôi. Cần phải để các chuyên gia nghiên cứu những vấn đề tranh chấp này. Nhưng không thể vì thế mà đánh mất tình hữu nghị giữa hai nước. Chúng tôi phải làm mọi cách để gìn giữ nó.

Khi chiếm lấy các hòn đảo, người Trung Quốc cũng bắt giữ khoảng 100 cư dân, nhưng sau đó đã trả họ về cho chính quyền Sài Gòn cũ. Cư dân trên các hòn đảo này không đông. Xa hơn về phía nam còn có một số hòn đảo khác mà Đài Loan và Philippines đang tranh chấp, nhưng đó là lãnh thổ của Việt Nam. Ngay sau chiến thắng, chúng tôi đã giải phóng những hòn đảo này. Nhưng hiện nay người Trung Quốc lại nói rằng đó là lãnh thổ của họ.

N.V. Podgorny: Có bao nhiêu người Trung Quốc sinh sống tổng cộng ở miền Nam Việt Nam?

Lê Duẩn: Tổng cộng có một triệu rưỡi người Trung Quốc sinh sống ở miền Nam Việt Nam, trong đó khoảng 700 nghìn người ở Sài Gòn.

L.I. Brezhnev: Số dân này chủ yếu làm nghề gì?

Lê Duẩn: Trong số người Trung Quốc có rất nhiều người lao động. Nhưng phải nói rằng, những người giàu có nhất ở miền Nam Việt Nam chính là người Trung Quốc.

L.I. Brezhnev: Các thành viên của cộng đồng người Trung Quốc ở miền Nam Việt Nam có gắn kết chặt chẽ với nhau không?

Lê Duẩn: Vâng, rất chặt chẽ. Ngay khi chúng tôi tiến vào Sài Gòn, người Trung Quốc địa phương đã treo cờ Trung Quốc. Chúng tôi đã nói với họ rằng trên lãnh thổ của chúng ta chỉ được phép treo cờ Việt Nam.

L.I. Brezhnev: Ở Việt Nam có urani không?

Lê Duẩn: Ở miền Bắc thì có, đúng ngay tại các khu vực đang có tranh chấp giữa chúng ta và người Trung Quốc.

L.I. Brezhnev: Thế còn dầu mỏ thì có không?

Lê Duẩn: Ở vịnh Bắc Bộ, có lẽ là ít. Còn trên thềm lục địa ở Biển Đông, có lẽ là rất nhiều. Người Mỹ và người Nhật đã bỏ ra khoảng 100 triệu đô la để tìm kiếm dầu mỏ trên thềm lục địa. Đã có 4 mũi khoan được khoan và phát hiện có dầu. Hiện nay người Pháp, người Nhật, người Ý, người Hà Lan đang bày tỏ nguyện vọng muốn nối lại việc tìm kiếm dầu mỏ.

A.N. Kosygin: Các đồng chí đã thiết lập quan hệ ngoại giao với người Nhật chưa?

Lê Duẩn: Đã thiết lập.

A.N. Kosygin: Thế còn quan hệ kinh tế thì sao?

Lê Duẩn: Người Nhật bồi thường cho chúng tôi khoảng 30 triệu đô la để đền bù những tổn thất do chiến tranh gây ra. Ngoài ra, quan hệ kinh tế với Nhật Bản đang được thiết lập qua nhiều kênh. Người Nhật đưa ra cho chúng tôi nhiều dự án khác nhau. Họ sẵn sàng giúp chúng tôi trồng ngô, và nói rằng có thể gia tăng sản lượng ngô thêm 250 nghìn tấn trong vòng 2 năm, nhưng chúng tôi sẽ phải trả lại cho họ một phần ngô. Họ cũng đang nghiên cứu các phương án khả thi khác, ví dụ, họ đề nghị giúp xây dựng tuyến đường sắt từ Việt Nam sang Lào để vận chuyển quặng sắt từ đó ra. Họ biết rõ rằng ở Lào có các mỏ quặng sắt phong phú — trữ lượng lên tới vài tỷ tấn.

L.I. Brezhnev: Các đồng chí đang đặt ra vấn đề xây dựng tổ hợp luyện kim ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thế còn tình hình than cốc của các đồng chí ra sao?

Lê Duẩn: Chúng ta không có than mỡ (than luyện cốc), điều này gây ra những khó khăn riêng, nhưng chúng ta có than an-thra-xit, có thể chế biến thành than luyện cốc hoặc đổi lấy than cốc.

Tôi muốn bổ sung thêm những điều sau đây. Như đồng chí Leonid Ilyich đã nói, Việt Nam phải là một quốc gia hùng mạnh. Chúng tôi chỉ có thể duy trì mối liên hệ chặt chẽ với Campuchia và Lào với điều kiện đất nước chúng ta phải phồn vinh.

A.N. Kosygin: Các đồng chí có cho rằng Campuchia chịu ảnh hưởng của Trung Quốc nhiều hơn là của Việt Nam không?

Lê Duẩn: Tôi sẽ giải thích vấn đề này cho các đồng chí nghe ngay bây giờ. Campuchia là gì?

A.N. Kosygin: Các đồng chí không có bất kỳ thỏa thuận nào với Trung Quốc về việc Campuchia và Lào là khu vực ảnh hưởng của các đồng chí chứ?

Lê Duẩn: Tôi chưa bao giờ nói chuyện như cách mà Mao Trạch Đông đã nói chuyện với các đồng chí, khi ông ta nói rằng châu Á là khu vực ảnh hưởng của họ, còn châu Âu là của các đồng chí.

A.N. Kosygin: Bây giờ, có thể thấy rõ là Mao Trạch Đông trên thực tế coi Campuchia là lãnh thổ nằm trong khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc.

Lê Duẩn: Không chỉ Campuchia mà cả toàn bộ khu vực Đông Nam Á.

A.N. Kosygin: Khát vọng bá quyền này của Trung Quốc cần phải được đưa ra ánh sáng công khai tại các nước Đông Nam Á.

Lê Duẩn: Như các đồng chí đã biết, khi chúng tôi tiến hành cuộc đấu tranh chống sự xâm lược của Mỹ, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã đưa ra đề xuất hợp nhất thành một liên minh chính trị gọi là "năm nước và sáu bên": Trung Quốc, Triều Tiên, Lào, Campuchia và hai miền Việt Nam. Người Triều Tiên đã chấp nhận đề xuất này của Trung Quốc, người Campuchia cũng chấp nhận. Nhưng chúng tôi, những người Việt Nam, đã kiên quyết phản đối điều đó. Lào cũng đã cùng tham gia với chúng tôi. Và do đó, trên thực tế Trung Quốc đã không thể thực hiện được mưu đồ của mình.

A.N. Kosygin: Người Trung Quốc coi Campuchia là khu vực ảnh hưởng của họ. Còn thực tế thì tình hình ra sao?

Lê Duẩn: Bây giờ tôi sẽ nói về điều này. Gần đây, sau khi Campuchia được giải phóng, tôi đã đến Phnom Penh. Các đồng chí Campuchia đã nói với tôi rằng ba đảng cần phải hợp tác chặt chẽ với nhau cả trong hoàn cảnh chiến đấu lẫn trong công cuộc xây dựng hòa bình.

A.N. Kosygin: Thế đó là những đảng nào?

Lê Duẩn: Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Đảng Cách mạng Nhân dân Campuchia (hoặc các lực lượng cách mạng Campuchia) và Đảng Lao động Việt Nam. Trước đây người Campuchia chưa từng nêu lên vấn đề này, chưa từng nói như vậy.

Tôi kể cho các đồng chí nghe điều này để các đồng chí hiểu được những vấn đề quan trọng nào đang đặt ra trước mắt chúng tôi hiện nay. Trước đây, trước cuộc chiến tranh chống Mỹ, người Campuchia chưa từng đặt vấn đề về quan hệ giữa các đảng của chúng tôi theo chiều hướng như vậy.

Họ đã nói thế này: các đồng chí đã tiến hành cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và giải phóng được một nửa đất nước mình. Các đồng chí đã bỏ rơi Campuchia phó mặc cho số phận. Khi ấy chúng tôi đã trả lời họ rằng chỉ có hoàn cảnh quốc tế mới buộc chúng tôi phải hành xử như vậy. Họ đã không hiểu chúng tôi. Sau đó chúng tôi đã giúp đỡ họ trong cuộc đấu tranh chống lại sự xâm lược của đội quân 100 nghìn người Mỹ, giúp họ giáng những đòn thất bại đầu tiên vào lực lượng quân đội đã xâm nhập vào các khu vực của họ và đánh đuổi những lực lượng đó ra khỏi Campuchia. Chúng tôi đã giúp họ trang bị vũ khí cho quân đội của họ và rút toàn bộ quân đội của chúng tôi ra khỏi Campuchia, chúng tôi không để lại một người nào của mình ở Campuchia. Khi Trung Quốc cung cấp vũ khí cho người Campuchia, chúng tôi đã giúp họ vận chuyển số vũ khí đó vào Campuchia. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, Bắc Kinh bắt đầu đàm phán với người Mỹ, và các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã bảo người Campuchia tiếp tục chiến đấu thêm mười năm nữa. Trong khi đó, chúng tôi — những người Việt Nam, lại bảo người Campuchia rằng cần phải tiến công vào các thành phố. Họ đã nghe theo lời khuyên này, và tình hình của họ đã được cải thiện, sau đó họ bắt đầu tin tưởng chúng tôi nhiều hơn. Chúng tôi hy vọng rằng những người cộng sản Campuchia sẽ ngày càng nhận thức rõ hơn sự cần thiết phải củng cố đoàn kết trong khuôn khổ Đông Dương.

A.N. Kosygin: Hiện nay Trung Quốc đã cấp cho Campuchia một khoản viện trợ trị giá một tỷ đô la.

Lê Duẩn: Vâng, Trung Quốc đã cấp cho họ một tỷ đô la nhằm phát triển kinh tế quốc dân ở Campuchia. Một tỷ đô la, tức là 100 triệu mỗi năm. Nhưng tôi chắc chắn rằng một tỷ đô la này sẽ được cấp dưới dạng thiết bị cũ.

A.N. Kosygin: Trong đó có cả vũ khí cũ nữa chứ?

Lê Duẩn: Có lẽ là cả vũ khí. Người Campuchia sẽ nhận được từ Trung Quốc khoản viện trợ trị giá một tỷ đô la, trong khi Việt Nam không có khả năng viện trợ cho Campuchia mức độ như vậy. Tuy nhiên, trong cuộc trò chuyện với chúng tôi, người Campuchia đã nói về sự hợp tác giữa các đảng của chúng tôi, họ có mối quan hệ rất khăng khít với chúng tôi trong lĩnh vực này.

A.N. Kosygin: Campuchia đã để lại cho Đồng chí ấn tượng thế nào?

Lê Duẩn: Khi tôi đến Phnom Penh, toàn bộ dân cư ở đó đã được đưa đi dời về vùng nông thôn. Một thành phố trống rỗng, xung quanh không nhìn thấy một bóng người. Nhân tiện xin nói thêm, ở đó có 260 nghìn người Trung Quốc sinh sống, chủ yếu là những đại thương gia. Khi tôi nói chuyện với Mao Trạch Đông, ông ta đã hỏi tôi liệu tôi có đối xử với người Trung Quốc ở miền Nam Việt Nam giống như cách họ đã làm ở Campuchia hay không. Tôi trả lời rằng tôi sẽ không làm như vậy.

Về phần quan hệ của chúng tôi với người Campuchia, nhìn chung họ tin tưởng chúng tôi. Sau 10 năm nữa, khi chúng tôi củng cố được đất nước của mình, chúng tôi cũng sẽ giúp đỡ họ. Người Campuchia tin chắc rằng chúng tôi sẽ giúp đỡ họ, bởi vì chúng tôi đã đổ máu vì thắng lợi của họ.

L.I. Brezhnev: Chẳng phải Đồng chí vừa mới gặp Mao Trạch Đông gần đây sao?

Lê Duẩn: Vâng, vào tháng trước, hồi tháng Chín.

L.I. Brezhnev: Mao Trạch Đông năm nay bao nhiêu tuổi?

Lê Duẩn: 82 tuổi.

L.I. Brezhnev: Trong tạp chí "Trung Quốc" có bức ảnh chụp Mao Trạch Đông, trong đó ông ta trông rất ốm yếu.

Lê Duẩn: Rất khó để nói chuyện với ông ta, ông ta chỉ nói đúng 2-3 câu, còn những câu khác thì buộc phải viết vào sổ tay.

A.N. Kosygin: Thế còn tin tức gì về Chu Ân Lai không?

Lê Duẩn: Tôi được người ta bảo rằng ông ấy đang lâm bệnh nặng. Ông ấy đã phải trải qua bốn ca phẫu thuật vì bệnh ung thư.

L.I. Brezhnev: Trong tạp chí có đăng các bức ảnh chụp Mao Trạch Đông trong buổi tiếp một nhân vật người châu Phi nào đó, còn có thêm năm bức ảnh nhỏ và có ghi chú rằng một trong số đó mô tả Chu Ân Lai, người đang tiếp các vị khách nước ngoài tại bệnh viện.

Lê Duẩn: Hiện nay Chu Ân Lai không còn tiếp khách nước ngoài nữa.

N.V. Podgorny: Các đồng chí có mối quan hệ tốt với đảng Lào chứ?

Lê Duẩn: Trong đảng đó có rất nhiều người bạn của chúng tôi. Họ đã tham gia tích cực vào cuộc chiến tranh chín năm chống thực dân Pháp. Chúng tôi có mối quan hệ rất tốt đẹp, cởi mở và thắm tình anh em. Giữa chúng tôi tồn tại sự hiểu biết lẫn nhau rất tốt, bởi vì chúng tôi tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng độc lập của các đảng của nhau và giúp đỡ lẫn nhau.

L.I. Brezhnev: Đảng các đồng chí đang chuẩn bị những vấn đề gì cho đại hội sắp tới?

Lê Duẩn: Vấn đề khó khăn nhất, phức tạp nhất đối với chúng tôi chính là kế hoạch 5 năm. Còn đối với các vấn đề lý luận thì không có khó khăn gì.

L.I. Brezhnev: Chúng tôi thấu hiểu các vấn đề của các đồng chí bằng tinh thần anh em.

Lê Duẩn: Thật khó mà tưởng tượng được vấn đề kế hoạch 5 năm lại phức tạp đối với chúng tôi đến nhường nào.

Cho phép tôi bổ sung thêm vài lời.

L.I. Brezhnev: Xin mời đồng chí.

Lê Duẩn: Chúng tôi không có vấn đề gì trong nội bộ đảng. Trong hàng ngũ đảng tôi hầu như không có các ý kiến khác biệt. Nếu có thì không thể nào đạt được sự đoàn kết và không thể có được tính khẩn trương trong hành động như vậy.

Sự đoàn kết của đảng tôi càng được củng cố hơn sau thắng lợi mà chúng tôi giành được. Trước khi chiến thắng, một số đồng chí ở miền Bắc Việt Nam và các đồng chí miền Nam Việt Nam đã có chút ít hoài nghi. Hiện nay trong đảng có sự đánh giá nhất trí về tính đúng đắn của đường lối Ban Chấp hành Trung ương. Tất cả các đảng viên đều hiểu rằng sự lãnh đạo của đảng đang thực hiện chính sách đúng đắn, bao gồm cả chính sách đối ngoại. Nếu không có đường lối đúng đắn này, chúng tôi sẽ không thể thực hiện được những nhiệm vụ lớn lao đang đặt ra trước mắt. Về phần tổ chức đảng miền Nam Việt Nam, nó vẫn luôn là một phần của đảng. Các đồng chí từ miền Nam Việt Nam hiểu rất rõ đường lối của chúng tôi, họ có thái độ tốt đối với cả Ban Chấp hành Trung ương đảng lẫn cá nhân tôi. Nhân tiện xin nói, tôi từng là bí thư vụ Ban Chấp hành Trung ương phụ trách miền Nam Việt Nam trong suốt mười năm.

Các đảng viên của chúng tôi ở miền Nam có sự tôi luyện rất tốt. Họ là những đồng chí đã trải qua những thử thách gian nan. Giờ đây họ bắt đầu bước vào hoạt động kinh tế. Họ gặp nhiều khó khăn vì chưa có chuyên môn cần thiết để giải quyết các vấn đề kinh tế. Nhưng đây chỉ là hiện tượng tạm thời. Họ đang nỗ lực học hỏi, rèn luyện bản thân. Ở miền Bắc chúng tôi có hàng chục nghìn cán bộ có thể hỗ trợ các đồng chí miền Nam Việt Nam. Nhưng tất nhiên, vẫn có những khó khăn nhất định trong vấn đề này. Tạo dựng cái mới, cải thiện đời sống nhân dân là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn, và một trong những khó khăn lớn nhất là các đảng viên chưa từng giải quyết các vấn đề kinh tế, chúng ta thiếu các nhà quản lý kinh tế, thậm chí chúng ta không kịp đào tạo những cán bộ này.

Trên phạm vi toàn quốc, chúng tôi có ý định áp dụng thời hạn nghĩa vụ quân sự 3 năm, đồng thời muốn điều động một phần quân đội ra mặt trận lao động. Nhưng chúng tôi cũng cần phải có một quân đội hùng mạnh. Chúng tôi lo ngại không khéo quân đội của mình sẽ bị suy yếu.

A.A. Grechko: Ý là sẽ còn phải chiến đấu với ai đó nữa phải không?

Lê Duẩn: Mặc dù chúng tôi đã giành chiến thắng, nhưng như các đồng chí biết đấy, tình hình rất phức tạp. Có thể có đủ mọi bất ngờ xảy ra. Tuy nhiên, một phần quân đội chúng ta vẫn có thể sử dụng trên mặt trận kinh tế.

Đối với vấn đề bá quyền ở Đông Nam Á, khi trò chuyện với các đồng chí từ Đảng Cộng sản Nhật Bản, tôi đã hỏi họ tại sao các nhà lãnh đạo Trung Quốc cứ liên tục nhắc đi nhắc lại về vấn đề bá quyền. Tôi cho rằng không ai được phép mưu cầu bá quyền ở Đông Nam Á. Chẳng phải sẽ tốt hơn nếu đưa vào hiệp ước Nhật - Trung điều khoản rằng cả hai bên sẽ tôn trọng độc lập và chủ quyền của tất cả các nước Đông Nam Á hay sao. Chúng tôi đã nói với các đồng chí Nhật Bản rằng người Việt Nam đã chiến thắng trong cuộc chiến, đánh đuổi người Mỹ và giờ đây phải làm chủ đất nước mình. Cần phải tôn trọng tất cả các dân tộc, còn việc nói về bá quyền là điều không đúng đắn. Chúng tôi muốn tất cả các nước Đông Nam Á đều được độc lập, và không ai được phép nói rằng một quốc gia nào đó có quyền bá quyền cả.

L.I. Brezhnev: Người Trung Quốc đã chấm dứt các cuộc tranh luận về Khổng Tử chưa?

Lê Duẩn: Họ đã chuyển sang tranh luận về một chủ đề khác, cũng dựa trên cốt truyện cổ Trung Quốc — họ phê phán cuốn tiểu thuyết thế kỷ XIV rất nổi tiếng ở Trung Quốc là "Thuỷ hử" (Những giang hồ / Bờ sông). Thật khó mà hiểu được mục đích và ý nghĩa của tất cả các chiến dịch này.

L.I. Brezhnev: Có thông tin nào khác về tình hình trong giới lãnh đạo Trung Quốc không? Tin tức gì về Lưu Thiếu Kỳ?

Lê Duẩn: Trong một số giới đang lan truyền tin đồn rằng Lưu Thiếu Kỳ hình như đã qua đời, nhưng tôi đã không hỏi người Trung Quốc xem điều đó có thật hay không.

L.I. Brezhnev: Tôi muốn nhấn mạnh rằng, đồng chí Lê Duẩn, đảng của chúng tôi, Ban Chấp hành Trung ương, Chính phủ Xô viết hoàn toàn ủng hộ những nỗ lực của đảng các đồng chí nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chúng tôi hoan nghênh chiến thắng mà các đồng chí đã giành được và tin rằng nó tạo ra cơ hội để đẩy mạnh hoạt động đối ngoại của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sự đẩy mạnh như vậy có ý nghĩa to lớn trong việc bảo đảm thành công cho các lực lượng hòa bình và tiến bộ.

Chúng tôi tin tưởng rằng quan hệ giữa các đảng và nhà nước của chúng ta sẽ không ngừng phát triển và củng cố. Nhân dân Xô viết và Việt Nam là các thành viên trong đại gia đình các nước xã hội chủ nghĩa. Chúng tôi, cũng giống như các đồng chí Việt Nam, coi Việt Nam là tiền đồn của chủ nghĩa xã hội tại Đông Nam Á.

Về phần thông tin của đồng chí, đồng chí Lê Duẩn, nó mang lại sự quan tâm rất lớn. Chúng tôi hiểu rằng các đồng chí đang có rất nhiều vấn đề phức tạp. Nhưng từ những gì đồng chí kể cho chúng tôi nghe, có thể thấy rằng các đồng chí đang thực hiện một chính sách đúng đắn nhằm thống nhất đất nước thông qua quá trình dung hợp dần dần tất cả các khâu lãnh đạo kinh tế và chính trị, có tính đến những khác biệt đã hình thành qua nhiều năm trong điều kiện của miền Bắc và miền Nam Việt Nam. Đất nước các đồng chí có một đảng, một quân đội — đó là điều cốt lõi.

Về phần tình hình của chúng tôi, chúng tôi đang chuẩn bị cho Đại hội lần thứ XXV của đảng tôi, hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ 9. Chúng tôi đã đạt được những thành tựu, nhưng ở một số ngành, cũng giống như các đồng chí, vẫn có năng suất thấp, trong khi chúng tôi phấn đấu đạt năng suất lao động cao và hiệu quả sản xuất cao. Chúng tôi nỗ lực bảo đảm sự phát triển nhanh chóng của tất cả các ngành kinh tế quốc dân, đặc biệt là công nghiệp nặng, bao gồm luyện kim đen và luyện kim màu, công nghiệp than, năng lượng. Nhưng cũng cần phải bảo đảm sự tăng trưởng sản xuất ở tất cả các ngành kinh tế quốc dân khác. Không thể quên việc phát triển công nghiệp quốc phòng.

Các đồng chí đã nói về nông nghiệp ở đất nước các đồng chí, về những khác biệt về đất đai, năng suất, hệ thống thủy lợi giữa miền Nam và miền Bắc Việt Nam. Còn đất nước chúng tôi lớn hơn đất nước của các đồng chí, điều kiện ở các vùng khác nhau rất nhiều, chúng tôi cũng gặp phải những khó khăn lớn. Chúng tôi đầu tư rất nhiều công sức và nguồn lực vào việc phát triển nông nghiệp của mình. Đây là một ngành đòi hỏi không ít sự quan tâm. Đáng tiếc là trong những năm gần đây, tình hình năng suất của chúng tôi không mấy khả quan. Năm nay, sản lượng thu hoạch giảm sút rõ rệt do điều kiện khí hậu bất lợi — nhiều vùng không có mưa.

Chúng tôi không gặp vấn đề gì trong đời sống nội bộ đảng. Đảng đang sống một cuộc sống trọn vẹn. Hiện nay Đảng Cộng sản Liên Xô có 15,5 triệu đảng viên. Khoảng 60 phần trăm đảng viên được kết nạp vào Đảng Cộng sản Liên Xô sau Đại hội lần thứ XXIV là công nhân và nông dân.

Như vậy, chúng tôi tuân theo một cách thiêng liêng di huấn của Lênin rằng đảng của chúng tôi phải là một đảng công nhân.

Hiện nay chúng tôi đang làm việc để thực hiện các Chỉ thị của Đại hội đảng lần thứ XXIV. Nhân dân chúng tôi đang lao động với tinh thần nhiệt tình lớn lao.

Các vấn đề quốc tế cũng chiếm một vị trí không nhỏ trong công tác của chúng tôi. Các đồng chí biết rõ rằng chúng tôi đã giúp đỡ các đồng chí trong thời chiến. Và chúng tôi sẽ luôn giúp đỡ.

Công tác rất lớn đã được Ban Chấp hành Trung ương đảng chúng tôi, toàn thể cộng đồng xã hội chủ nghĩa tiến hành để tổ chức Hội nghị toàn châu Âu ở Helsinki. Đó là một sự kiện lớn. Cho đến nay vẫn có nhiều tiếng vang phản hồi. Nhưng bây giờ thỏa thuận này cần phải được bổ sung bằng sự giảm leo thang căng thẳng hơn nữa. Chúng tôi đang tiến hành công việc vì điều đó.

Kim ngạch thương mại của chúng tôi đã tăng lên. Chúng ta buôn bán với các nước xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, với Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức, Anh, Nhật Bản và các nước khác. Nhìn chung, có lẽ chúng tôi buôn bán với hơn 100 nước. Thương mại của chúng tôi với Trung Quốc rất ít, tôi có thể nói là mang tính hình thức.

Nhân tiện, nói về Trung Quốc. Tôi muốn hỏi đồng chí Lê Duẩn xem đồng chí đã làm quen với Phó Chủ tịch trẻ Vương Hồng Văn chưa?

Lê Duẩn. Tôi chưa từng nói chuyện với ông ta lần nào cả.

A.N. Kosygin. Đồng chí có quen với cháu trai của Mao Trạch Đông không?

Lê Duẩn. Vâng, Diêu Văn Nguyên đã viết bài báo đầu tiên chống Lưu Thiếu Kỳ. Trong chuyến đi Trung Quốc của tôi, ông ta đã đi cùng tôi nhưng nói chuyện rất ít với tôi. Trước đây cả Chu Ân Lai, Giang Thanh, Diệp Kiếm Anh và cháu trai của Mao Trạch Đông đều nói chuyện rất nhiều. Lần này tôi trò chuyện nhiều nhất với Đặng Tiểu Bình. Theo ý kiến của tôi, bản thân ông ấy, Lý Tiên Nệm và toàn bộ nhóm của họ có liên quan đến Chu Ân Lai.

Tôi muốn nói thêm về một vấn đề nữa. Các đồng chí hiểu rõ rằng bây giờ chúng tôi đang bước vào giai đoạn phát triển mới sau cuộc chiến tranh 30 năm. Hiện nay ở nước chúng tôi có 24 triệu người lao động. Vấn đề là làm thế nào để sử dụng lực lượng lao động này một cách hiệu quả hơn. Chúng tôi cần tính đến các điều kiện của miền Nam Việt Nam khi giải quyết các nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm.

Quả thực, đất nước chúng tôi đã bước vào giai đoạn phát triển kinh tế mới, và chúng tôi nghĩ rằng ở giai đoạn này trước hết chúng tôi phải dựa vào phe xã hội chủ nghĩa, phát triển các mối quan hệ rộng rãi, trước hết là với các nước xã hội chủ nghĩa, đồng thời cũng với thế giới tư bản chủ nghĩa. Gần đây tôi đã ở các nước anh em và hiểu rằng để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì cần phải duy trì mối quan hệ chặt chẽ với phe xã hội chủ nghĩa. Nhưng khó khăn của chúng tôi là chúng ta ở xa tất cả các nước xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, bất chấp điều đó, chúng tôi vẫn nghĩ đến việc tiếp tục duy trì mối quan hệ chặt chẽ với họ trong thời gian tới.

Chẳng hạn, chúng tôi có thể dành ra một phần ba lực lượng lao động của mình để lao động của họ hướng vào việc thực hiện các mối quan hệ với phe xã hội chủ nghĩa, hơn nữa cần phải làm việc bằng kỹ thuật chứ không phải bằng tay không. Chúng tôi có thể cung cấp hàng hóa của mình, ví dụ như sang Siberia. Tại sao lại không sử dụng lực lượng lao động của chúng tôi cho mục đích đó? Đó là vấn đề mà tôi muốn đặt ra. Nhưng tất nhiên, công nhân của chúng tôi phải có trong tay kỹ thuật, vì chỉ bằng cách đó mới có thể đạt được sự gia tăng nhanh chóng sản lượng các mặt hàng cần thiết.

Chúng tôi đặt ra hai vấn đề như một lời đề nghị: toàn bộ phe xã hội chủ nghĩa sẽ làm việc với chúng tôi như thế nào, và thứ hai = Liên Xô sẽ làm việc với chúng tôi ra sao. Tất nhiên, trong thời gian đầu đất nước chúng tôi sẽ vẫn còn nghèo, nhưng trong khoảng vài năm tới 5-10 năm nữa tình hình sẽ thay đổi. Sau 5-10 năm, đất nước chúng tôi sẽ trở thành nước phát triển, và khi đó không phi-líp-pin, không Căm-pu-chia, không Thái Lan nào có thể sánh kịp. Nhưng điều đó cần phải có thời gian.

Phía trước vẫn còn những khó khăn lớn. Chúng tôi đã từng gặp khó khăn, ví dụ như với người Mỹ. Trong những năm đầu của cuộc chiến tranh, chúng tôi không nghĩ rằng mình sẽ giành được thắng lợi lớn như vậy. Còn bây giờ, sau chiến thắng, vấn đề đặt ra là một đất nước nhỏ bé như nước tôi có thể thực hiện công cuộc cải tổ toàn diện bằng cách nào.

Kẻ thù của chúng tôi đã thất bại. Ngay cả người Phi-líp-pin cũng đã đuổi người Mỹ đi. Bây giờ tình hình ở Đông Nam Á hoàn toàn khác trước. Nhưng người Mỹ muốn cùng với người Nhật kiểm soát khu vực Thái Bình Dương. Tôi nghĩ rằng Việt Nam, mặc dù là một nước nhỏ, nhưng với sự giúp đỡ của các đồng chí đã đạt được những thành tựu to lớn trong lao động hòa bình, và chúng tôi muốn Việt Nam trở thành trung tâm của khu vực, là đại diện cho phe chúng ta, để Hà Nội không chỉ là trung tâm của đất nước chúng tôi mà còn của toàn bộ khu vực. Tôi nghĩ rằng đường lối này là đúng đắn. Đây không chỉ là đường lối chính trị mà còn là đường lối kinh tế.

Đông Nam Á là một khu vực lớn. Nơi đó có vài trăm triệu người sinh sống. Ngoài Nhật Bản ra, khó có nước nào khác, kể cả Phi-líp-pin, In-đô-nê-xia, có thể vượt qua Việt Nam về mặt kinh tế trong tương lai. Ý tôi muốn nói Việt Nam với tư cách là đại diện của phe xã hội chủ nghĩa. Để đạt được mục tiêu đó, ngay từ bây giờ chúng tôi cần phải suy nghĩ thật thấu đáo. Nếu không suy nghĩ về điều này ở tầm vóc lớn, mà chỉ nghĩ đến những chuyện nhỏ nhặt, đến lợi ích của thời điểm hiện tại, thì điều đó có thể dẫn đến việc tiến độ của đất nước chúng tôi bị chậm lại 5-10 năm.

Về phần Thái Lan, chúng tôi đã đặt điều kiện rằng chúng tôi sẽ tiến hành thiết lập quan hệ sau khi người Mỹ rút khỏi nước này. Chúng tôi cũng đặt ra những điều kiện tương tự đối với người Phi-líp-pin. Như đã biết, người Trung Quốc có một quan điểm khác, có gì đó rất kỳ lạ về những vấn đề này.

A.A. Gromyko. Trước đây họ muốn đuổi người Mỹ đi, còn bây giờ họ lại xin người Mỹ ở lại châu Á.

Lê Duẩn. Tôi đã gặp các bí thư thứ nhất của các đảng các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nói chuyện với họ về công tác chung với Việt Nam. Các đồng chí nói với tôi rằng họ cần phải bàn bạc với các đồng chí. Một ai đó trong số họ nhận xét rằng giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản sẽ diễn ra cuộc đấu tranh không chỉ về mặt chính trị mà cả về mặt kinh tế để tranh giành ảnh hưởng ở Đông Nam Á. Tôi đã nói với họ rằng đồng chí Leonid Ilyich đã nhấn mạnh trong cuộc trò chuyện với tôi về tầm quan trọng của việc làm sao để Việt Nam trở thành một quốc gia hùng mạnh.

Tôi muốn nhấn mạnh rằng, mặc dù chúng tôi đã tiến hành chiến tranh, nhưng chúng tôi luôn muốn góp phần duy trì hòa bình trên toàn thế giới. Do đó, chúng tôi đã không nhận tình nguyện viên. Bây giờ chúng tôi sẽ góp phần củng cố hòa bình phổ quát. Tuy nhiên, chúng tôi muốn giành chiến thắng cả trên mặt trận kinh tế. Nhưng điều này chỉ có thể đạt được sau 10-20 năm nữa. Điều đó cũng sẽ gây ảnh hưởng đến các nước Đông Nam Á và toàn thế giới. Khi đó một số người sẽ ngừng do dự. Đó cũng sẽ là sự gia tăng ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội.

Trước đây một số nước đã không hiểu chúng tôi và thậm chí còn lên án chúng tôi. Chẳng hạn, các đại diện của Ấn Độ trong Ủy ban Kiểm soát Quốc tế cho rằng chúng tôi đã cư xử không trung thực ở Nam Việt Nam, do đó mà người Mỹ mới đưa quân vào đó. Nhưng thực tế cuộc sống đã chứng minh rõ ràng. Giờ đây Ấn Độ có thể thấy được kết quả chiến thắng của chúng tôi. Thái độ của Ấn Độ đối với chúng tôi trong những năm gần đây đã thay đổi. Mặc dù Mỹ gây sức ép lên Ấn Độ, nhưng Ấn Độ cảm thấy rằng người Mỹ đã suy yếu và bắt đầu cải thiện quan hệ với chúng tôi. Hiện nay người Ấn Độ nói rằng chúng tôi đã hành động đúng đắn, và sau chiến thắng của chúng tôi, Ấn Độ đã bắt đầu hỗ trợ giúp đỡ chúng tôi.

L.I. Brezhnev. Cảm ơn đồng chí Lê Duẩn. Thôi được, hôm nay chúng ta đã làm việc khá lâu rồi. Tôi đề nghị nghỉ giải lao một lát.

RGANI. F. 80. Op. 1. D. 529. L. 53-77. Bản sao có chứng thực. Văn bản đánh máy.