Về việc tự giải tán của Quốc tế Cộng sản



Ngày 10 tháng 6 năm 1943, Quốc tế thứ III (Cộng sản) (Quốc tế Cộng sản - Komintern), được thành lập vào ngày 4 tháng 8 năm 1919 với tư cách là đảng cộng sản thế giới, đã chấm dứt hoạt động của mình. Tại sao lại như vậy? Nguyên nhân của quyết định này là gì? Nó có mang lại kết quả như mong đợi không? Đó là một sai lầm hay là một tất yếu do dòng chảy của các sự kiện lịch sử tạo ra?

Để đưa ra một đánh giá có cơ sở về quyết định này, cần phải tính đến mối liên hệ nhân quả trong quá trình phát triển lịch sử và sự biến đổi của hiện tượng đang xem xét. Chính trong quá trình đó, có tính đến tình hình đang hình thành cả bên trong các đảng cộng sản, trong quan hệ giữa các đảng với nhau, trong mối liên hệ của họ bên trong quốc gia mình và trong quan hệ giữa các quốc gia, mà cả nội dung lẫn hình thức tổ chức hoạt động của cả các đảng cộng sản lẫn Quốc tế Cộng sản nói chung đều thay đổi.

Lênin đã nhấn mạnh trong bài viết «Những nhiệm vụ cấp bách của phong trào chúng ta» (năm 1900) rằng đảng «…không thu hẹp hoạt động của mình vào một kế hoạch hoặc một thủ đoạn đấu tranh được vạch sẵn nào; đảng thừa nhận mọi phương thức đấu tranh, miễn là chúng phù hợp với lực lượng hiện có của đảng và tạo khả năng đạt được những kết quả lớn nhất có thể đạt được trong những điều kiện nhất định». Và trong cuốn sách «Phải làm gì?», Lênin viết rằng cần phải có một đảng sao cho «…đảm bảo… khả năng thích ứng ngay lập tức với các điều kiện đấu tranh vô cùng đa dạng và thay đổi nhanh chóng, sự khéo léo, một mặt, né tránh cuộc giao tranh trên chiến trường trống trải với kẻ thù vượt trội về lực lượng…, mặt khác, tận dụng sự chậm chạp của kẻ thù đó để tấn công hắn ở nơi nào và vào lúc nào mà hắn ít ngờ tới nhất». Những nguyên tắc này cũng đã được Quốc tế Cộng sản sử dụng.

Vậy các điều kiện lịch sử đã thay đổi ra sao mà đòi hỏi phải từ bỏ một hình thức tương tác lý luận và tổ chức của các đảng cộng sản trên thế giới như Quốc tế Cộng sản?

Ngay từ ngày 2 tháng 7 năm 1934, đồng chí Dimitrov, khi tính đến việc giai cấp tư sản chuyển sang chế độ độc tài phát xít công khai và ráo riết chuẩn bị chiến tranh nhằm tiêu hủy chủ nghĩa xã hội và phong trào cộng sản trên thế giới, đã tuyên bố tại ủy ban chuẩn bị cho Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản: «…Cần thiết phải thay đổi các phương pháp công tác và lãnh đạo của Quốc tế Cộng sản, có tính đến việc không thể lãnh đạo một cách linh hoạt từ Moskva đối với tất cả mọi vấn đề của toàn bộ 65 chi bộ Quốc tế Cộng sản đang ở trong những điều kiện vô cùng đa dạng…»

Chúng tôi xin lưu ý rằng tư tưởng này đã được nêu ra từ lâu trước Chiến tranh Thế giới thứ hai. Chúng tôi đưa ra chú thích này liên quan đến những luận điệu thường bị lặp đi lặp lại cho rằng việc giải tán Quốc tế Cộng sản xuất phát hoàn toàn từ mong muốn chiều lòng các đồng minh trong cuộc chiến tranh này.

Trong khuôn khổ một bài phát biểu ngắn, không thể xem xét chi tiết toàn bộ tính đa dạng của các điều kiện mà các đảng cộng sản ở các nước khác nhau hoạt động, nhưng vấn đề này đã được nghiên cứu khá đầy đủ trong văn liệu khoa học. Vì vậy, sự đa dạng này hoàn toàn có thể được coi là một sự thật khoa học đã được xác lập. Quốc tế Cộng sản đã xuất phát từ thực tế đó để xây dựng chính sách và chiến thuật của mình.

Vào tháng 8 năm 1935, Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản đã đặt ra nhiệm vụ đấu tranh vì sự thống nhất hành động của các đảng cộng sản chống lại chủ nghĩa phát xít ở các nước của họ. Đồng thời, Đại hội đề nghị Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản trong công tác của mình phải vạch ra các định hướng chính trị cho phong trào công nhân thế giới, đồng thời tránh can thiệp trực tiếp vào công việc nội bộ của các đảng cộng sản.

Ngày 25 tháng 11 năm 1936, sự liên minh đầu tiên của các thế lực đế quốc nhằm chống lại phong trào cộng sản đã diễn ra – «Hiệp ước chống Quốc tế Cộng sản» đã được ký kết – với mục đích ngăn chặn sự lan rộng của hệ tư tưởng cộng sản.

Quốc tế Cộng sản đã góp phần tổ chức cuộc đấu tranh chung chống lại sự xâm lược của nước Đức. Chẳng hạn, vào tháng 7 năm 1939, Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản (BCHQTCs - IKKI) trong bức điện gửi đảng cộng sản Pháp đã nhấn mạnh: "Việc chính phủ Anh và Pháp kéo dài các cuộc đàm phán với Liên Xô đang chuẩn bị cho sự đầu hàng tiếp theo trước kẻ xâm lược. Kế hoạch của phe phản động là đổ trách nhiệm về sự đầu hàng lên đầu Liên Xô. Các đồng chí phải huy động quần chúng ở châu Âu để phá sản kế hoạch này. Hãy liên lạc với tất cả các đảng cộng sản để phát động một chiến dịch chung ở tất cả các nước…"

Trong những năm 1935 - 1939, các đảng cộng sản đã nỗ lực thực hiện các nghị quyết của Đại hội VII về việc thành lập các mặt trận nhân dân. Ví dụ, các khẩu hiệu của Mặt trận Nhân dân Pháp là: sử dụng Hội Quốc liên để đảm bảo an ninh tập thể, giải tán các tổ chức phát xít, bảo vệ tự do công đoàn và báo chí, hỗ trợ người nghèo, rút ngắn thời gian làm việc trong tuần. Sự phản bội Tiệp Khắc bởi bọn đế quốc Anh và Pháp đã dẫn đến sự tan rã của Mặt trận Nhân dân. Nhưng mặt trận này đã đóng một vai trò tích cực: chặn đứng hiểm họa phát xít ở Pháp. Những người cộng sản cũng là những người khởi xướng các chiến dịch đoàn kết với Tây Ban Nha, với Ethiopia – quốc gia đang hứng chịu sự xâm lược của Ý, v.v.

Việc ký kết khả dĩ hiệp ước không xâm lược Xô - Đức là một bài kiểm tra đối với các đảng cộng sản về độ chín muồi về mặt lý luận. Chẳng hạn, Ban Chấp hành Trung ương đảng cộng sản Anh ngày 22 tháng 8 tuyên bố rằng "… dự kiến ký kết hiệp ước không xâm lược thể hiện chiến thắng của hòa bình và chủ nghĩa xã hội trước các kế hoạch chiến tranh của chủ nghĩa phát xít và trước chính sách thân phát xít của Chamberlain... – kẻ muốn có chiến tranh giữa Đức và Liên Xô..." và yêu cầu giai cấp tư sản Anh ký kết hiệp ước tương trợ với Liên Xô. Còn BCHQTCs đã thông qua vào ngày 22 tháng 8 năm 1939 nghị quyết "Về chiến dịch chống Xô Viết nhân dịp các cuộc đàm phán giữa Liên Xô và Đức", trong đó giải thích rằng: «…việc có thể (có khả năng xảy ra trong những điều kiện nhất định) ký kết hiệp ước không xâm lược giữa Liên Xô và Đức không loại trừ khả năng và sự cần thiết của một thỏa thuận giữa Anh, Pháp và Liên Xô nhằm cùng nhau chống lại kẻ xâm lược… …Bằng sự sẵn sàng ký kết hiệp ước không xâm lược với Đức, Liên Xô …đã phá sản các kế hoạch của giai cấp tư sản, phản động và phái đầu hàng thuộc Quốc tế thứ Hai, những kẻ đang tìm cách hướng mũi nhọn xâm lược chống lại đất nước xã hội chủ nghĩa... Liên Xô đang làm rã ngũ bọn xâm lược, giải phóng tay chân để chống lại sự xâm lược của Nhật Bản... Cuối cùng, các cuộc đàm phán với Đức có thể buộc các chính phủ Anh và Pháp chuyển từ những lời nói suông sang việc nhanh chóng ký kết hiệp ước với Liên Xô...»

Nhưng bọn đế quốc Anh và Pháp, vì muốn hướng sự xâm lược của Đức chống lại Liên Xô, đã phản bội Ba Lan cũng giống như Tiệp Khắc, và từ chối ký kết hiệp ước với Liên Xô.

Tình hình lại thay đổi khi Đức tấn công Ba Lan vào ngày 1 tháng 9 năm 1939. Anh và Pháp, không muốn bảo vệ Ba Lan, chỉ tuyên chiến với Đức vào ngày 3 tháng 9 năm 1939 khi bọn phát xít, sau khi đánh chìm tàu hơi nước "Athenia" chở 1400 hành khách, lại đổ tội đó cho nước Anh. Trong hồi ký của mình, Churchill đã tường thuật về "cuộc chiến" này như sau: «…Chính phủ Pháp yêu cầu chúng tôi kiềm chế không tiến hành các cuộc tấn công đường không vào Đức, vì chúng có thể gây ra các cuộc tấn công đáp trả… Chúng tôi chỉ thỏa mãn bằng việc rải truyền đơn». Cứ thế, bọn đế quốc Anh và Pháp ở một bên, và Đức ở một bên, đã châm ngòi cho cuộc Chiến tranh đế quốc chủ nghĩa thế giới lần thứ hai vừa để phân chia lại các khu vực ảnh hưởng, và trước hết là để tiêu diệt Liên Xô.

Tình hình mới – một bài kiểm tra mới về độ chín muồi lý luận đối với các đảng cộng sản. BCHQTCs đã đánh giá cuộc chiến tranh này là cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa, coi chủ nghĩa đế quốc Đức là hiểm họa lớn nhất mà các đảng cộng sản có nghĩa vụ góp phần đánh bại, đồng thời đối với các quốc gia bị Đức nô dịch, tổ chức này đã đưa ra khẩu hiệu giải phóng dân tộc. BCHQTCs khuyên các đảng cộng sản cần tính đến:

  • rằng cuộc chiến tranh Đức - Ba Lan, phát triển thành cuộc chiến tranh của Đức chống Pháp và Anh, "…không phải là một cuộc chiến tranh chính nghĩa, mà là một cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa, hướng tới mục đích, một mặt (của liên minh Anh - Pháp - Ba Lan), là duy trì biên giới của nền hòa bình Versailles bạo ngược, mặt khác (của Đức), là phân chia lại châu Âu và các thuộc địa";

  • rằng "…các đảng cộng sản có nghĩa vụ vạch trần chính sách này ở tất cả các nước tham chiến";

  • rằng "…chiến thắng của chủ nghĩa phát xít Đức trong chiến tranh mang lại hiểm họa lớn nhất cho phong trào công nhân quốc tế. Do đó, nghĩa vụ của những người cộng sản ở tất cả các nước… là góp phần đánh bại chủ nghĩa phát xít Đức".

Các đảng cộng sản đã lên án sự xâm lược của bọn đế quốc Đức, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải đấu tranh cả chống lại chủ nghĩa đế quốc ở chính các nước của họ. Chẳng hạn, đảng cộng sản Anh ngày 2 tháng 9 đã đưa ra lời kêu gọi "…Thứ nhất, bảo đảm chiến thắng quân sự trước chủ nghĩa phát xít và, thứ hai, để đạt được điều đó, phải bảo đảm chiến thắng chính trị trước Chamberlain và những kẻ thù của nền dân chủ ở nước ta".

Ngày 9 tháng 9 năm 1939, BCHQTCs nhấn mạnh:

  • rằng cuộc chiến tranh «…không phải do giai cấp tư sản tiến hành chống lại chủ nghĩa phát xít… Chiến tranh được tiến hành giữa hai nhóm các nước tư bản chủ nghĩa vì quyền bá chủ thế giới. Giai cấp vô sản quốc tế trong bất kỳ trường hợp nào cũng không thể bảo vệ một nước Ba Lan phát xít – quốc gia đã khước từ sự giúp đỡ của Liên Xô và đang áp bức các dân tộc khác»;

  • rằng "… giai cấp tư sản Anh và Pháp đã hất cẳng Liên Xô để tiến hành một cuộc chiến tranh cướp bóc";

  • rằng «…việc phân chia các quốc gia tư bản thành các nước phát xít và dân chủ đã mất đi ý nghĩa cũ, do đó cần phải thay đổi chiến thuật... đứng lên chống chiến tranh, vạch trần bản chất đế quốc chủ nghĩa của nó... chuyển sang tổng phản công quyết liệt chống lại chính sách phản bội của phong trào dân chủ xã hội».

Chúng tôi xin lưu ý rằng kết luận này hoàn toàn không mâu thuẫn với nhiệm vụ do Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản đặt ra – đó là đấu tranh vì sự thống nhất hành động của các đảng cộng sản chống lại chủ nghĩa phát xít ở các nước của họ. Nhiệm vụ này không những không bị bãi bỏ, mà còn trở nên có ý nghĩa cấp thiết đặc biệt đối với những người cộng sản. Lại là một chuyện khác khi bàn về cuộc chiến tranh giữa các quốc gia đế quốc chủ nghĩa – một cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa, cướp bóc, phi nghĩa từ cả hai phía, đúng như bản chất của Chiến tranh Thế giới thứ hai trước khi Liên Xô tham chiến. Trong một cuộc chiến tranh như vậy, đối với những người cộng sản không có sự khác biệt giữa hai tập đoàn cướp bóc.

Tuy nhiên, một bộ phận các đảng cộng sản vẫn cho rằng đó là cuộc chiến tranh chống phát xít, chiến tranh bảo vệ tổ quốc. BCHQTCs đã giải thích rằng đây là một sai lầm. Chẳng hạn, ngày 27 tháng 9 năm 1939, trong bức điện gửi Ban Chấp hành Trung ương đảng cộng sản Pháp nhân việc đảng này bị cấm hoạt động, BCHQTCs lại giải thích thêm rằng:

  • rằng «…đây không phải là cuộc chiến tranh của nền dân chủ chống lại chủ nghĩa phát xít, mà là một cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa, phản động từ cả phía Pháp lẫn phía Đức»;

  • rằng «…đối với những người cộng sản Pháp, chính sách quốc gia phòng thủ là điều không thể chấp nhận được»;

  • rằng «…vấn đề chủ nghĩa phát xít ngày nay đóng vai trò thứ yếu, có ý nghĩa hàng đầu là cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản – nguyên nhân sâu xa của cuộc chiến tranh này»;

  • rằng trong những điều kiện đó, những người cộng sản Pháp cần chuyển từ chiến thuật mặt trận nhân dân thống nhất sang việc đoàn kết quần chúng xung quanh đảng cộng sản, tiến hành tái bố trí lực lượng trên cơ sở công tác bất hợp pháp. Những lời giải thích như vậy cũng được gửi đến các đảng cộng sản khác.

Liên Xô đã vội vã tận dụng thời gian hoãn binh trong cuộc chiến với Đức có được nhờ việc ký kết hiệp ước không xâm lược. Trong khi đó, mối đe dọa chiến tranh ngày càng dâng cao. Ngày 28 tháng 4 năm 1940, BCHQTCs trong lời kêu gọi nhân ngày Quốc tế Lao động đã nhấn mạnh: "…Những kẻ khơi mào chiến tranh Anh, Pháp và bọn tay sai dân chủ xã hội của chúng đang phát điên lên vì Liên Xô giữ thái độ trung lập đối với cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa của chúng".

Trong bản tuyên bố của Đảng Cộng sản Ý được BCHQTCs chuẩn thuận vào ngày 28 tháng 6, đã nhấn mạnh rằng: "… Nhân dân chúng ta không muốn làm nô lệ cho giai cấp tư sản phát xít của chính mình, cũng không muốn làm chư hầu cho chủ nghĩa đế quốc nước ngoài, hay làm ngục tốt và kẻ áp bức các dân tộc khác... "

Sự đối đầu quân sự ngày càng gia tăng. Ngày 27 tháng 9 năm 1940, Hiệp ước Ba bên đã được ký kết giữa Đức, Ý và Nhật Bản.

Bọn đế quốc, những kẻ muốn giải quyết các mâu thuẫn bằng chiến tranh, đã gia tăng sự đàn áp đối với những người cộng sản, tuyên bố rằng cuộc đấu tranh vì hòa bình của họ là trái với lợi ích quốc gia. Chẳng hạn, vào năm 1940, Quốc hội Mỹ đã cấm các tổ chức có mục tiêu được tuyên bố là lật đổ chính phủ. Do đó, vào năm 1940, Đảng Cộng sản Mỹ đã xin được coi là không liên quan đến Quốc tế Cộng sản do bị cáo buộc là có hành động không vì lợi ích của nhân dân nước mình mà theo lệnh từ bên ngoài. Chúng tôi xin lưu ý rằng yêu cầu này xuất phát từ chính một trong các đảng của Quốc tế Cộng sản. Về sau, các đảng khác cũng đứng trên lập trường tương tự. Trong khi đó, giai cấp tư sản Đức, sau khi khuất phục được châu Âu, đã nhắm mục tiêu vào Liên Xô. Và vào ngày 18 tháng 12 năm 1940, Hitler đã phê chuẩn «Kế hoạch Barbarossa», theo đó từ ngày 6 đến ngày 29 tháng 4 năm 1941, Đức đã chiếm đóng Nam Tư và Hy Lạp, đồng thời đập tan cả các lực lượng quân đội Anh.

Căn cứ vào tình hình lúc bấy giờ, ngày 20 tháng 4 năm 1941 (tức là cũng trước khi Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại bắt đầu, khi mà thậm chí còn chưa có bất kỳ sự bàn cãi nào về liên minh chống phát xít), Stalin đã bày tỏ quan điểm sau đây: "…Lẽ ra nên làm cho các đảng cộng sản trở nên hoàn toàn độc lập, chứ không phải là các chi bộ của Quốc tế Cộng sản. Họ phải biến thành các đảng cộng sản quốc gia… Điều quan trọng là họ phải bám rễ sâu vào nhân dân nước mình và tập trung vào các nhiệm vụ đặc thù của riêng mình…, tự mình giải quyết các nhiệm vụ cụ thể đặt ra trước họ tại quốc gia đó. Mà hoàn cảnh và nhiệm vụ ở các nước lại hoàn toàn khác nhau... Giờ đây, các nhiệm vụ quốc gia nổi lên hàng đầu đối với từng quốc gia. Nhưng vị thế của các đảng cộng sản… chịu sự phục tùng Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, lại đang là một vật cản... Đừng bám lấy những gì đã qua của ngày hôm qua. Hãy đánh giá một cách nghiêm ngặt các điều kiện đã hình thành... Việc các đảng cộng sản thuộc về Quốc tế Cộng sản trong điều kiện hiện nay tạo thuận lợi cho sự đàn áp của giai cấp tư sản chống lại họ và kế hoạch cách ly họ khỏi quần chúng của chính đất nước mình, đồng thời cản trở các đảng cộng sản tự chủ phát triển và giải quyết các nhiệm vụ của mình với tư cách là những đảng cộng sản quốc gia". Và các đảng thực sự đã thể hiện được năng lực tự mình định hướng trong mọi hoàn cảnh và lôi kéo quần chúng đứng lên kháng chiến chống lại âm mưu giải quyết mâu thuẫn của bọn đế quốc trên lưng người lao động bằng con đường chiến tranh.

Ngày 22 tháng 6 năm 1941, 190 sư đoàn (5,5 triệu người) của Đức và các đồng minh (Phần Lan, Hungary, Romania, Ý) đã xâm lược Liên Xô. Đến giữa tháng 7 năm 1941, chúng đã chiếm đóng Latvia, Lithuania, Belarus, Moldova, một phần Estonia, RSFSR và Ukraine. Tức là mọi thứ đã thay đổi triệt để – một giai đoạn đấu tranh có chất lượng hoàn toàn mới đã bắt đầu. BCHQTCs tuyên bố rằng cần phải có một chiến thuật mới do thực tế là: «…Liên Xô đang tiến hành cuộc chiến tranh vệ quốc chính nghĩa».

Liên Xô sẵn sàng hợp tác với bất cứ ai đề nghị sự hợp tác như vậy, đứng lên chống lại những kẻ xâm lược phát xít. Ngày 12 tháng 7, thỏa thuận Xô - Anh về hành động chung chống lại Đức đã được ký kết. Liên Xô cũng thiết lập các mối liên hệ với Ủy ban Quốc gia «Nước Pháp tự do», chính phủ lưu vong của Tiệp Khắc, v.v.

Ngày 30 tháng 7 năm 1941, chính phủ lưu vong của Ba Lan đồng ý ký kết với Liên Xô thỏa thuận về tương trợ và thành lập quân đội Ba Lan trong đội hình Hồng quân. Mỹ tham chiến vào ngày 7 tháng 12 năm 1941. Và sau đó vào ngày 1 tháng 1 năm 1942, 26 quốc gia đã tuyên chiến với Đức và các đồng minh của nước này, thông qua Tuyên ngôn Washington của Liên Hợp Quốc.

Giờ đây, một mặt, Liên Xô liên minh với bọn đế quốc Anh và Mỹ, mặt khác – lại có liên hệ với các đảng cộng sản của các nước này thông qua Quốc tế Cộng sản, tạo cớ cho họ buộc tội can thiệp vào công việc nội bộ. Việc duy trì mối liên hệ như vậy của đảng cộng sản Liên Xô với các đảng cộng sản khác tạo cơ hội cho họ bị vu cáo là "các điệp viên của Moskva". Ở châu Âu, châu Á và châu Mỹ lúc đó đã có các đảng cộng sản trưởng thành hoàn toàn đủ sức tự lực hoạt động. Trong khi quá trình hình thành các đảng cộng sản đang diễn ra thì Quốc tế Cộng sản là cần thiết, nhưng sau khi họ đã củng cố vững chắc thì tổ chức này dần trở nên thừa thãi. Đồng thời cũng phát sinh nhu cầu về các hành động độc lập của các đảng cộng sản trong việc tổ chức các liên minh chiến thuật với các tầng lớp tiểu tư sản chống phát xít trong những điều kiện đấu tranh đang biến đổi, bởi vì tại các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng, lực lượng tổ chức trong phong trào Kháng chiến chính là các đảng cộng sản. Người ta thừa nhận rằng việc các đảng cộng sản tự chủ trong cuộc đấu tranh chính trị tại các nước của họ là điều có lợi. Kinh nghiệm của cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha cũng cho thấy các đảng cộng sản hành động độc lập nhân danh đông đảo quần chúng sẽ mang lại hiệu quả thiết thực hơn.

Sự biến đổi của các điều kiện, trong đó có cả bên trong các đảng cộng sản, đòi hỏi phải thay đổi cả mối quan hệ giữa họ với nhau. Điều này đã được phản ánh trong dự thảo Nghị quyết về việc tự giải tán Quốc tế Cộng sản ngày 15 tháng 5 năm 1943 mang chữ ký của 18 ủy viên Đoàn Chủ tịch BCHQTCs thuộc 11 đảng cộng sản, «…như một đề xuất để các chi bộ phê chuẩn». Trong phần kết luận của văn bản đã nhấn mạnh: «… Tính đến sự lớn mạnh và trưởng thành chính trị của các đảng cộng sản và đội ngũ cán bộ lãnh đạo của họ ở các quốc gia riêng biệt, đồng thời lưu ý rằng trong thời gian chiến tranh hiện nay, một số chi bộ đã đặt vấn đề giải tán Quốc tế Cộng sản với tư cách là trung tâm lãnh đạo của phong trào công nhân quốc tế, Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, không có khả năng trong điều kiện chiến tranh thế giới triệu tập Đại hội Quốc tế Cộng sản, xin phép được đưa ra trình các chi bộ Quốc tế Cộng sản phê chuẩn điều khoản sau đây: Giải thể Quốc tế Cộng sản với tư cách là trung tâm lãnh đạo của phong trào công nhân quốc tế, giải phóng các chi bộ Quốc tế Cộng sản khỏi các nghĩa vụ phát sinh từ điều lệ và các nghị quyết của các đại hội Quốc tế Cộng sản».

Tất cả các đảng thuộc Quốc tế Cộng sản đều phê chuẩn quyết định tự giải tán. Do đó, vào ngày 8 tháng 6 năm 1943, Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản ra nghị quyết coi Quốc tế Cộng sản đã bị bãi bỏ kể từ ngày 10 tháng 6 năm 1943.

Quốc tế Cộng sản được thành lập như một «đảng cộng sản thế giới» trong điều kiện phong trào cách mạng dâng cao, khi mối liên hệ giữa giai cấp công nhân các nước hầu như chưa có gì, và các đảng cộng sản thì ít ỏi, yếu ớt. Nhiệm vụ đặt ra là phải thành lập và củng cố các đảng cộng sản – vì nếu không có họ thì không thể giành thắng lợi trong cuộc cách mạng vô sản. Tổ chức này đã thông qua quyết định tự giải tán bởi vì, thứ nhất, nó đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đó, và thứ hai, do sự thay đổi các điều kiện hoạt động của các đảng cộng sản, khiến cho hình thức liên kết như vậy giữa họ với nhau không còn mang lại lợi ích nữa.

Công lao của Quốc tế Cộng sản nằm ở chỗ tổ chức này đã: củng cố mối liên hệ giữa những người lao động ở các quốc gia khác nhau, vạch ra chiến thuật cho phong trào công nhân trong những điều kiện phát triển đổi thay, thiết lập các chuẩn mực chung trong công tác tuyên truyền và cổ động các tư tưởng cộng sản. Nhờ đó đã tạo ra các điều kiện cho sự hình thành các đảng cộng sản chân chính, củng cố họ, và trong tương lai là hoạt động độc lập của các đảng cộng sản, mà việc lãnh đạo họ từ một trung tâm duy nhất đã trở nên không còn phù hợp nữa. Quốc tế Cộng sản từ một nhân tố góp phần thúc đẩy sự phát triển của các đảng cộng sản, đã biến thành một nhân tố kìm hãm sự phát triển đó – điều vốn đòi hỏi những hình thức liên kết mới giữa họ. Điều này đã định hình nên tính tất yếu phải tự giải tán của Quốc tế Cộng sản.

Vấn đề vẫn còn đang tranh luận – đó là liệu có đúng đắn hơn chăng nếu duy trì sự tương tác giữa các đảng cộng sản ở các nước khác nhau dưới một hình thức nào đó khác. Chẳng hạn, dưới hình thức một trung tâm tư tưởng và cơ quan điều phối. Trung tâm Lý luận có thể tiếp tục công việc của mình.

Hiển nhiên là những vấn đề này đã được thảo luận. Người ta đã thử nghiệm hình thức Cục Thông tin Cộng sản (Kominformburo), nhưng điều đó không mang lại kết quả như mong muốn.

Tuy nhiên, hiện nay thật khó khăn và kém hiệu quả khi đi tìm ra các phương án giải quyết thay cho những người cộng sản từng hoạt động trong những điều kiện cụ thể thời bấy giờ. Huống chi bản thân những điều kiện đó thường xuyên thay đổi một cách quyết liệt nhất. Những người cộng sản chưa bao giờ đặt dấu chấm hết trong các nghiên cứu của mình về quá khứ, nhưng họ tập trung toàn bộ sự chú ý vào các vấn đề của ngày hôm nay và ngày mai.

Kurmeev K.I.