Biên bản cuộc trò chuyện giữa Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô L.I. Brezhnev với Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn tại Đại hội lần thứ XXIII của ĐCS Xô Viết.


Ngày 11 tháng 4 năm 1966

Thành phố Mát-xcơ-va

Ngày 11 tháng 4 năm 1966

Tuyệt mật

BIÊN BẢN CUỘC TRÒ CHUYỆN

Giữa Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương ĐCS Xô Viết, đồng chí L.I. Brezhnev với đoàn đại biểu Đảng Lao động Việt Nam tại Đại hội lần thứ XXIII ĐCS Xô Viết1

Ngày 11 tháng 4 năm 1966

Tham gia cuộc trò chuyện có Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương ĐLĐVN Lê Duẩn, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương ĐLĐVN, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nguyễn Duy Trinh2, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương ĐLĐVN, Đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Liên Xô Nguyễn Văn Kinh, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương ĐLĐVN, Tổng biên tập báo "Nhân Dân" Hoàng Tùng3.

Lê Duẩn. Trước hết, cho phép tôi thay mặt Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương ĐLĐVN, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và toàn thể nhân dân Việt Nam bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ và ủng hộ mà nhân dân Liên Xô, Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương ĐCS Xô Viết cùng Chính phủ Liên Xô đang dành cho chúng tôi. Sự ủng hộ này đã thể hiện vô cùng rõ nét tại Đại hội lần thứ XXIII ĐCS Xô Viết.

L.I. Brezhnev. Các đồng chí đã nghe tại đại hội rằng phần lớn các đại biểu phát biểu và hầu như tất cả đại diện các đảng anh em trong bài phát biểu của mình ít nhiều đều đề cập đến cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Điều này có ý nghĩa to lớn cả trong việc vận động nhân dân đất nước chúng ta đẩy mạnh hơn nữa phong trào đoàn kết và ủng hộ nhân dân Việt Nam, lẫn trong việc tăng cường phong trào phản đối sự xâm lược của Mỹ tại Việt Nam từ phía dư luận tiến bộ trên thế giới.

Lê Duẩn. Tôi muốn lưu ý tầm quan trọng của sự ủng hộ tinh thần đối với cuộc đấu tranh của chúng tôi. Dĩ nhiên, chúng tôi rất cần sự giúp đỡ vật chất, nhưng sự ủng hộ về mặt chính trị - tinh thần từ phía những người bạn Liên Xô và những người bạn trên toàn thế giới cũng có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với nhân dân chúng tôi, cả ở miền Bắc lẫn miền Nam.

Nhân dịp này, tôi muốn thông báo với các đồng chí những nét khái quát về tình hình ở Việt Nam.

Các phương hướng chính trong đường lối chiến lược đấu tranh của chúng tôi chống lại những kẻ xâm lược Mỹ bao gồm: 1) đánh bại Mỹ tại Việt Nam; 2) giới hạn cuộc chiến tranh hiện nay trong khuôn khổ miền Nam Việt Nam, không để cuộc chiến tranh mở rộng sang các khu vực khác của Đông Dương và Đông Nam Á; 3) giành thắng lợi với tổn thất ít nhất.

Trong các hành động xâm lược ở miền Nam Việt Nam, những kẻ đế quốc Mỹ đã cố gắng dựa vào ba lực lượng chính: a) "ấp chiến lược", b) chính quyền bù nhìn và lực lượng vũ trang của chúng, c) các đô thị ở miền Nam Việt Nam. Một nhân tố quan trọng trong các hành động của chúng tại Việt Nam còn có Hạm đội 7 Thái Bình Dương của Mỹ. Nhưng nhân tố này chỉ đóng vai trò hỗ trợ.

Các hy vọng cơ bản của người Mỹ đặt vào ba lực lượng kể trên. Tuy nhiên, năm 1965 cho thấy rằng những lực lượng này đã không còn là chỗ dựa vững chắc cho chính sách của Mỹ tại miền Nam Việt Nam. Chẳng hạn, ngay từ đầu năm 1965, 3/4 số lượng "ấp chiến lược" ở miền Nam đã bị tiêu phá, mặc dù ban đầu chúng ta dự kiến chỉ tiêu diệt một nửa trong thời hạn đó. Quân đội bù nhìn đang trong tình trạng tan rã hoàn toàn. Tình hình ở các thành phố cũng bất ổn, bầu không khí giống như trước một cuộc nổi dậy.

Xuất phát từ việc phân tích tình hình đã hình thành ở miền Nam Việt Nam, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương đảng ta đã đi đến kết luận vào đầu năm 1965 rằng có thể giành chiến thắng ở miền Nam sau 2-3 năm4. Nhưng các sự kiện diễn ra nhanh hơn chúng ta dự kiến. Rơi vào nguy cơ sụp đổ hoàn toàn của chính quyền Sài Gòn, những kẻ đế quốc Mỹ đã điều động các lực lượng quân sự lớn của chúng vào miền Nam Việt Nam, nâng quân số từ 30 nghìn người vào cuối năm 1964 lên 200 nghìn người vào cuối năm ngoái.

Thành thật mà nói, thoạt đầu chúng tôi đã rơi vào hoàn cảnh khó khăn, vì chưa biết phải hành động như thế nào để chống lại quân đội Mỹ. Nhưng chúng tôi biết một điều rằng dứt khoát phải đánh bọn chúng. Để lấy kinh nghiệm, chúng tôi đã cử các đơn vị lực lượng thường trực với quân số 1.000 người đến khu vực các căn cứ lớn của Mỹ ở Đà Nẵng và Chu Lai. Mỹ đã ném vào chống lại các lực lượng này 8 nghìn binh sĩ và sĩ quan của chúng. Trận đánh ác liệt đã nổ ra gần Vạn Tường. Kết quả là chúng tôi đã tiêu diệt 800 quân nhân Mỹ, trong khi tổn thất của chúng tôi là 50 người. Kinh nghiệm của trận chiến này cho thấy chúng tôi không chỉ có đủ khả năng chiến đấu với người Mỹ mà còn có thể giáng cho chúng những đòn thất bại.

Đến nay, người Mỹ có trong tay khoảng 6 sư đoàn quân đội Mỹ và các nước chư hầu5 tại miền Nam. Tuy nhiên, lực lượng đóng vai trò chủ chốt trong các hoạt động chiến đấu chống lại các lực lượng của Mặt trận là Sư đoàn kỵ binh bay số 1. Tất nhiên, lực lượng vũ trang Mỹ tại miền Nam Việt Nam rất được trang bị đầy đủ các thiết bị quân sự tối tân. Nhưng tinh thần chiến đấu và khả năng tác chiến của binh sĩ Mỹ lại cực kỳ thấp. Chính vì thế mà họ liên tiếp gánh chịu hết thất bại này đến thất bại khác.

Chính quyền Sài Gòn đã cố gắng thực hiện cái gọi là chính sách "bình định" tại miền Nam với sự hậu thuẫn của người Mỹ, nghĩa là dùng những lời hứa hẹn kinh tế và hối lộ để kéo người dân về phía mình, qua đó làm suy yếu Mặt trận Dân tộc Giải phóng6. Nhưng chính sách này đã không mang lại những kết quả mà Sài Gòn và Mỹ từng trông đợi.

Tình hình tại miền Nam Việt Nam hình thành vào đầu năm nay chính là nguyên nhân dẫn đến việc triệu tập hội nghị nổi tiếng ở Honolulu. Theo đánh giá của chúng tôi, hội nghị này không mang lại điều gì mới mẻ và cũng không vạch ra bất kỳ bước đi mới nào từ phía Mỹ và tay sai của chúng ở miền Nam Việt Nam7.

Chúng tôi có cảm giác rằng hiện nay người Mỹ cho rằng họ sẽ không thể tiêu diệt được các lực lượng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDGFV). Đồng thời, họ cũng tin chắc rằng chúng tôi không thể giáng cho họ một đòn quyết định tại miền Nam Việt Nam. Do đó, không loại trừ khả năng vì muốn thay đổi tình hình ở miền Nam theo hướng có lợi cho mình, người Mỹ sẽ tiếp tục gia tăng quân số lực lượng vũ trang của họ tại miền Nam Việt Nam. Họ có thể nâng số lượng này lên tới 300-400 nghìn hoặc thậm chí 500 nghìn người.

L.I. Brezhnev. Các đồng chí vừa nói về sự tan rã của quân đội bù nhìn. Sự tan rã đó thể hiện ra sao? Có nhiều binh sĩ của quân đội này đào ngũ sang phía mặt trận không?

Lê Duẩn. Đặc trưng của quân đội chính quyền Sài Gòn là tình trạng đào ngũ hàng loạt. Chẳng hạn, chỉ riêng trong năm 1965, theo số liệu của Mỹ, đã có 110 nghìn binh sĩ từ quân đội Nam Việt Nam đào ngũ. Họ chủ yếu quay trở về với gia đình. Hiện chúng ta hãy còn ít sử dụng họ để bổ sung cho lực lượng vũ trang của MTDGFV. Các cơ quan của Mặt trận ở cơ sở đã cấp đất cho những người này8.

L.I. Brezhnev. Tôi nghĩ rằng lẽ ra nên tích cực làm việc với nhóm đối tượng này, bởi vì họ đại diện cho một nguồn dự trữ đáng kể cho lực lượng vũ trang của các đồng chí. Việc họ được cấp đất là điều tốt. Nhưng hãy để vợ của họ làm việc trên mảnh đất đó, còn đàn ông phải ra trận chiến đấu.

Lê Duẩn. Chúng tôi đang triển khai công tác theo hướng này. Có những trường hợp cả các phân đội của quân đội bù nhìn đã chuyển sang đứng về phía Mặt trận. Chẳng hạn, gần đây, một trung đoàn xe thiết giáp của lực lượng vũ trang Nam Việt Nam đã gia nhập các lực lượng của chúng ta.

L.I. Brezhnev. Tổng số quân số của lực lượng vũ trang yêu nước tại miền Nam Việt Nam là bao nhiêu?

Lê Duẩn. Nếu tính chung cả lực lượng thường trực, các đội du kích và các đội tự vệ địa phương, thì quân số của họ sẽ là 600 nghìn người. Nhìn chung, tỷ lệ tương quan giữa lực lượng đối phương (lực lượng vũ trang Mỹ và quân đội bù nhìn) với lực lượng của chúng ta là 1,3:1.

L.I. Brezhnev. Các đồng chí có gặp khó khăn gì trong việc cung cấp mọi nhu yếu phẩm cho các lực lượng của Mặt trận không? "Đường Hồ Chí Minh"9 có đang hoạt động không? Có con đường nào khác đi từ miền Bắc Việt Nam vào miền Nam không?

Lê Duẩn. Về vấn đề cung cấp cho lực lượng vũ trang hoạt động ở Nam Bộ, tức là khu vực phía nam của miền Nam Việt Nam, thì bài toán đảm bảo lương thực và đạn dược đã được giải quyết. Họ có đầy đủ mọi thứ tại chỗ. Ví dụ, tại đó đã tổ chức được việc sản xuất đạn dược. Việc cung cấp cho các lực lượng đóng tại Tây Nguyên, tức là khu vực Tây Bắc của miền Nam Việt Nam giáp với Lào, thì khó khăn hơn. Hàng hóa được vận chuyển đến những khu vực này theo con đường mà Đồng chí vừa gọi tên là "Đường Hồ Chí Minh". Con đường vẫn hoạt động nhưng phải chịu những đợt ném bom dữ dội. Chúng tôi cần một số lượng pháo cao xạ để bảo vệ tuyến đường này khỏi các cuộc không kích. Con đường này, như đã biết, kéo dài qua một đoạn lớn thuộc các khu vực của Lào do các lực lượng Pathet Lao kiểm soát.

Trước mặt chúng tôi ở miền Nam Việt Nam là đội quân của đối phương với tổng quân số lên tới 800 nghìn người. Chúng tôi cho rằng có thể đánh bại chúng trong vòng 2-3 năm. Để làm được điều đó, chúng tôi cần tiêu diệt càng nhiều sinh lực địch càng tốt. Trong năm nay, lực lượng vũ trang MTDGFV được giao nhiệm vụ tiêu diệt 80-90 nghìn quân nhân Mỹ và 150-200 nghìn binh sĩ quân đội bù nhìn. Trong 3 tháng qua của năm 1966, các lực lượng của chúng tôi đã tiêu diệt hơn 40 nghìn quân nhân quân đội Mỹ và lực lượng bù nhìn.

Có thể nói rằng chúng tôi muốn giáng cho người Mỹ một đòn thất bại về mặt quân sự. Đồng thời, chúng tôi cũng phấn đấu giành chiến thắng trước họ trên mặt trận chính trị và ngoại giao.

Gần đây, các thế lực cầm quyền ở Mỹ đang dần dần nhượng bộ chúng tôi trên lĩnh vực chính trị. Nếu trước đây họ tuyên bố dứt khoát rằng sẽ không rời khỏi miền Nam Việt Nam, thì bây giờ họ ngày càng thường xuyên nói rằng họ sẵn sàng rút quân khỏi đó. Một thời gian trước, họ tuyệt đối không muốn thừa nhận MTDGFV, nhưng giờ đây họ lại thừa nhận khả năng có sự tham gia của đại diện MTDGFV trong đàm phán. Chúng tôi nghĩ rằng trong những hoàn cảnh nhất định, người Mỹ có thể đồng ý rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, đồng thời họ lại muốn nhất định phải để lại miền Nam một chế độ bù nhìn vững chắc trung thành với họ. Về phần mình, chúng tôi dứt khoát không bao giờ đồng ý sự tồn tại của một chế độ như vậy ở miền Nam. Có thể thành lập một chính phủ nào đó, trong đó bao gồm một số nhân vật có tư tưởng thân Pháp và thân Mỹ. Nhưng chính phủ đó không được phụ thuộc vào Mỹ.

Chúng tôi hiểu rằng một cuộc đấu tranh kéo dài đang chờ phía trước. Để buộc người Mỹ phải nhượng bộ thêm nữa, cần phải có thời gian. Giai đoạn đó kéo dài bao lâu tùy thuộc vào quy mô đấu tranh của chúng ta, cũng như vào những cuộc khủng hoảng diễn ra cả bên trong nội bộ chế độ Sài Gòn lẫn bên trong nước Mỹ. Dù thế nào đi nữa, chúng tôi vẫn duy trì các mối liên hệ với người Mỹ, không hề né tránh các mối liên hệ này.

L.I. Brezhnev. Các mối liên hệ đó được thực hiện dưới hình thức nào?

Lê Duẩn. Đại sứ Mỹ tại Rangoon gặp gỡ đại diện của chúng tôi tại Miến Điện. Cũng đã có một cuộc gặp ở Moscow, nơi biện lý lâm thời của chúng tôi trao đổi với đại sứ Mỹ. Chúng tôi sẽ tiếp tục duy trì những mối liên hệ như vậy trong thời gian tới.

Chúng tôi nhận thức rõ rằng Hoa Kỳ có thể gia tăng các hoạt động chống lại miền Bắc Việt Nam. Về phần mình, tất nhiên chúng tôi cố gắng hạn chế khả năng thực hiện những hành động như vậy và giảm thiểu thiệt hại gây ra cho miền Bắc Việt Nam bởi các đợt ném bom của không quân Mỹ. Nhưng hiển nhiên là cuộc đấu tranh của những người yêu nước ở miền Nam càng diễn ra sôi nổi bao nhiêu, thì người Mỹ lại càng gia tăng các cuộc ném bom vào miền Bắc Việt Nam bấy nhiêu. Chúng tôi cũng không loại trừ khả năng máy bay Mỹ tập kích Hà Nội và Hải Phòng.

Đồng thời, chúng tôi cũng nhìn thấy những khó khăn mà người Mỹ đang phải đối mặt. Ngoài sự lên án chung đối với hành động xâm lược của họ, điều đẩy Hoa Kỳ vào tình thế ngày càng cô lập về chính trị, người Mỹ còn phải giải quyết các vấn đề cụ thể, đặc biệt là các vấn đề tiếp tế cho lực lượng của họ tại miền Nam Việt Nam. Ai cũng biết họ gặp phải những khó khăn gì trong việc cung cấp cho binh sĩ của mình mọi nhu yếu phẩm. Chẳng hạn, trong thời gian tới, khi chúng tôi áp dụng trên quy mô lớn các dàn phóng "Grad"10 để giáng đòn vào các căn cứ chính của Mỹ và các kho tàng lớn nhất ở miền Nam Việt Nam, những khó khăn đó sẽ càng gia tăng hơn nữa.

L.I. Brezhnev. Cảm ơn sự thông tin của Đồng chí. Chúng tôi chúc nhân dân Việt Nam giành được thắng lợi hoàn toàn. Sự đập tan quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam sẽ là kết quả tốt đẹp nhất. Về phần mình, chúng tôi đang giúp đỡ và sẽ tiếp tục giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh chính nghĩa chống lại sự xâm lược của Mỹ. Chúng tôi sẽ cố gắng thực hiện đúng thời hạn các cam kết cung cấp hàng hóa trong năm 1966 của mình. Nếu đạt được thỏa thuận với phía Trung Quốc, chúng tôi sẽ nhanh chóng chuyển giao cho các đồng chí ba trung đoàn tên lửa mà tôi đã nói với Đồng chí mấy hôm trước. Theo quan điểm của chúng tôi, việc điều động các trung đoàn tên lửa này đến Việt Nam sẽ góp phần tiếp tục củng cố khả năng phòng thủ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sử dụng các trung đoàn bổ sung này, các đồng chí sẽ có thể chiến đấu hiệu quả hơn nữa chống lại không quân Mỹ đang xâm phạm không phận miền Bắc Việt Nam. Hơn nữa, chúng tôi cho rằng sự giúp đỡ của Liên Xô dành cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng thời cũng là sự giúp đỡ đối với những người yêu nước ở miền Nam Việt Nam.

Lê Duẩn. Chúng tôi đã thông báo về Hà Nội việc Liên Xô viện trợ bổ sung cho chúng tôi ba trung đoàn tên lửa. Trung ương đảng tôi đã giao nhiệm vụ cho chúng tôi gửi lời cảm ơn tới Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và cá nhân Đồng chí về quyết định này. Chúng tôi đề xuất rằng các trung đoàn được chỉ định nêu trên sẽ được điều động đến Việt Nam và được sử dụng ở đó giống hệt như các trung đoàn tên lửa trước đây đã có mặt ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Làm như vậy sẽ dễ dàng đạt được thỏa thuận với những người đồng chí Trung Quốc về việc vận chuyển các trung đoàn tên lửa này qua lãnh thổ Trung Quốc.

L.I. Brezhnev. Khi cung cấp cho các đồng chí các trung đoàn tên lửa bổ sung, chúng tôi xuất phát từ thực tế là cần phải nhanh chóng đưa chúng vào tham gia các hoạt động chiến đấu. Như tôi đã nói với Đồng chí, cùng với tên lửa, chúng tôi sẽ cung cấp cho các đồng chí các phương tiện yểm trợ tương ứng. Đi cùng các trung đoàn này sẽ là một loại phương tiện yểm trợ mặt đất tối tân nhất, để vận hành nó cần phải huấn luyện cho các quân nhân. Hiện nay tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không có một chuyên gia nào có khả năng áp dụng phương tiện này trong thực tế. Do đó, theo quan điểm của chúng tôi, cần phải cử các chuyên gia và huấn luyện viên Liên Xô sang để hướng dẫn người của các đồng chí cách sử dụng phương tiện tối tân này, cũng như để triển khai chiến đấu trong trường hợp cần thiết.

Lê Duẩn. Chúng tôi đề nghị tất cả các vấn đề cụ thể liên quan đến việc điều động ba trung đoàn tên lửa nói trên đến Việt Nam sẽ được thảo luận giữa đại diện các bộ quốc phòng hai nước chúng ta.

L.I. Brezhnev. Chúng tôi đã sẵn sàng cho việc này và đồng ý tiến hành các cuộc đàm phán như vậy vào bất cứ lúc nào.

Về phương diện chính trị, chúng tôi hoàn toàn ủng hộ các đồng chí. Lập trường của chúng tôi về vấn đề Việt Nam là rõ ràng; chúng tôi không làm bất cứ điều gì trái ngược với lập trường và quan điểm của những người bạn Việt Nam. Còn mọi sự khiêu khích hay tin đồn liên quan đến chính sách của chúng tôi ở Việt Nam hãy để mặc cho lương tâm của những kẻ tung ra chúng.

Chúng tôi vui mừng trước những thành công của các đồng chí. Người Mỹ đang ở trong tình thế khó khăn không chỉ ở miền Nam Việt Nam mà cả ở châu Âu, nơi những bất đồng nghiêm trọng đang làm lung lay khối NATO. Đồng thời, cần phải tính đến việc đánh bại quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam - lực lượng hiện đang có 220 nghìn quân, và chẳng bao lâu nữa, như Đồng chí đã nói, sẽ có 300-400 nghìn quân - chắc chắn sẽ không thể diễn ra nhanh chóng. Việc đó cần có thời gian, cần có lực lượng. Cuộc chiến có thể mang tính chất kéo dài. Sự rạn nứt trong NATO có lợi cho chúng ta, nhưng mặt khác, quá trình này lại buộc người Mỹ phải có thái độ cứng rắn hơn ở Việt Nam. Hoa Kỳ sẽ làm mọi cách để không cho phép thất bại xảy ra ở miền Nam Việt Nam, bởi vì nếu không, các đồng minh của họ, kể cả trong khối NATO, sẽ ngừng tin tưởng họ. Điều này cần phải được tính đến.

Rõ ràng là người Mỹ đang gặp khó khăn trong việc tiếp tế cho lực lượng của họ ở miền Nam Việt Nam. Nhưng Mỹ là một quốc gia giàu có với tiềm lực to lớn. Do đó, có lẽ người Mỹ bằng cách này hay cách khác sẽ vượt qua những khó khăn đó. Và bản thân chúng ta cũng có không ít khó khăn.

Lê Duẩn. Về phần mình, chúng tôi sẽ dồn hết sức lực để vượt qua những khó khăn hiện có.

L.I. Brezhnev. Theo quan điểm của chúng tôi, cần thiết phải bảo vệ nền kinh tế miền Bắc Việt Nam khỏi bị tàn phá. Cũng cần phải ghi nhận rằng hiện nay trên trường quốc tế đang tồn tại một nhân tố tích cực như phong trào phản đối rộng rãi chống lại sự xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Phong trào này đang được đẩy mạnh trên toàn thế giới. Nó đã có thể được phát động là nhờ những nỗ lực của Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa khác, và nỗ lực của các lực lượng tiến bộ trên thế giới.

Có lẽ bây giờ chúng ta nên suy nghĩ về việc song song với các hành động quân sự, cần đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị trên trường quốc tế. Chúng tôi đã nói về điều này cả với Đồng chí và với đồng chí Phạm Văn Đồng. Chúng tôi coi đường lối đó là đúng đắn. Cuộc đấu tranh chính trị mang lại lợi ích chung cho chúng ta. Người Mỹ không thể thắng cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam, và họ thừa biết điều đó. Có lẽ nên giúp họ rút khỏi miền Nam Việt Nam. Hãy để họ giữ lại thể diện, nhưng phải rút đi. Có thể trong một thời gian nào đó, người Mỹ sẽ vẫn ở lại Việt Nam, bởi vì yêu cầu họ rút đi ngay lập tức là điều không thực tế. Điều cốt lõi nằm ở chỗ cần phải nhổ tận gốc rễ chế độ bù nhìn cho đến cùng. Có lẽ cơ sở cho giải pháp này hay giải pháp khác đối với vấn đề Việt Nam phải là các Hiệp định Genève năm 1954.

Lê Duẩn. Chính là các Hiệp định năm 1954. Hãy để người Mỹ chấp hành nghiêm chỉnh các điều khoản của những hiệp định đó.

L.I. Brezhnev. Chúng tôi cho rằng đường lối duy trì tiếp xúc với người Mỹ của các đồng chí là đúng đắn. Điều đó có lợi cho các đồng chí. Đặc biệt cần lưu ý rằng chính người Mỹ là những kẻ chủ động tìm kiếm các mối tiếp xúc. Điều này chứng tỏ sức mạnh của các đồng chí, chứng tỏ sự đúng đắn trong các lập trường của các đồng chí. Còn người Mỹ, khi rơi vào hoàn cảnh khó khăn ở miền Nam Việt Nam, buộc phải tìm kiếm những con đường để tiếp xúc.

Lê Duẩn. Bây giờ tôi muốn trình bày một số đề nghị và ý kiến về một loạt vấn đề cụ thể.

Chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã cung cấp cho chúng ta các dàn phóng "Grad", những phương tiện sẽ góp phần vào cuộc đấu tranh thắng lợi của những người yêu nước miền Nam Việt Nam. Vào tháng 4 năm nay, chúng tôi sẽ hoàn thành việc chuyển giao xuống phía Nam và tập trung tại đó tất cả các dàn phóng cũng như đạn dược cho chúng. Chúng tôi đề nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô cung cấp thêm cho chúng tôi một số lượng các dàn phóng kèm theo đạn dược đúng bằng mức đó, nghĩa là cung cấp cho chúng tôi với khối lượng y hệt như những gì đã được chuyển giao đến Việt Nam.

L.I. Brezhnev. Tôi sẽ báo cáo yêu cầu của các đồng chí lên các ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương đảng ta. Chúng tôi sẽ nghiên cứu và suy nghĩ xem có thể làm gì theo hướng này. Tất nhiên các đồng chí đều biết rằng những dàn phóng như vậy được chúng tôi sản xuất thực tế là dành riêng cho những người yêu nước ở miền Nam Việt Nam, bởi vì chúng không phù hợp với lực lượng vũ trang của chúng tôi.

Lê Duẩn. Chúng tôi cũng đề nghị các đồng chí Liên Xô nghiên cứu vấn đề cần phải thực hiện những biện pháp nào trong trường hợp người Mỹ phong tỏa Hải Phòng và gây cản trở các tàu thuyền của các quốc gia khác cập cảng này.

L.I. Brezhnev. Chúng tôi sẽ chỉ đạo các tổ chức liên quan nghiên cứu vấn đề này. Có lẽ trong trường hợp đó, việc cung cấp cho các đồng chí các loại pháo phòng thủ bờ biển sẽ hữu ích.

Lê Duẩn. Chúng tôi vui mừng ghi nhận rằng trong báo cáo của Đồng chí tại đại hội, cũng như trong một loạt bài phát biểu khác, đã nói rất hay về sự cần thiết của sự đoàn kết và gắn bó của khối xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản quốc tế. Việc đạt được sự đoàn kết như vậy, đặc biệt là giữa Liên Xô và Trung Quốc, sẽ có ý nghĩa vô cùng to lớn, trước hết là đối với chúng ta. Chúng tôi ủng hộ sự đoàn kết. Nhân dịp này, như một biện pháp nhằm giảm bớt sự bất đồng giữa Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Trung Quốc, chúng tôi đề nghị trong thời gian tới mọi vấn đề liên quan đến việc vận chuyển hàng hóa viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam qua lãnh thổ Trung Quốc sẽ được giải quyết thông qua đàm phán giữa chúng tôi, những người Việt Nam, với phía Trung Quốc11. Chúng tôi cho rằng các đồng chí Trung Quốc sẽ dễ dàng nhân nhượng chúng tôi hơn trong việc giải quyết các vấn đề này so với việc giải quyết với phía Liên Xô.

L.I. Brezhnev. Tôi đồng ý với điều đó. Các đồng chí đều biết rằng chúng ta chân thành mong muốn củng cố sự đoàn kết và gắn bó của khối xã hội chủ nghĩa, đồng thời khôi phục lại quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc. Nếu trên đường trở về, các đồng chí có cuộc trò chuyện với những người đồng chí Trung Quốc, các đồng chí có thể nói với họ rằng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, tất cả chúng ta đều xuất phát từ mong muốn cải thiện quan hệ Xô - Trung. Các đồng chí cũng hãy nói rằng nếu đồng chí Mao Trạch Đông đồng ý, tôi sẵn sàng vào bất cứ lúc nào và dưới bất kỳ hình thức nào, dù là chính thức hay không chính thức, được gặp gỡ ông ấy, kiên nhẫn lắng nghe quan điểm của các nhà lãnh đạo Trung Quốc và bằng tinh thần thiện chí để trả lời mọi vấn đề. Theo quan điểm của chúng ta, việc cải thiện quan hệ giữa Liên Xô và CHND Trung Hoa sẽ là một bước đi hiệu quả trên con đường tăng cường cuộc đấu tranh chung chống chủ nghĩa đế quốc.

Lê Duẩn. Nếu tôi có cuộc trò chuyện ở Trung Quốc, tôi nhất định sẽ chuyển những lời của Đồng chí đến các đồng chí Trung Quốc.

Khi chúng tôi bay đến Moscow dự đại hội, chúng tôi đã có cuộc gặp tại Bắc Kinh với các thành viên đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Nhật Bản. Các đồng chí đều biết rằng đoàn đại biểu này gần đây đã đến thăm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chúng tôi có thể nói rằng sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Nhật Bản đang theo đuổi một đường lối độc lập. Hiện nay, mối đe dọa về khủng bố và đàn áp đang treo lơ lửng trên đầu Đảng Cộng sản Nhật Bản, những điều có thể bị chính phủ hiện tại của Nhật Bản giáng xuống những người cộng sản Nhật Bản. Sẽ rất hữu ích nếu Đảng Cộng sản Liên Xô hỗ trợ các đồng chí Nhật Bản trong cuộc đấu tranh chống lại phe phản động trong nước. Các thành viên đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Nhật Bản cũng nói với chúng tôi rằng sự lãnh đạo của đảng có ý định tiến hành đấu tranh nhằm thiết lập một mặt trận chống đế quốc rộng rãi cả trong nước lẫn trên trường quốc tế. Đối với chúng tôi, việc thành lập một mặt trận như vậy, bao gồm các lực lượng tiến bộ ở châu Á và trên toàn thế giới, sẽ có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với việc đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc. Chúng tôi muốn Đảng Cộng sản Liên Xô có thái độ tích cực đối với ý tưởng này của các đồng chí Nhật Bản.

Trong các cuộc trò chuyện với chúng tôi, các nhân vật lãnh đạo Đảng Cộng sản Nhật Bản cho biết họ sẵn sàng đến Liên Xô để đàm phán với lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô nếu họ nhận được lời mời như vậy.

L.I. Brezhnev. Xuất phát từ đường lối chung của chúng ta, chúng tôi luôn phấn đấu cải thiện quan hệ với Đảng Cộng sản Nhật Bản. Cân nhắc ý kiến của các đồng chí Việt Nam và Triều Tiên, gần đây chúng tôi đã thực hiện các bước đi cụ thể theo hướng này. Gần đây, Tokyo đã đón tiếp Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Liên Xô V.V. Kuznetsov đến thăm với tư cách là khách của đại sứ Xô Viết. Ông đã được giao nhiệm vụ gặp gỡ các nhân vật lãnh đạo Đảng Cộng sản Nhật Bản. Tuy nhiên, thật tiếc là không phải vì lỗi của chúng ta mà cuộc gặp đó đã không diễn ra. Chúng tôi đã gửi lời mời đến Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Nhật Bản cử đoàn đại biểu tham dự Đại hội lần thứ XXIII. Nhưng như đã biết, đoàn đại biểu đã không đến.

Chúng tôi sẽ suy nghĩ xem có thể làm thêm những gì để bình thường hóa quan hệ giữa Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Nhật Bản, cũng như để hỗ trợ các đồng chí Nhật Bản trước mối đe dọa từ phía phe phản động. Không thể bỏ qua những bài học từ Indonesia, nơi theo thông tin có được, đã có hơn 200 nghìn người cộng sản thiệt mạng. Đảng Cộng sản Indonesia đã tỏ ra không chuẩn bị trước cuộc tấn công của phe phản động12.

Tôi muốn bổ sung thêm vài lời về vấn đề củng cố sự đoàn kết trong hàng ngũ phong trào cộng sản quốc tế. Đã từ một năm rưỡi nay, chúng tôi vẫn tỏ ra kiên nhẫn và không đáp trả những lời công kích của các đồng chí Trung Quốc. Đại hội lần thứ XXIII cũng đã xác nhận điều này. Tôi có thể nói với các đồng chí rằng chúng tôi sẽ tiếp tục kiềm chế không tranh cãi với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Dĩ nhiên, chúng tôi không mấy dễ chịu khi nghe những lời lăng mạ hằng ngày của báo chí và đài phát thanh Trung Quốc hướng về phía chúng ta. Nhưng chúng tôi sẽ không đáp trả những lời lăng mạ đó. Chúng tôi quán triệt nguyên tắc rằng ở giai đoạn hiện nay, điều cốt lõi chính là sự đoàn kết và gắn bó trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc. Còn những vấn đề khác có thể gác lại, đặt sang một bên.

Lê Duẩn. Một lần nữa xin được cảm ơn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã mời đoàn đại biểu chúng tôi tham dự đại hội đảng của các đồng chí. Đồng chí Hồ Chí Minh vô cùng tiếc nuối vì đã không thể đến tham dự đại hội này. Nhưng nhất định Người sẽ tìm cơ hội để đến thăm Liên Xô. Tiễn chúng tôi đi Moscow, đồng chí Hồ Chí Minh đã nói rằng ước mơ lớn nhất của Người là được nhìn thấy sự củng cố và gắn bó hơn nữa của khối xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản quốc tế.

L.I. Brezhnev. Hãy chuyển lời chào chiến hữu từ chúng tôi đến các đồng chí Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và các đồng chí Việt Nam khác. Hãy nói rằng chúng tôi mời họ và cả Đồng chí, đồng chí Lê Duẩn, đến chỗ chúng tôi để nghỉ ngơi và điều trị.

Lê Duẩn. Chúng tôi chắc chắn sẽ đến thăm các đồng chí, kể cả để nghỉ ngơi. Khi chúng tôi ở Liên Xô, chúng tôi được thư giãn cả về thể xác lẫn tinh thần. Về phần mình, chúng tôi hy vọng rằng, đồng chí Brezhnev, Đồng chí sẽ có thể đến thăm chúng tôi khi Việt Nam được thống nhất.

L.I. Brezhnev. Còn tại sao lại không phải là trước đó?

Lê Duẩn. Chuyến thăm của Đồng chí tới Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ là niềm vui vô bờ bến cho toàn thể nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, tình hình hiện tại không an toàn. Tôi nói thế là dựa trên thực tế rằng Đồng chí đang giữ chức vụ cấp cao như vậy không chỉ ở Liên Xô mà còn trên trường quốc tế nói chung.

Tôi muốn nói với các đồng chí vài lời về việc tổ chức tại Hà Nội một cuộc gặp gỡ quốc tế của đại diện giới trí thức tiến bộ từ các quốc gia khác nhau. Chúng tôi ủng hộ đề xuất này của các đồng chí. Đoàn đại biểu Liên Xô sẽ tham gia công việc của cuộc gặp đó. Theo tôi được biết, một số nước xã hội chủ nghĩa châu Âu cũng đang có ý định cử đoàn đại biểu đến tham dự cuộc gặp ở Hà Nội. Chúng tôi cho rằng việc tổ chức một sự kiện như vậy sẽ đóng vai trò tích cực trong công tác vận động dư luận thế giới ủng hộ Việt Nam đang chiến đấu.

Phát biểu kết luận, tôi lại một lần nữa muốn nhấn mạnh rằng đối với vấn đề Việt Nam, chúng tôi sẽ tiếp tục ủng hộ lập trường của các đồng chí. Đồng thời, theo chúng tôi, cần phải chú ý nhiều hơn nữa đến cuộc đấu tranh chính trị.

L.I. Brezhnev. Tôi hoàn toàn đồng ý với điều đó. Căn cứ vào các ý kiến mà Đồng chí đã trình bày vào tháng 10 năm ngoái với đồng chí Phạm Văn Đồng, chúng tôi đã thực hiện một loạt bước đi chính trị và ngoại giao. Bức thư ngày 24 tháng 1 năm 1966 của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tới những người đứng đầu các chính phủ và quốc gia cũng là một bước đi cụ thể trên con đường thực hiện những ý kiến mà Đồng chí đã nêu ra13.

Biên bản cuộc trò chuyện do Bí thư thứ hai Vụ Đông Nam Á Bộ Ngoại giao Liên Xô R.L. Khamidulin ghi chép.

RGANI. Quỹ 80. Mục 1. Hồ sơ 519. Tờ 18-32. Bản gốc. Bản đánh máy, chữ ký là bút tích của R.L. Khamidulin.

Đã xuất bản trong Tạp chí "Bulletin of the Archive of the President of the Russian Federation", 1998, số 3, tr. 124-130.

1 Đại hội lần thứ XXIII ĐCS Xô Viết diễn ra tại Mát-xcơ-va từ ngày 29 tháng 3 đến ngày 8 tháng 4 năm 1966. Tại đại hội, các chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm giai đoạn 1966–1970 đã được phê duyệt, Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương ĐCS Xô Viết được đổi tên thành Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương ĐCS Xô Viết, và chức vụ Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương ĐCS Xô Viết đổi thành Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương ĐCS Xô Viết.

2 Nguyễn Duy Trinh (1910–1985) - trong giai đoạn 1960–1980 giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa/Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong giai đoạn 1965–1980 giữ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa/Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

3 Hoàng Tùng (1920–2010) - Tổng biên tập báo "Nhân Dân" của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam/Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn 1954–1982.

4 Xem tài liệu số 54.

5 Ngoài Hoa Kỳ, các đồng minh sau đây của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ cũng tham gia chiến tranh Việt Nam: Đại Hàn Dân Quốc, Thái Lan, Philippines, Australia và New Zealand.

6 Năm 1961, tại Hoa Kỳ đã xây dựng kế hoạch "bình định" miền Nam Việt Nam trong thời hạn 18 tháng. Kế hoạch này dự trù, thứ nhất, việc cưỡng bức di dời dân cư nông thôn vào cái gọi là "ấp chiến lược", tức là các khu định cư kiên cố được đặt dưới sự bảo vệ vũ trang của chính quyền, và thứ hai, việc thiết lập "vùng chết" dọc theo biên giới miền Nam Việt Nam và tại các địa bàn hoạt động du kích thông qua việc tiêu hủy lớp phủ thực bì và hoa màu nông nghiệp bằng các loại hóa chất độc hại tác dụng mạnh.

7 Người ta cho rằng tại các hội nghị ở Sài Gòn (tháng 3 năm 1964) và Honolulu (tháng 5 năm 1964), các quyết định đã được thông qua về việc phát động các hoạt động quân sự chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - vốn bằng sự hỗ trợ và giúp đỡ của mình đã tác động quyết định đến cục diện các hoạt động quân sự ở miền Nam Việt Nam.

8 Xem phần chú thích của tài liệu trước đó.

9 Đường Hồ Chí Minh, còn được gọi là đường dãy núi An Nam, là một hệ thống mạng lưới hậu cần gồm các con đường và đường mòn kéo dài từ miền Bắc Việt Nam đến miền Nam Việt Nam đi qua các vương quốc Lào và Campuchia. Hệ thống này cung cấp sự hỗ trợ dưới dạng nhân lực và vật lực cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Quân đội Nhân dân Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh. Việc xây dựng hệ thống mạng lưới này bắt đầu vào tháng 7 năm 1959 sau khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thông qua quyết định thống nhất Việt Nam bằng con đường vũ lực.

10 Ý chỉ hệ thống pháo phản ứng bắn loạt "Grad" - hệ thống pháo phản ứng bắn loạt (BM-21) cỡ nòng 122 mm của Liên Xô và Nga.

11 Trong bản thông cáo của Bí thư thứ nhất Đại sứ quán Liên Xô tại CHND Trung Hoa S. Smirnov mang tựa đề "Về thái độ của CHND Trung Hoa đối với vấn đề Việt Nam", được viết vào ngày 2 tháng 6 năm 1966, đã ghi nhận: "Vào năm 1966, người Trung Quốc không gây cản trở cho việc quá cảnh tài sản quân sự của Liên Xô sang Việt Nam. Các cuộc đàm phán tại Ủy ban Nhà nước về Quan hệ Kinh tế Đối ngoại (GKES) của CHND Trung Hoa về các vấn đề kỹ thuật quá cảnh diễn ra suôn sẻ, trái ngược với năm ngoái. Chẳng hạn, thỏa thuận về việc vận chuyển vũ khí tên lửa và một nhóm lớn chuyên gia Liên Xô qua lãnh thổ Trung Quốc bằng máy bay Liên Xô trong quý đầu tiên của năm 1966 đã đạt được mà không gặp bất kỳ khó khăn nào. Không ghi nhận trường hợp nào vận chuyển bị chậm trễ. Do đó, các biện pháp do phía Liên Xô thực hiện nhằm vạch trần những mánh khóe của Trung Quốc liên quan đến việc quá cảnh đã phát huy vai trò tích cực của chúng. Công tác kiểm soát đối với việc vận chuyển hàng hóa do Đại sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực hiện cũng mang ý nghĩa nhất định; Đại sứ quán Liên Xô đã chuyển giao thông tin về việc các chuyến vận tải của chúng ta đến ga Mãn Châu Lý cho phía Việt Nam. Đại diện thường trực của Việt Nam theo dõi việc bàn giao hàng hóa tại biên giới Xô - Trung. Người Trung Quốc thường xuyên mời đồng thời đại diện Liên Xô và đại diện Việt Nam đến Bộ Ngoại giao để giải thích tình hình vận tải, qua đó cố tình thể hiện rằng phía Trung Quốc không gây cản trở việc vận chuyển hàng hóa và nếu có sự chậm trễ thì đó là do lỗi của phía Liên Xô hoặc phía Việt Nam" (xem Lưu trữ Chính sách Đối ngoại Liên bang Nga - AVP RF, Quỹ 079, Mục 21, Hồ sơ 55, Tập 29, Tờ 125–137).

12 Vào đêm ngày 30 tháng 9 rạng sáng ngày 1 de tháng 10 năm 1965, tại Indonesia đã xảy ra một âm mưu đảo chính quân sự được biết đến với tên gọi "Phong trào 30 tháng Chạp". Năm vị tướng cao cấp đại diện chủ yếu cho giới lãnh đạo lực lượng lục quân (cùng với trung tá phụ tá cho tư lệnh lục quân A.H. Nasution) đã bị các phần tử kích động thuộc các tổ chức thanh niên do Đảng Cộng sản Indonesia (PKI) kiểm soát bắt cóc và bị sát hại vài giờ sau đó tại khu vực Lubang Buaja ngoại ô Jakarta. Những kẻ âm mưu đảo chính được sự hậu thuẫn của một bộ phận sĩ quan cận vệ tổng thống và bộ tham mưu không quân đã tuyên bố chuyển giao toàn bộ quyền lực vào tay Hội đồng Cách mạng. Phần lớn giới chóp bu quân đội đã trốn thoát khỏi lực lượng nổi dậy. Quyền kiểm soát quân đội rơi vào tay tướng Suharto - người đã dập tắt cuộc nổi dậy cho đến ngày 2 tháng 10. Giới quân nhân đã cáo buộc Đảng Cộng sản Indonesia tổ chức âm mưu đảo chính và phát động chiến dịch tuyên truyền chống cộng. Các bằng chứng về mối liên hệ giữa đảng cộng sản với "Phong trào 30 tháng Chạp" chỉ mang tính gián tiếp, và từng có giả thuyết cho rằng cuộc nổi dậy do chính Suharto tổ chức nhằm thâu tóm quyền lực và tiến hành thanh trừng Đảng Cộng sản Indonesia. Ngay sau đó, các cuộc đàn áp nhằm vào những người cộng sản đã bùng phát trên toàn quốc, khoảng 500.000 đảng viên (cả chính thức lẫn nghi vấn) đã bị sát hại, và đảng này trên thực tế đã bị đập tan. Tướng Suharto đã phế truất Sukarno khỏi quyền lực và trở thành tổng thống của đất nước vào năm 1968.

13 Ý chỉ thông điệp của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xô Viết Tối cao Liên Xô liên quan đến cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ tại Việt Nam ngày 24 tháng 1 năm 1966 (Xem: Liên Xô - Việt Nam... Tài liệu số 71).