HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN TRIỀU TIÊN (2026)
LỜI NÓI ĐẦU
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên là quốc gia xã hội chủ nghĩa lấy quần chúng nhân dân làm trung tâm, đại diện cho lợi ích của nhân dân Triều Tiên và đấu tranh vì sự nghiệp xã hội chủ nghĩa.
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên lấy chủ nghĩa Kim Il-sung (Kim Nhật Thành) - Kim Jong-il (Kim Chính Nhật) vĩ đại làm kim chỉ nam duy nhất cho việc xây dựng và hoạt động của nhà nước, đồng thời lấy việc Triều Tiên hóa toàn xã hội theo chủ nghĩa Kim Il-sung - Kim Jong-il làm phương hướng tổng thể và mục tiêu tổng thể của công cuộc xây dựng đất nước.
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên kiên quyết bảo vệ, giữ gìn và không ngừng kế thừa, phát triển truyền thống huy hoàng đã đạt được trong cuộc đấu tranh cách mạng vinh quang vì sự giải phóng Tổ quốc, vì tự do và hạnh phúc của nhân dân.
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên lấy việc thiết lập hệ thống lãnh đạo duy nhất của Lãnh tụ, kiên trì đường lối cách mạng tự chủ, và thực hiện triệt để chủ nghĩa coi nhân dân là trên hết làm nguyên tắc cơ bản trong xây dựng và hoạt động của nhà nước.
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên tổ chức và tiến hành toàn bộ công việc nhà nước theo ý đồ và tư tưởng của Lãnh tụ, kiên quyết bảo vệ, giữ gìn và làm rạng danh mãi mãi tư tưởng cũng như thành tựu xây dựng đất nước của Lãnh tụ.
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên thiết lập nền tảng tự chủ trong xây dựng và hoạt động của nhà nước, phát triển tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội theo phương thức của riêng mình và bằng lực lượng của chính mình.
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên đặt yêu cầu và lợi ích của quần chúng nhân dân lên hàng đầu, xem đó là điều tuyệt đối, và lấy việc nâng cao phúc lợi của nhân dân làm nguyên tắc cao nhất trong hoạt động của mình.
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên nắm vững đường lối tổng thể của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là tăng cường chính quyền nhân dân, nâng cao chức năng và vai trò của chính quyền đó, đồng thời thực hiện triệt để ba cuộc cách mạng: tư tưởng, kỹ thuật và văn hóa.
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên không ngừng tăng cường sự lãnh đạo và quản lý thống nhất của chính quyền nhân dân đối với toàn xã hội, phù hợp với sự biến đổi của thời đại và yêu cầu của thực tiễn cách mạng.
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên nâng cao vai trò lãnh đạo của nhà nước trong việc thực hiện ba cuộc cách mạng nhằm đẩy nhanh quá trình cách mạng hóa mọi thành viên xã hội, hiện đại hóa năng lực kỹ thuật - kinh tế và văn minh hóa toàn xã hội.
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên quán triệt triệt để đường lối giai cấp và đường lối quần chúng để tăng cường toàn diện khối nhất trí đồng lòng của toàn xã hội, giải quyết mọi vấn đề bằng cách dựa vào lòng nhiệt huyết ái quốc và sức sáng tạo của quần chúng nhân dân, đồng thời tăng cường nền chuyên chính dân chủ nhân dân nhằm bảo vệ vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa cùng quyền lợi của nhân dân.
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên tăng cường quân đội nhân dân, thực hiện vũ trang toàn dân và pháo đài hóa toàn quốc ở mức độ cao hơn, phát triển công nghiệp quốc phòng để không ngừng nâng cao năng lực phòng thủ quốc gia.
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên cải tiến và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường đời sống pháp chế để pháp luật bảo vệ nhân dân và nhân dân tuân thủ pháp luật.
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên lấy tự lập, hòa bình, hữu nghị làm lý niệm cơ bản của chính sách đối ngoại, lấy việc bảo vệ lợi ích quốc gia làm nguyên tắc bất biến để mở rộng, phát triển quan hệ đối ngoại, và đấu tranh vì hòa bình, an ninh thế giới cũng như sự phồn vinh chung của nhân loại.
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên sẽ nắm chắc Hiến pháp – bộ luật chân chính của nhân dân, vũ khí chính trị mạnh mẽ của cách mạng và công cuộc xây dựng – để hoàn thành đến cùng sự nghiệp cách mạng Juche (Chủ thể).
CHƯƠNG I: CHÍNH TRỊ
Điều 1: Quốc hiệu của nước ta là Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên.
Điều 2: Lãnh thổ của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên bao gồm phần đất liền tiếp giáp với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Liên bang Nga ở phía bắc, tiếp giáp với Đại Hàn Dân Quốc ở phía nam, cùng với nội thủy, lãnh hải và vùng trời được xác định trên cơ sở đó. Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên tuyệt đối không cho phép bất kỳ sự xâm phạm nào đối với lãnh thổ của mình.
Điều 3: Công dân Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên là người có quốc tịch Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên. Công dân được Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên bảo hộ không phân biệt nơi cư trú hay nơi lưu trú.
Điều 4: Chủ quyền của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên thuộc về nhân dân lao động, bao gồm công nhân, nông dân, quân nhân và trí thức. Nhân dân lao động thực hiện chủ quyền của mình thông qua cơ quan đại biểu của mình là Hội nghị Nhân dân Tối cao và Hội nghị Nhân dân các cấp địa phương.
Điều 5: Tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, tất cả các cơ quan nhà nước được tổ chức và vận hành theo nguyên tắc tập trung dân chủ.
Điều 6: Các cơ quan chủ quyền các cấp, từ Hội nghị Nhân dân Tối cao đến Hội nghị Nhân dân quận (huyện), được bầu cử bằng bỏ phiếu kín theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng và trực tiếp.
Điều 7: Đại biểu của cơ quan chủ quyền các cấp có mối liên hệ mật thiết với cử tri và chịu trách nhiệm trước cử tri về công tác của mình. Trường hợp đại biểu mất đi sự tín nhiệm của cử tri thì có thể bị bãi miễn bất cứ lúc nào.
Điều 8: Chế độ xã hội của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên là chế độ xã hội lấy con người làm trung tâm, trong đó quần chúng nhân dân lao động là chủ thể của mọi thứ và mọi thứ trong xã hội đều phục vụ cho quần chúng nhân dân lao động. Nhà nước bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động bao gồm công nhân, nông dân, quân nhân, trí thức, đồng thời tôn trọng và bảo vệ quyền con người.
Điều 9: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên tiến hành mọi hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Triều Tiên.
Điều 10: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên dựa trên sự thống nhất chính trị và tư tưởng của toàn thể nhân dân được đoàn kết chặt chẽ xung quanh Đảng Lao động Triều Tiên. Nhà nước tăng cường cuộc cách mạng tư tưởng để cách mạng hóa và vô sản hóa mọi thành viên trong xã hội, biến toàn xã hội thành một tập thể gắn kết tình đồng chí.
Điều 11: Nhà nước đẩy mạnh các phong trào quần chúng cách mạng, phong trào ái quốc, bao gồm Phong trào Giành Cờ Đỏ Ba Cuộc Cách Mạng, nhằm đẩy nhanh tối đa công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Điều 12: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên bảo vệ các quyền dân tộc dân chủ cùng các quyền và lợi ích hợp pháp được luật pháp quốc tế công nhận của kiều bào Triều Tiên ở nước ngoài.
Điều 13: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của người nước ngoài sống trong lãnh thổ của mình.
Điều 14: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên thiết lập các quan hệ cấp nhà nước hoặc quan hệ chính trị, kinh tế, văn hóa với tất cả các quốc gia đối xử thân thiện với nước ta dựa trên các nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng, tự chủ, tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và cùng có lợi. Nhà nước đoàn kết với nhân dân thế giới hướng tới tự chủ và công lý, phản đối mọi hình thức xâm lược và can thiệp nội bộ, đồng thời tích cực ủng hộ, hỗ trợ cuộc đấu tranh của nhân dân tất cả các nước nhằm thực hiện chủ quyền quốc gia, giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp.
Điều 15: Pháp luật của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên là sự phản ánh ý chí, lợi ích của nhân dân lao động và là công cụ cơ bản để quản lý nhà nước. Việc tôn trọng và nghiêm túc tuân thủ, thi hành pháp luật là nghĩa vụ của mọi cơ quan, xí nghiệp, tổ chức và công dân.
CHƯƠNG II: KINH TẾ
Điều 16: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên dựa trên quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và nền tảng của nền kinh tế dân tộc tự lập.
Điều 17: Tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà nước và các tổ chức hợp tác xã hội.
Điều 18: Sở hữu nhà nước là sở hữu của toàn dân. Đối tượng của quyền sở hữu nhà nước không bị giới hạn. Tất cả tài nguyên thiên nhiên, đường sắt, vận tải hàng không, cơ quan bưu chính viễn thông cùng các nhà máy, xí nghiệp quan trọng, bến cảng, ngân hàng... vốn là mạch máu cơ bản của nền kinh tế đất nước thì chỉ thuộc sở hữu của nhà nước. Nhà nước ưu tiên bảo vệ và phát triển sở hữu nhà nước, loại hình sở hữu đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển kinh tế đất nước.
Điều 19: Sở hữu của tổ chức hợp tác xã hội là sở hữu tập thể của những người lao động tham gia vào tổ chức đó. Đất đai, máy móc nông nghiệp, tàu thuyền, các nhà máy và xí nghiệp vừa và nhỏ có thể thuộc sở hữu của tổ chức hợp tác xã hội. Nhà nước bảo vệ sở hữu của tổ chức hợp tác xã hội.
Điều 20: Nhà nước nâng cao ý thức tư tưởng và trình độ kỹ thuật, văn hóa của nông dân, kết hợp một cách hữu cơ hai hình thức sở hữu theo hướng nâng cao vai trò lãnh đạo của sở hữu toàn dân đối với sở hữu hợp tác, cải tiến sự lãnh đạo và quản lý đối với kinh tế hợp tác để củng cố và phát triển chế độ kinh tế hợp tác xã hội chủ nghĩa, đồng thời từng bước chuyển đổi sở hữu của tổ chức hợp tác thành sở hữu toàn dân theo nguyện vọng tự nguyện của toàn thể thành viên trong tổ chức hợp tác.
Điều 21: Sở hữu cá nhân là sở hữu phục vụ cho mục đích cá nhân và tiêu dùng của công dân. Sở hữu cá nhân được hình thành từ sự phân phối xã hội chủ nghĩa theo lao động và các phúc lợi bổ sung từ nhà nước và xã hội. Thu nhập có được một cách hợp pháp của cá nhân cũng thuộc sở hữu cá nhân. Nhà nước bảo vệ sở hữu cá nhân và bảo đảm quyền thừa kế đối với tài sản đó theo pháp luật.
Điều 22: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên lấy việc không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân làm nguyên tắc cao nhất trong hoạt động của mình. Của cải vật chất ngày càng tăng của xã hội ở nước ta được dành hoàn toàn cho việc nâng cao phúc lợi của người lao động. Nhà nước đấu tranh để tạo ra điều kiện sống sung túc và văn minh cho nhân dân.
Điều 23: Nền kinh tế dân tộc tự lập được xây dựng tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên là vốn liếng vững chắc cho cuộc sống hạnh phúc của nhân dân và sự phồn vinh, thịnh vượng của Tổ quốc. Nhà nước nắm vững đường lối xây dựng nền kinh tế dân tộc tự lập, đẩy nhanh quá trình Chủ thể hóa (Juche hóa), hiện đại hóa, thông tin hóa và khoa học hóa nền kinh tế quốc dân nhằm biến nền kinh tế quốc dân thành nền kinh tế tự chủ phát triển cao, đồng thời đấu tranh để xây dựng nền tảng vật chất – kỹ thuật phù hợp với một xã hội xã hội chủ nghĩa thắng lợi hoàn toàn.
Điều 24: Cách mạng kỹ thuật là mắt xích cơ bản để phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa, và năng lực khoa học kỹ thuật là tài nguyên chiến lược quan trọng nhất của quốc gia. Nhà nước nâng cao vai trò chủ đạo của khoa học kỹ thuật trong mọi hoạt động kinh tế, tích hợp khoa học kỹ thuật với sản xuất, đồng thời đẩy mạnh phong trào đổi mới kỹ thuật trong quần chúng để thúc đẩy xây dựng kinh tế.
Điều 25: Nhà nước đẩy nhanh cuộc cách mạng kỹ thuật nông thôn để công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, tăng cường sự lãnh đạo và trợ giúp đối với nông thôn nhằm xóa bỏ sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân. Nhà nước tăng cường bảo đảm và hỗ trợ từ phía nhà nước đối với nông thôn nhằm củng cố nền tảng vật chất – kỹ thuật của nông nghiệp và tạo dựng môi trường sống tuyệt vời cho cư dân nông thôn.
Điều 26: Nhà nước thúc đẩy sự phát triển tự lực và đa dạng của các thành phố, quận (huyện) nhằm biến tất cả các thành phố, quận (huyện) thành các cứ điểm chiến lược của một cường quốc xã hội chủ nghĩa văn minh, giàu mạnh, và thành những vùng phát triển mang đặc trưng riêng biệt của mình. Nhà nước yêu cầu tất cả các thành phố, quận (huyện) tích cực khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên kinh tế của địa phương mình, đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa, thông tin hóa các nhà máy công nghiệp địa phương nhằm bảo đảm sự phát triển đồng thời và cân bằng, lấy đặc trưng địa phương làm trọng tâm. Nhà nước tạo điều kiện và nền tảng vật chất - kỹ thuật cho sự phát triển của địa phương, giúp địa phương tự nuôi dưỡng vững chắc năng lực và tiềm năng của mình để đạt được sự phát triển củng cố và bền vững.
Điều 27: Chủ nghĩa xã hội được xây dựng bởi lòng nhiệt huyết ái quốc và lao động sáng tạo của quần chúng lao động. Tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, lao động là lao động tự chủ và sáng tạo của người lao động. Nhà nước làm cho lao động của người lao động trở thành một hoạt động ngày càng vui vẻ, có ý nghĩa, nơi họ phát huy lòng nhiệt tình tự giác và tính tích cực sáng tạo vì xã hội, tập thể và chính bản thân họ.
Điều 28: Thời gian lao động một ngày của người lao động là 8 tiếng. Nhà nước quy định thời gian lao động trong ngày ngắn hơn mức này tùy theo mức độ nặng nhọc của công việc và các điều kiện đặc thù. Nhà nước tổ chức lao động tốt và tăng cường kỷ luật lao động để sử dụng hoàn toàn thời gian lao động.
Điều 29: Tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, độ tuổi công dân có thể lao động là từ 17 tuổi. Nhà nước nghiêm cấm việc sử dụng lao động đối với thiếu niên chưa đến tuổi lao động.
Điều 30: Nhà nước kết hợp đúng đắn giữa lãnh đạo chính trị với lãnh đạo kinh tế - kỹ thuật, giữa sự lãnh đạo thống nhất của nhà nước với tính sáng tạo của từng đơn vị, giữa chỉ huy duy nhất với dân chủ, giữa kích thích chính trị - đạo đức với kích thích vật chất trong việc lãnh đạo và quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa, đồng thời kiên trì vững chắc nguyên tắc bảo đảm hiệu quả thực tế.
Điều 31: Nhà nước quản lý và vận hành nền kinh tế một cách khoa học, hợp lý dựa trên trí tuệ và sức mạnh tập thể của quần chúng sản xuất, đồng thời nâng cao một cách quyết định vai trò của Nội các. Nhà nước thực hiện chế độ quản lý trách nhiệm xí nghiệp xã hội chủ nghĩa trong quản lý kinh tế, và sử dụng đúng đắn các đòn bẩy kinh tế như giá thành, giá cả, tính sinh lời.
Điều 32: Nền kinh tế quốc dân của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên là nền kinh tế kế hoạch. Nhà nước lập và thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân theo quy luật phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa để cân đối đúng đắn giữa tích lũy và tiêu dùng, đẩy mạnh xây dựng kinh tế, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân và tăng cường năng lực quốc phòng. Nhà nước thực hiện việc nhất nguyên hóa và chi tiết hóa kế hoạch nhằm bảo đảm tốc độ tăng trưởng sản xuất cao và sự phát triển cân bằng của nền kinh tế quốc dân.
Điều 33: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên lập và chấp hành ngân sách nhà nước theo kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân. Nhà nước tăng cường cuộc đấu tranh tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm trong mọi lĩnh vực, thực hiện kiểm soát tài chính nghiêm ngặt để tăng tích lũy nhà nước một cách có hệ thống, đồng thời mở rộng, phát triển sở hữu xã hội chủ nghĩa.
Điều 34: Tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, ngoại thương do các cơ quan nhà nước, xí nghiệp và các tổ chức hợp tác xã hội thực hiện. Nhà nước giữ chữ tín trong ngoại thương, cải thiện cơ cấu thương mại, mở rộng và phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại trên nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi.
Điều 35: Nhà nước khuyến khích việc liên doanh, hợp tác xí nghiệp giữa các cơ quan, xí nghiệp, tổ chức của nước ta với các pháp nhân hoặc cá nhân nước ngoài, cũng như việc thành lập và vận hành các loại hình xí nghiệp tại các đặc khu kinh tế.
Điều 36: Nhà nước thực hiện chính sách thuế quan để bảo vệ nền kinh tế dân tộc tự lập.
CHƯƠNG III: VĂN HÓA
Điều 37: Nền văn hóa xã hội chủ nghĩa đang khai hoa và phát triển tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên góp phần nâng cao năng lực sáng tạo của người lao động và đáp ứng nhu cầu tình cảm văn hóa lành mạnh của họ.
Điều 38: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên thực hiện triệt để cuộc cách mạng văn hóa để biến tất cả mọi người thành những người xây dựng chủ nghĩa xã hội có tri thức sâu rộng về tự nhiên, xã hội và có trình độ văn hóa, kỹ thuật cao, đồng thời đẩy nhanh quá trình tri thức hóa khoa học kỹ thuật cho toàn dân.
Điều 39: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên xây dựng một nền văn hóa mang tính cách mạng và tính nhân dân chân chính để phục vụ cho người lao động xã hội chủ nghĩa. Trong công cuộc xây dựng nền văn hóa dân tộc xã hội chủ nghĩa, Nhà nước tẩy chay sự xâm nhập văn hóa của chủ nghĩa đế quốc, bảo vệ di sản văn hóa dân tộc trên các nguyên tắc chủ thể, nguyên tắc lịch sử và nguyên tắc khoa học, đồng thời kế thừa, phát triển di sản đó cho phù hợp với thực tiễn xã hội chủ nghĩa.
Điều 40: Nhà nước xác lập tính chủ thể trong công tác nghiên cứu khoa học, tích cực tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến, tăng cường đầu tư của nhà nước vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học, đồng thời khai phá các lĩnh vực khoa học kỹ thuật mới để đưa khoa học kỹ thuật của đất nước lên tầm thế giới.
Điều 41: Nhà nước thiết lập đúng đắn kế hoạch phát triển khoa học kỹ thuật, xây dựng kỷ luật thực hiện nghiêm túc kế hoạch đó, đồng thời tăng cường sự hợp tác sáng tạo giữa các nhà khoa học, kỹ thuật gia và những người sản xuất.
Điều 42: Nhà nước quán triệt các nguyên lý của nền giáo dục học xã hội chủ nghĩa để nuôi dưỡng thế hệ tương lai thành những nhà ái quốc chân chính, biết đấu tranh vì xã hội, tập thể, Tổ quốc và nhân dân, đồng thời là những lực lượng nòng cốt trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội có đầy đủ Trí - Đức - Thể.
Điều 43: Nhà nước đặt công tác giáo dục nhân dân và công tác đào tạo cán bộ dân tộc lên trên hết mọi công tác khác, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục phổ thông với giáo dục kỹ thuật, giữa giáo dục với lao động sản xuất. Nhà nước cải tiến cơ cấu, nội dung và phương pháp giáo dục để phát triển nền giáo dục thành nền giáo dục ưu việt nhất, nền giáo dục lý tưởng mà chúng ta có thể yên tâm giao phó tương lai của mình.
Điều 44: Nhà nước phát triển nền giáo dục bắt buộc toàn diện 12 năm, bao gồm 1 năm giáo dục mầm non bắt buộc, lên một trình độ cao phù hợp với xu thế phát triển khoa học kỹ thuật hiện đại và yêu cầu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Điều 45: Nhà nước phát triển hệ thống giáo dục chuyên nghiệp (chính quy) song song với các hình thức hệ thống giáo dục vừa học vừa làm, không ngừng cải thiện điều kiện và môi trường giáo dục để đào tạo nên những tài năng khoa học kỹ thuật có năng lực.
Điều 46: Nhà nước cho tất cả học sinh học tập miễn phí, cấp học bổng cho sinh viên đại học, đồng thời mở rộng và tăng cường các chính sách phúc lợi xã hội chủ nghĩa dành cho thế hệ tương lai.
Điều 47: Nhà nước tăng cường giáo dục xã hội và bảo đảm mọi điều kiện để tất cả người lao động đều có thể học tập.
Điều 48: Nhà nước nuôi dạy trẻ em ở độ tuổi tiền học đường tại các nhà trẻ và trường mẫu giáo bằng kinh phí do nhà nước và xã hội chi trả.
Điều 49: Nhà nước củng cố và phát triển chế độ y tế xã hội chủ nghĩa, cải thiện chất lượng dịch vụ y tế, tăng cường nền tảng vật chất - kỹ thuật của ngành y tế nhằm bảo vệ sinh mạng của con người và nâng cao sức khỏe cho người lao động.
Điều 50: Nhà nước phát triển nền văn học nghệ thuật mang tính cách mạng và tính chủ thể, mang hình thức dân tộc và nội dung xã hội chủ nghĩa. Nhà nước tạo điều kiện để các nhà sáng tác, nghệ sĩ sáng tạo ra nhiều tác phẩm có tính tư tưởng và tính nghệ thuật cao, đồng thời để đông đảo quần chúng nhân dân tham gia rộng rãi vào các hoạt động văn nghệ.
Điều 51: Nhà nước trang bị đầy đủ các cơ sở văn hóa hiện đại phù hợp với nhu cầu không ngừng phát triển về cả tinh thần và thể chất của con người, để tất cả người lao động được tận hưởng một đời sống tình cảm văn hóa xã hội chủ nghĩa theo ý muốn.
Điều 52: Nhà nước đại chúng hóa và sinh hoạt hóa thể dục thể thao để toàn dân chuẩn bị vững chắc cho lao động và quốc phòng, đồng thời phát triển kỹ thuật thể thao phù hợp với tình hình thực tế của nước ta và xu thế phát triển kỹ thuật thể thao hiện đại.
Điều 53: Nhà nước sáng tạo và phát triển nền văn hóa sinh hoạt xã hội chủ nghĩa cách mạng và cao thượng, đồng thời tăng cường cuộc đấu tranh chống lại các hiện tượng đi ngược lại lối sống xã hội chủ nghĩa.
Điều 54: Nhà nước yêu cầu mọi thành viên trong xã hội giữ gìn tính chủ thể và tính dân tộc trong đời sống ngôn ngữ, bảo vệ và phát huy tích cực tiếng nói văn hóa Bình Nhưỡng (Phóng ngữ văn hóa).
Điều 55: Nhà nước đề ra các biện pháp bảo vệ môi trường trước khi tiến hành sản xuất, bảo tồn và tạo dựng môi trường tự nhiên, phòng chống ô nhiễm môi trường để tạo dựng môi trường sống và điều kiện lao động văn minh, hợp vệ sinh cho nhân dân.
CHƯƠNG IV: QUỐC PHÒNG
Điều 56: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên dựa vào hệ thống phòng thủ toàn dân, toàn quốc trong việc bảo vệ đất nước. Với tư cách là một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân có trách nhiệm, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên đẩy mạnh tối đa việc phát triển vũ khí hạt nhân nhằm bảo đảm quyền sinh tồn và quyền phát triển của đất nước, ngăn đe chiến tranh, và bảo vệ hòa bình, ổn định của khu vực cũng như thế giới.
Điều 57: Sứ mệnh của các lực lượng vũ trang Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên là bảo vệ chủ quyền quốc gia, sự toàn vẹn lãnh thổ và quyền lợi của nhân dân; kiên quyết bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và những thành quả của cách mạng trước mọi mối đe dọa; và bảo đảm hòa bình, thịnh vượng của Tổ quốc bằng sức mạnh quân sự hùng mạnh.
Điều 58: Nhà nước quán triệt đường lối quân sự tự vệ với nội dung cơ bản là cán bộ hóa toàn quân, hiện đại화 toàn quân, vũ trang toàn dân và pháo đài hóa toàn quốc trên cơ sở vũ trang tư tưởng cách mạng cho nhân dân và cán bộ, chiến sĩ quân đội nhân dân.
Điều 59: Nhà nước thiết lập hệ thống lãnh đạo quân đội cách mạng và tác phong quân đội trong quân ngũ, tăng cường kỷ luật quân sự và kỷ luật quần chúng, đồng thời phát huy mạnh mẽ truyền thống mỹ tục cao đẹp về sự nhất trí giữa sĩ quan và binh lính, sự phối hợp giữa quân sự và chính trị, sự nhất trí giữa quân và dân.
Điều 60: Nhà nước phát triển khoa học kỹ thuật quốc phòng, không ngừng nâng cao trình độ Chủ thể hóa, hiện đại hóa và khoa học hóa của công nghiệp quốc phòng.
Điều 61: Nhà nước xây dựng tác phong coi trọng quân sự trong toàn xã hội và chuẩn bị chu đáo cho cuộc kháng chiến toàn dân.
CHƯƠNG V: QUYỀN LỢI VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN
Điều 62: Tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, quyền lợi và nghĩa vụ của công dân dựa trên nguyên tắc tập thể chủ nghĩa: "Một người vì mọi người, mọi người vì một người".
Điều 63: Nhà nước bảo đảm trên thực tế các quyền tự do dân chủ chân chính và đời sống vật chất, văn hóa hạnh phúc cho mọi công dân. Tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, các quyền lợi và tự do của công dân sẽ ngày càng được mở rộng cùng với sự củng cố và phát triển của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Điều 64: Mọi công dân đều có quyền lợi ngang nhau trong tất cả các lĩnh vực của đời sống nhà nước và xã hội.
Điều 65: Tất cả công dân từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và ứng cử, không phân biệt giới tính, dân tộc, nghề nghiệp, thời gian cư trú, mức độ tài sản và tri thức, đảng phái, chính kiến, tín ngưỡng. Công dân phục vụ trong quân đội cũng có quyền bầu cử và ứng cử. Những người bị tước quyền bầu cử theo bản án của tòa án và những người có khuyết tật về tâm thần thì không có quyền bầu cử và ứng cử.
Điều 66: Công dân có quyền tự do ngôn luận, xuất bản, hội họp, biểu tình và lập hội. Nhà nước bảo đảm các điều kiện hoạt động tự do cho các đảng phái dân chủ và các tổ chức xã hội.
Điều 67: Công dân có quyền tự do tín ngưỡng. Quyền này được bảo đảm bằng việc cho phép xây dựng các công trình tôn giáo hoặc các nghi lễ tôn giáo. Không được lợi dụng tôn giáo để lôi kéo thế lực ngoại bang hoặc làm tổn hại đến trật tự xã hội và nhà nước.
Điều 68: Công dân có quyền khiếu nại và tố cáo. Nhà nước bảo đảm việc thẩm định và xử lý các vụ khiếu nại, tố cáo một cách công bằng theo quy định của pháp luật.
Điều 69: Công dân có quyền lao động. Mọi công dân có năng lực lao động đều được lựa chọn nghề nghiệp theo nguyện vọng và tài năng của mình, được bảo đảm việc làm và điều kiện lao động ổn định. Công dân làm việc theo năng lực và hưởng phân phối theo số lượng và chất lượng lao động.
Điều 70: Công dân có quyền nghỉ ngơi. Quyền này được bảo đảm bằng chế độ giờ làm việc, chế độ ngày nghỉ lễ, chế độ nghỉ phép năm có lương, chế độ điều dưỡng và các cơ sở văn hóa đa dạng.
Điều 71: Công dân có quyền được khám chữa bệnh; những người cao tuổi, người bị bệnh tật hoặc khuyết tật mất năng lực lao động, người già cô đơn và trẻ em không có người chăm sóc có quyền nhận được sự trợ giúp về vật chất. Quyền này được bảo đảm bằng các cơ sở y tế hiện đại ngày càng tăng, bảo hiểm xã hội nhà nước và chế độ cứu trợ xã hội.
Điều 72: Công dân có quyền được giáo dục. Quyền này được bảo đảm bằng hệ thống giáo dục tiên tiến và các chính sách giáo dục mang tính nhân dân của nhà nước.
Điều 73: Công dân có quyền tự do hoạt động khoa học và văn học nghệ thuật. Nhà nước ưu đãi những công dân có đóng góp cho sự phát triển của khoa học và văn học nghệ thuật. Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của công dân theo pháp luật.
Điều 74: Công dân có quyền tự do cư trú và đi lại.
Điều 75: Anh hùng, thương bệnh binh, người có công trong chiến tranh, quân nhân vinh quang, gia đình liệt sĩ cách mạng, gia đình liệt sĩ ái quốc, thân nhân liệt sĩ tham gia chiến dịch quân sự ở nước ngoài, người có công ái quốc xã hội chủ nghĩa, tướng lĩnh phục viên, sĩ quan quân đội các thế hệ, và gia đình hậu phương quân đội nhân dân nhận được sự bảo hộ đặc biệt của nhà nước và xã hội.
Điều 76: Phụ nữ có địa vị xã hội và quyền lợi ngang bằng với nam giới. Nhà nước đặc biệt bảo vệ người mẹ và trẻ em thông qua việc bảo đảm chế độ nghỉ thai sản trước và sau khi sinh, ưu đãi đối với những người mẹ có nhiều con, mở rộng mạng lưới nhà hộ sinh, nhà trẻ, trường mẫu giáo và các chính sách khác. Nhà nước tạo mọi điều kiện để phụ nữ tham gia vào xã hội.
Điều 77: Hôn nhân và gia đình được nhà nước bảo vệ. Nhà nước dành sự quan tâm sâu sắc đến việc củng cố gia đình, vốn là đơn vị sinh hoạt cơ sở của xã hội.
Điều 78: Công dân được bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể và nhà ở, bảo mật thư tín. Không ai bị tạm giữ hoặc bắt giữ, và nhà ở không bị khám xét nếu không căn cứ vào pháp luật.
Điều 79: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên bảo hộ những người nước ngoài lánh nạn đến nước mình do đấu tranh vì hòa bình và dân chủ, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hoặc vì tự do hoạt động khoa học, văn hóa.
Điều 80: Công dân phải kiên quyết bảo vệ sự thống nhất và đoàn kết chính trị, tư tưởng của nhân dân. Công dân phải trân trọng tổ chức và tập thể, phát huy mạnh mẽ tác phong làm việc quên mình vì xã hội và nhân dân.
Điều 81: Công dân phải tuân thủ pháp luật của nhà nước và các quy phạm đời sống xã hội chủ nghĩa, giữ gìn vinh dự và tôn nghiêm của một công dân Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên.
Điều 82: Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng và vinh dự của công dân. Công dân phải tự giác, thành thực tham gia lao động, nghiêm chỉnh chấp hành kỷ luật lao động và giờ giấc lao động.
Điều 83: Công dân phải trân trọng và yêu quý tài sản nhà nước và tài sản của tổ chức hợp tác xã hội, đấu tranh chống lại mọi hiện tượng tham ô, lãng phí, và quán xuyến việc chi tiêu của đất nước một cách tiết kiệm với tinh thần làm chủ. Tài sản của nhà nước và tổ chức hợp tác xã hội là bất khả xâm phạm.
Điều 84: Công dân phải luôn nâng cao cảnh giác cách mạng, xả thân đấu tranh vì an ninh của quốc gia.
Điều 85: Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ và vinh dự lớn nhất của công dân. Công dân phải bảo vệ Tổ quốc và thực hiện nghĩa vụ quân sự theo quy định của pháp luật.
CHƯƠNG VI: CƠ QUAN NHÀ NƯỚC
Mục 1: Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
Điều 86: Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên là Nguyên thủ quốc gia đại diện cho nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên.
Điều 87: Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên do Hội nghị Nhân dân Tối cao bầu ra theo tổng ý chí của toàn thể nhân dân Triều Tiên. Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên không bầu làm Đại biểu Hội nghị Nhân dân Tối cao.
Điều 88: Nhiệm kỳ của Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên trùng với nhiệm kỳ của Hội nghị Nhân dân Tối cao.
Điều 89: Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên giữ chức Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, chỉ huy và thống lĩnh toàn bộ lực lượng vũ trang của nhà nước. Quyền chỉ huy đối với lực lượng vũ trang hạt nhân của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên thuộc về Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên. Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên cũng có thể ủy quyền sử dụng lực lượng hạt nhân cho cơ quan chỉ huy lực lượng hạt nhân quốc gia.
Dưới đây là bản dịch đầy đủ, chính xác và giữ nguyên cấu trúc toàn bộ phần văn bản tiếp theo của bạn:
Điều 90: Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên có các thẩm quyền sau đây:
Lãnh đạo công tác tổng thể của nhà nước.
Trong thời gian Hội nghị Nhân dân Tối cao bế mạc, đình chỉ công tác hoặc bổ nhiệm, miễn nhiệm các cán bộ quan trọng của nhà nước, bao gồm Chủ tịch Hội nghị Nhân dân Tối cao và Thủ tướng Nội các.
Cho từ nhiệm đối với Đại biểu Hội nghị Nhân dân Tối cao đã mất đi sự tín nhiệm của nhân dân.
Thực hiện quyền phủ quyết trong trường hợp các sắc luật, sắc lệnh, quyết định, chỉ thị do Hội nghị Nhân dân Tối cao hoặc Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao thông qua không phù hợp với sự phát triển của quốc gia và yêu cầu của nhân dân.
Trao tặng khen thưởng nhà nước cho các đối tượng lập được công lao đặc biệt xuất sắc.
Tiếp nhận quốc thư của đại diện ngoại giao nước ngoài.
Bổ nhiệm hoặc triệu hồi đại diện ngoại giao cử sang nước ngoài.
Phê chuẩn hoặc hủy bỏ các hiệp ước quan trọng ký kết với nước ngoài.
Thực hiện quyền đặc xá.
Tuyên bố tình trạng khẩn cấp, tình trạng chiến tranh và lệnh động viên của đất nước.
Tổ chức và lãnh đạo Ủy ban Phòng thủ Quốc gia trong thời chiến.
Điều 91: Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên ban hành mệnh lệnh và tinh lệnh.
Mục 2: Hội nghị Nhân dân Tối cao
Điều 92: Hội nghị Nhân dân Tối cao là cơ quan chủ quyền cao nhất của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên.
Điều 93: Hội nghị Nhân dân Tối cao thực hiện quyền lập pháp. Trong thời gian Hội nghị Nhân dân Tối cao bế mạc, Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao cũng có thể thực hiện quyền lập pháp.
Điều 94: Hội nghị Nhân dân Tối cao cấu thành từ các đại biểu được bầu cử bằng bỏ phiếu kín theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông, bình đẳng và trực tiếp.
Điều 95: Nhiệm kỳ của Hội nghị Nhân dân Tối cao là 5 năm. Cuộc bầu cử mới của Hội nghị Nhân dân Tối cao được tiến hành trước khi nhiệm kỳ của Hội nghị Nhân dân Tối cao kết thúc theo quyết định của Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao. Trong trường hợp bất khả kháng không thể tiến hành bầu cử, nhiệm kỳ sẽ được kéo dài cho đến khi cuộc bầu cử được thực hiện.
Điều 96: Hội nghị Nhân dân Tối cao có các thẩm quyền sau đây:
Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp.
Ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung các luật chuyên ngành.
Phê chuẩn các luật chuyên ngành quan trọng do Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao thông qua trong thời gian Hội nghị Nhân dân Tối cao bế mạc.
Xác lập các nguyên tắc cơ bản trong chính sách đối nội và đối ngoại của nhà nước.
Bầu Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên.
Bầu hoặc bãi miễn Phó Chủ tịch thứ nhất, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên Ủy ban Quốc vụ theo đề nghị của Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên.
Bầu hoặc bãi miễn Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội nghị Nhân dân Tối cao.
Bầu hoặc bãi miễn Thư ký tòa, các Ủy viên của Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao.
Bầu hoặc bãi miễn Thủ tướng Nội các.
Bổ nhiệm 또는 miễn nhiệm Phó Thủ tướng thứ nhất, các Phó Thủ tướng, Chủ tịch các Ủy ban, Bộ trưởng và các thành viên khác của Nội các theo đề nghị của Thủ tướng Nội các.
Bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm Viện trưởng Viện Kiểm sát Tối cao.
Bầu hoặc bãi miễn Chánh án Tòa án Tối cao.
Bầu hoặc bãi miễn Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên các Ủy ban chuyên trách của Hội nghị Nhân dân Tối cao.
Thẩm định và phê chuẩn báo cáo về kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân của nhà nước và tình hình thực hiện kế hoạch đó.
Thẩm định và phê chuẩn báo cáo về ngân sách nhà nước và tình hình quyết toán ngân sách đó.
Thành lập hoặc giải thể các Ủy ban thuộc Nội các, các Bộ.
Nghe báo cáo về tình hình công tác của Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao, Nội các, Viện Kiểm sát Tối cao, Tòa án Tối cao và đề ra các biện pháp giải quyết.
Quyết định việc phê chuẩn, hủy bỏ các hiệp ước được trình lên Hội nghị Nhân dân Tối cao.
Điều 97: Hội nghị Nhân dân Tối cao họp các kỳ họp thường kỳ và kỳ họp bất thường. Kỳ họp thường kỳ do Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao triệu tập mỗi năm 2 lần. Kỳ họp bất thường được triệu tập khi Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao xét thấy cần thiết hoặc khi có yêu cầu của từ một phần ba tổng số đại biểu trở lên.
Điều 98: Kỳ họp Hội nghị Nhân dân Tối cao được hợp thành khi có từ hai phần ba tổng số đại biểu trở lên tham dự.
Điều 99: Chủ tịch Hội nghị Nhân dân Tối cao chủ trì kỳ họp, trường hợp Chủ tịch vắng mặt thì Phó Chủ tịch chủ trì.
Điều 100: Các nghị án thảo luận tại Hội nghị Nhân dân Tối cao do Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Ủy ban Quốc vụ, Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao, Nội các và các Ủy ban chuyên trách của Hội nghị Nhân dân Tối cao trình lên. Các đại biểu cũng có thể trình nghị án.
Điều 101: Hội nghị Nhân dân Tối cao ban hành sắc luật và quyết định. Các sắc luật và quyết định do Hội nghị Nhân dân Tối cao ban hành được thông qua khi có quá nửa số đại biểu tham dự kỳ họp tán thành. Hiến pháp được sửa đổi, bổ sung khi có từ hai phần ba tổng số đại biểu Hội nghị Nhân dân Tối cao trở lên tán thành.
Điều 102: Hội nghị Nhân dân Tối cao thành lập các Ủy ban chuyên trách như Ủy ban Pháp chế, Ủy ban Ngân sách, Ủy ban Đối ngoại. Ủy ban chuyên trách của Hội nghị Nhân dân Tối cao cấu thành từ Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên. Ủy ban chuyên trách của Hội nghị Nhân dân Tối cao có nhiệm vụ hỗ trợ công tác của Hội nghị Nhân dân Tối cao, soạn thảo, thẩm định các dự thảo chính sách và dự thảo luật của nhà nước, đồng thời thiết lập các biện pháp để thực hiện các dự thảo đó. Trong thời gian Hội nghị Nhân dân Tối cao bế mạc, các Ủy ban chuyên trách của Hội nghị Nhân dân Tối cao hoạt động dưới sự chỉ đạo của Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao.
Điều 103: Đại biểu Hội nghị Nhân dân Tối cao được bảo đảm quyền bất khả xâm phạm. Đại biểu Hội nghị Nhân dân Tối cao không bị bắt giữ hoặc bị xử lý hình sự nếu không có sự đồng ý của Hội nghị Nhân dân Tối cao, hoặc trong thời gian bế mạc là sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao, ngoại trừ trường hợp phạm tội quả tang.
Mục 3: Ủy ban Quốc vụ
Điều 104: Ủy ban Quốc vụ là cơ quan lãnh đạo chính sách cao nhất của chủ quyền nhà nước.
Điều 105: Ủy ban Quốc vụ cấu thành từ Chủ tịch, Phó Chủ tịch thứ nhất, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên.
Điều 106: Nhiệm kỳ của Ủy ban Quốc vụ trùng với nhiệm kỳ của Hội nghị Nhân dân Tối cao.
Điều 107: Ủy ban Quốc vụ có các nhiệm vụ và thẩm quyền sau đây:
Thảo luận và quyết định các chính sách quan trọng của nhà nước.
Giám sát tình hình thực hiện mệnh lệnh, tinh lệnh của Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, quyết định, chỉ thị của Ủy ban Quốc vụ và đề ra các biện pháp giải quyết.
Hủy bỏ các quyết định, chỉ thị của các cơ quan nhà nước đi ngược lại với mệnh lệnh, tinh lệnh của Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, quyết định, chỉ thị của Ủy ban Quốc vụ.
Trong thời gian Hội nghị Nhân dân Tối cao bế mạc, bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm Phó Thủ tướng thứ nhất, các Phó Thủ tướng, Chủ tịch các Ủy ban, Bộ trưởng và các thành viên khác của Nội các theo đề nghị của Thủ tướng Nội các.
Điều 108: Ủy ban Quốc vụ ban hành quyết định và chỉ thị.
Mục 4: Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao
Điều 109: Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao là cơ quan chủ quyền cao nhất trong thời gian Hội nghị Nhân dân Tối cao bế mạc.
Điều 110: Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao cấu thành từ Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Thư ký tòa và các Ủy viên. Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội nghị Nhân dân Tối cao kiêm nhiệm chức vụ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao.
Điều 111: Nhiệm kỳ của Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao trùng với nhiệm kỳ của Hội nghị Nhân dân Tối cao. Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao tiếp tục thực hiện nhiệm vụ của mình sau khi nhiệm kỳ của Hội nghị Nhân dân Tối cao kết thúc cho đến khi Ủy ban Thường vụ mới được bầu ra.
Điều 112: Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao có các nhiệm vụ và thẩm quyền sau đây:
Triệu tập Hội nghị Nhân dân Tối cao.
Thẩm định và thông qua các dự thảo luật chuyên ngành, dự thảo quy định mới và các dự thảo sửa đổi, bổ sung luật chuyên ngành, quy định hiện hành được trình lên trong thời gian Hội nghị Nhân dân Tối cao bế mạc; đồng thời trình Hội nghị Nhân dân Tối cao kỳ họp tiếp theo phê chuẩn các luật chuyên ngành quan trọng đã được thông qua và thực hiện.
Trong thời gian bế mạc, thẩm định và phê chuẩn kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân, ngân sách nhà nước và các phương án điều chỉnh ngân sách do các hoàn cảnh bất khả kháng.
Giải thích Hiến pháp, các luật chuyên ngành và quy định hiện hành.
Giám sát việc tuân thủ và thi hành pháp luật của các cơ quan nhà nước và đề ra các biện pháp giải quyết.
Hủy bỏ các quyết định, chỉ thị của các cơ quan nhà nước trái với Hiến pháp, mệnh lệnh, tinh lệnh của Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, sắc luật, quyết định của Hội nghị Nhân dân Tối cao, quyết định, chỉ thị của Ủy ban Quốc vụ, sắc lệnh, quyết định, chỉ thị của Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao; đình chỉ việc thi hành các quyết định sai trái của Hội nghị Nhân dân địa phương.
Thực hiện công tác bầu cử Đại biểu Hội nghị Nhân dân Tối cao và tổ chức công tác bầu cử Đại biểu Hội nghị Nhân dân địa phương.
Thực hiện công tác đối với các Đại biểu Hội nghị Nhân dân Tối cao.
Thực hiện công tác đối với các Ủy ban chuyên trách của Hội nghị Nhân dân Tối cao.
Thành lập hoặc giải thể các Ủy ban thuộc Nội các, các Bộ trong thời gian Hội nghị Nhân dân Tối cao bế mạc.
Trong thời gian Hội nghị Nhân dân Tối cao bế mạc, bầu hoặc bãi miễn Phó Chủ tịch Hội nghị Nhân dân Tối cao, Thư ký tòa, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao, thành viên các Ủy ban chuyên trách của Hội nghị Nhân dân Tối cao; bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm thành viên các Ủy ban thuộc Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao.
Bầu hoặc bãi miễn Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân của Tòa án Tối cao.
Quyết định việc phê chuẩn, hủy bỏ các hiệp ước được trình lên Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao.
Lãnh đạo công tác chủ quyền của Ủy ban Nhân dân địa phương.
Quy định các loại huân chương, huy chương, danh hiệu danh dự, hàm cấp ngoại giao; thực hiện trao tặng huân chương, huy chương và danh hiệu danh dự.
Thực hiện quyền đại xá.
Thành lập hoặc thay đổi các đơn vị hành chính và địa giới hành chính.
Thực hiện các công tác đối ngoại, bao gồm công tác với Quốc hội các nước khác và các tổ chức liên nghị viện quốc tế.
Điều 113: Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao tổ chức Hội nghị toàn thể và Hội nghị thường vụ. Hội nghị toàn thể cấu thành từ toàn bộ các Ủy viên; Hội nghị thường vụ cấu thành từ Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và Thư ký tòa. Những vấn đề quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ và thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao được thảo luận và quyết định tại Hội nghị toàn thể, các vấn đề khác được thảo luận và quyết định tại Hội nghị thường vụ.
Điều 114: Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao ban hành sắc lệnh, quyết định và chỉ thị.
Điều 115: Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao có thể thành lập các Ủy ban chuyên trách để hỗ trợ công tác của mình.
Điều 116: Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao chịu trách nhiệm về công tác của mình trước Hội nghị Nhân dân Tối cao.
Mục 5: Nội các
Điều 117: Nội các là cơ quan hành chính chấp hành của chủ quyền nhà nước, đồng thời là cơ quan quản lý nhà nước tổng thể.
Điều 118: Nội các cấu thành từ Thủ tướng, Phó Thủ tướng thứ nhất, các Phó Thủ tướng, Chủ tịch các Ủy ban, Bộ trưởng và các thành viên cần thiết khác. Nhiệm kỳ của Nội các trùng với nhiệm kỳ của Hội nghị Nhân dân Tối cao.
Điều 119: Nội các có các nhiệm vụ và thẩm quyền sau đây:
Đề ra các biện pháp để thực hiện chính sách của nhà nước.
Ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến quản lý nhà nước trên cơ sở Hiến pháp và các luật chuyên ngành.
Lãnh đạo công tác của các Ủy ban thuộc Nội các, các Bộ, các cơ quan trực thuộc Nội các và Hội nghị Nhân dân địa phương.
Thành lập hoặc giải thể các cơ quan trực thuộc Nội các, các cơ quan kinh tế hành chính quan trọng, các xí nghiệp và đề ra các biện pháp nhằm cải tiến bộ máy quản lý nhà nước.
Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân của nhà nước và đề ra các biện pháp thực hiện kế hoạch đó.
Lập ngân sách nhà nước và đề ra các biện pháp chấp hành ngân sách đó.
Tổ chức thực hiện công tác trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, thương mại, ngoại thương, quản lý đất đai, quản lý đô thị, giáo dục, khoa học, văn hóa, y tế, thể dục thể thao, quản lý lao động, bảo vệ môi trường, du lịch và nhiều lĩnh vực khác.
Đề ra các biện pháp nhằm củng cố hệ thống tiền tệ và ngân hàng.
Thực hiện công tác thanh tra, kiểm soát nhằm thiết lập trật tự quản lý nhà nước.
Đề ra các biện pháp duy trì trật tự xã hội, bảo vệ sở hữu và lợi ích của nhà nước cũng như của các tổ chức hợp tác xã hội, bảo đảm quyền lợi của công dân.
Ký kết hiệp ước với nước ngoài và thực hiện các công tác đối ngoại.
Hủy bỏ các quyết định, chỉ thị của các cơ quan kinh tế hành chính trái với quyết định, nghị định hành chính, chỉ thị của Nội các.
Điều 120: Thủ tướng Nội các tổ chức và lãnh đạo công tác của Nội các. Thủ tướng Nội các đại diện cho Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên.
Điều 121: Nội các tổ chức Hội nghị toàn thể và Hội nghị thường vụ. Hội nghị toàn thể Nội các cấu thành từ toàn thể các thành viên Nội các; Hội nghị thường vụ cấu thành từ Thủ tướng, Phó Thủ tướng thứ nhất, các Phó Thủ tướng và các thành viên Nội các khác do Thủ tướng bổ nhiệm.
Điều 122: Nội các ban hành quyết định, nghị định hành chính và chỉ thị.
Điều 123: Nội các có thể thành lập các Ủy ban chuyên trách phi thường trực để hỗ trợ công tác của mình.
Điều 124: Nội các chịu trách nhiệm về công tác của mình trước Hội nghị Nhân dân Tối cao, và trong thời gian Hội nghị Nhân dân Tối cao bế mạc thì chịu trách nhiệm trước Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao.
Điều 125: Thủ tướng Nội các mới được bầu đại diện cho các thành viên Nội các tuyên thệ trước Hội nghị Nhân dân Tối cao.
Điều 126: Các Ủy ban thuộc Nội các, các Bộ là cơ quan chấp hành theo từng lĩnh vực của Nội các, đồng thời là cơ quan quản lý chuyên ngành của trung ương.
Điều 127: Các Ủy ban thuộc Nội các, các Bộ nắm giữ và lãnh đạo, quản lý một cách thống nhất công tác của lĩnh vực tương ứng dưới sự lãnh đạo của Nội các.
Điều 128: Các Ủy ban thuộc Nội các, các Bộ vận hành Hội nghị ủy ban và Hội nghị cán bộ. Tại Hội nghị ủy ban và Hội nghị cán bộ, các biện pháp thực hiện quyết định, nghị định hành chính, chỉ thị của Nội các cùng các vấn đề quan trọng khác được thảo luận và quyết định.
Điều 129: Các Ủy ban thuộc Nội các, các Bộ và các cơ quan trực thuộc Nội các thực hiện chức năng quản lý chuyên ngành ban hành chỉ thị.
Mục 6: Hội nghị Nhân dân địa phương
Dưới đây là bản dịch đầy đủ, chính xác và giữ nguyên cấu trúc toàn bộ phần còn lại của văn bản:
Điều 130: Hội nghị Nhân dân Tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương), Thành phố (quận), Huyện là cơ quan chủ quyền địa phương.
Điều 131: Hội nghị Nhân dân địa phương cấu thành từ các đại biểu được bầu cử bằng bỏ phiếu kín theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông, bình đẳng và trực tiếp.
Điều 132: Nhiệm kỳ của Hội nghị Nhân dân Tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương), Thành phố (quận), Huyện là 4 năm. Cuộc bầu cử mới của Hội nghị Nhân dân địa phương được tiến hành trước khi nhiệm kỳ của Hội nghị Nhân dân địa phương kết thúc theo quyết định của Ủy ban Nhân dân địa phương tương ứng. Trong trường hợp bất khả kháng không thể tiến hành bầu cử, nhiệm kỳ sẽ được kéo dài cho đến khi cuộc bầu cử được thực hiện.
Điều 133: Hội nghị Nhân dân địa phương có các nhiệm vụ và thẩm quyền sau đây:
Thẩm định và phê chuẩn báo cáo về kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân của địa phương và tình hình thực hiện kế hoạch đó.
Thẩm định và phê chuẩn báo cáo về ngân sách địa phương và tình hình quyết toán ngân sách đó.
Đề ra các biện pháp nhằm thi hành pháp luật của nhà nước tại địa phương tương ứng.
Bầu hoặc bãi miễn Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên của Ủy ban Nhân dân tương ứng.
Hủy bỏ các quyết định, chỉ thị sai trái của Ủy ban Nhân dân tương ứng, của Hội nghị Nhân dân và Ủy ban Nhân dân cấp dưới.
Nghe báo cáo về tình hình công tác của các cơ quan cấp Tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương), Thành phố (quận), Huyện thuộc Ủy ban Nhân dân tương ứng và đề ra các biện pháp giải quyết.
Điều 134: Hội nghị Nhân dân địa phương họp các kỳ họp thường kỳ và kỳ họp bất thường. Kỳ họp thường kỳ do Ủy ban Nhân dân tương ứng triệu tập mỗi năm từ 1 đến 2 lần. Kỳ họp bất thường được triệu tập khi Ủy ban Nhân dân tương ứng xét thấy cần thiết hoặc khi có yêu cầu của từ một phần ba tổng số đại biểu trở lên.
Điều 135: Kỳ họp Hội nghị Nhân dân địa phương được hợp thành khi có từ hai phần ba tổng số đại biểu trở lên tham dự.
Điều 136: Hội nghị Nhân dân địa phương bầu Chủ tịch và Phó Chủ tịch. Chủ tịch chủ trì kỳ họp. Trường hợp Chủ tịch vắng mặt thì Phó Chủ tịch chủ trì kỳ họp.
Điều 137: Hội nghị Nhân dân địa phương ban hành quyết định.
Mục 7: Ủy ban Nhân dân địa phương
Điều 138: Ủy ban Nhân dân Tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương), Thành phố (quận), Huyện là cơ quan chủ quyền địa phương trong thời gian Hội nghị Nhân dân tương ứng bế mạc, đồng thời là cơ quan chấp hành hành chính của chủ quyền địa phương tương ứng.
Điều 139: Ủy ban Nhân dân địa phương cấu thành từ Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên. Nhiệm kỳ của Ủy ban Nhân dân địa phương trùng với nhiệm kỳ của Hội nghị Nhân dân tương ứng.
Điều 140: Ủy ban Nhân dân địa phương có các nhiệm vụ và thẩm quyền sau đây:
Triệu tập Hội nghị Nhân dân.
Thực hiện công tác bầu cử Đại biểu Hội nghị Nhân dân.
Thực hiện công tác đối với các Đại biểu Hội nghị Nhân dân.
Bầu hoặc bãi miễn Phó Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên của Ủy ban Nhân dân tương ứng trong thời gian Hội nghị Nhân dân bế mạc.
Bầu hoặc bãi miễn Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân của Tòa án tương ứng trong thời gian Hội nghị Nhân dân bế mạc.
Thi hành mệnh lệnh, tinh lệnh của Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên; sắc luật, quyết định của Hội nghị Nhân dân Tối cao; quyết định, chỉ thị của Ủy ban Quốc vụ; sắc lệnh, quyết định, chỉ thị của Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao; quyết định, nghị định hành chính, chỉ thị của Nội các; chỉ thị của các Ủy ban thuộc Nội các, các Bộ và các cơ quan trực thuộc Nội các thực hiện chức năng quản lý chuyên ngành; quyết định, chỉ thị của Hội nghị Nhân dân địa phương tương ứng và của Hội nghị Nhân dân cấp trên.
Tổ chức thực hiện toàn bộ công tác hành chính của địa phương tương ứng.
Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân của địa phương và đề ra các biện pháp thực hiện kế hoạch đó.
Lập ngân sách địa phương và đề ra các biện pháp chấp hành ngân sách đó.
Đề ra các biện pháp duy trì trật tự xã hội, bảo vệ sở hữu và lợi ích của nhà nước cũng như của các tổ chức hợp tác xã hội, bảo đảm quyền lợi của công dân tại địa phương tương ứng.
Thực hiện công tác thanh tra, kiểm soát nhằm thiết lập trật tự quản lý nhà nước tại địa phương tương ứng.
Lãnh đạo công tác của Ủy ban Nhân dân cấp dưới.
Hủy bỏ các quyết định, chỉ thị sai trái của Ủy ban Nhân dân cấp dưới; đình chỉ việc thi hành các quyết định sai trái của Hội nghị Nhân dân cấp dưới.
Điều 141: Ủy ban Nhân dân địa phương tổ chức Hội nghị toàn thể và Hội nghị thường vụ. Hội nghị toàn thể Ủy ban Nhân dân địa phương cấu thành từ toàn bộ các Ủy viên; Hội nghị thường vụ cấu thành từ Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và Thư ký. Những vấn đề quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ và thẩm quyền của Ủy ban Nhân dân địa phương được thảo luận và quyết định tại Hội nghị toàn thể, các vấn đề khác được thảo luận và quyết định tại Hội nghị thường vụ.
Điều 142: Ủy ban Nhân dân địa phương ban hành quyết định và chỉ thị.
Điều 143: Ủy ban Nhân dân địa phương có thể thành lập các Ủy ban chuyên trách phi thường trực để hỗ trợ công tác của mình.
Điều 144: Ủy ban Nhân dân địa phương chịu trách nhiệm về công tác của mình trước Hội nghị Nhân dân tương ứng. Ủy ban Nhân dân địa phương hoạt động dưới sự chỉ đạo của Ủy ban Nhân dân cấp trên, Nội các và Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao.
Mục 8: Viện Kiểm sát và Tòa án
Điều 145: Viện Kiểm sát là cơ quan giám sát việc tuân thủ pháp luật và khởi tố của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên.
Điều 146: Công tác kiểm sát do Viện Kiểm sát Tối cao, Viện Kiểm sát Tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương), Thành phố (quận), Huyện và Viện Kiểm sát đặc biệt thực hiện.
Điều 147: Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện Kiểm sát Tối cao trùng với nhiệm kỳ của Hội nghị Nhân dân Tối cao.
Điều 148: Kiểm sát viên do Viện Kiểm sát Tối cao bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm.
Điều 149: Viện Kiểm sát thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
Giám sát các cơ quan, xí nghiệp, tổ chức và công dân có tuân thủ chính xác pháp luật của nhà nước hay không.
Giám sát các quyết định, chỉ thị của các cơ quan nhà nước có trái với Hiến pháp, mệnh lệnh, tinh lệnh của Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên; sắc luật, quyết định của Hội nghị Nhân dân Tối cao; quyết định, chỉ thị của Ủy ban Quốc vụ; sắc lệnh, quyết định, chỉ thị của Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao; quyết định, nghị định hành chính, chỉ thị của Nội các hay không.
Bảo vệ chủ quyền, chế độ xã hội chủ nghĩa, tài sản của nhà nước và của các tổ chức hợp tác xã hội, các quyền theo Hiến pháp cùng tính mạng, tài sản của nhân dân thông qua việc phát giác tội phạm cùng các hành vi vi phạm pháp luật khác và truy cứu trách nhiệm pháp lý.
Điều 150: Công tác kiểm sát do Viện Kiểm sát Tối cao lãnh đạo một cách thống nhất, tất cả các Viện Kiểm sát đều phục tùng Viện Kiểm sát cấp trên và Viện Kiểm sát Tối cao.
Điều 151: Viện Kiểm sát Tối cao ban hành chỉ thị.
Điều 152: Viện Kiểm sát Tối cao chịu trách nhiệm về công tác của mình trước Hội nghị Nhân dân Tối cao, và trong thời gian Hội nghị Nhân dân Tối cao bế mạc thì chịu trách nhiệm trước Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao.
Điều 153: Tòa án là cơ quan xét xử của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên.
Điều 154: Việc xét xử do Tòa án Tối cao, Tòa án Tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương), Tòa án Nhân dân Thành phố (quận), Huyện và Tòa án đặc biệt thực hiện. Phán quyết được tuyên dưới danh nghĩa của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên.
Điều 155: Nhiệm kỳ của Chánh án Tòa án Tối cao trùng với nhiệm kỳ của Hội nghị Nhân dân Tối cao. Nhiệm kỳ của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân của Tòa án Tối cao, Tòa án Tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương), Tòa án Nhân dân Thành phố (quận), Huyện trùng với nhiệm kỳ của Hội nghị Nhân dân tương ứng.
Điều 156: Chánh án và Thẩm phán của Tòa án đặc biệt do Tòa án Tối cao bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm.
Điều 157: Tòa án thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
Bảo vệ chủ quyền, chế độ xã hội chủ nghĩa, tài sản của nhà nước và của các tổ chức hợp tác xã hội, các quyền theo Hiến pháp cùng tính mạng, tài sản của nhân dân thông qua các hoạt động xét xử.
Bảo đảm để tất cả các cơ quan, xí nghiệp, tổ chức và công dân tuân thủ chính xác pháp luật của nhà nước, tích cực đấu tranh chống lại kẻ thù giai cấp và mọi hành vi vi phạm pháp luật.
Thi hành các bản án, quyết định đối với tài sản và thực hiện công tác công chứng.
Điều 158: Việc xét xử do Hội đồng xét xử gồm 1 Thẩm phán và 2 Hội thẩm nhân dân thực hiện. Trong trường hợp đặc biệt, Hội đồng xét xử có thể cấu thành từ 3 Thẩm phán.
Điều 159: Việc xét xử được tiến hành công khai và bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo. Việc xét xử có thể không công khai theo quy định của pháp luật.
Điều 160: Việc xét xử được tiến hành bằng tiếng Triều Tiên. Người nước ngoài có thể sử dụng tiếng nước mình tại phiên tòa.
Điều 161: Tòa án độc lập trong xét xử và thực hiện hoạt động xét xử theo quy định của pháp luật.
Điều 162: Tòa án Tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên. Tòa án Tối cao giám sát công tác xét xử của tất cả các Tòa án.
Điều 163: Tòa án Tối cao ban hành chỉ thị.
Điều 164: Tòa án Tối cao chịu trách nhiệm về công tác của mình trước Hội nghị Nhân dân Tối cao, và trong thời gian Hội nghị Nhân dân Tối cao bế mạc thì chịu trách nhiệm trước Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao.
CHƯƠNG VII: QUỐC HUY, QUỐC KỲ, QUỐC CA, THỦ ĐÔ
Điều 165: Quốc huy của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên hình bầu dục, phía dưới là hình ảnh một đập thủy điện hùng vĩ nằm trong khung viền dệt bằng những bông lúa mì, được quấn quanh bởi một dải băng đỏ có ghi chữ "Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên". Phía trên đập thủy điện là núi Paektu (Bạch Đầu) - ngọn núi thiêng của cách mạng, và trên cùng là một ngôi sao đỏ năm cánh tỏa sáng rực rỡ.
Điều 166: Quốc kỳ của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên có một ngôi sao đỏ năm cánh nằm trong một hình tròn màu trắng thiên về phía cán cờ. Phần nền cờ có một ngôi sao đỏ năm cánh trên dải màu đỏ rộng ở giữa, hai dải màu trắng nhỏ ở viền trên và dưới dải màu đỏ, tiếp theo là hai dải màu xanh lam lớn ngoài cùng. Tỷ lệ giữa chiều dọc và chiều ngang của quốc kỳ là 1:1,65.
Điều 167: Quốc ca của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên là bài ca tụng của toàn thể nhân dân, chứa đựng niềm tin ái quốc và ý chí kiên quyết bảo vệ, làm rạng danh mãi mãi qua các thế hệ vẻ đẹp thiên nhiên, lịch sử lâu đời, nền văn hóa rực rỡ và truyền thống đấu tranh vinh quang của Tổ quốc ta; đồng thời quyết tâm xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Triều Tiên thành đất nước vĩnh cửu của nhân dân, một cường quốc tầm cỡ thế giới, vang danh khắp muôn phương.
Điều 168: Thủ đô của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên là Bình Nhưỡng (Pyongyang).