Giới giáo sĩ bảo vệ chiến tranh

 


Thực tế, bối cảnh hai năm qua đã cho thấy sự cận kề của một cuộc đụng độ giữa phe Mỹ và đồng minh với một bên là Iran. Điều duy nhất không thể nói trước là khi nào, ở đâu và dưới hình thức nào nó sẽ bắt đầu. Dù thế nào đi nữa, một thực tế là kể từ ngày 28 tháng 2, nhân loại đã có hai điểm nóng chiến tranh thế giới khá lớn: một ở Ukraine và thứ hai ở Trung Đông.

Mặc dù các sự kiện chưa cung cấp đủ tư liệu để phân tích sâu rộng về cuộc chiến, nhưng hiện tại có thể khẳng định những điều sau: Cuộc chiến giữa Mỹ và Iran là phi nghĩa và mang tính đế quốc từ cả hai phía. Bất kể ai là người nổ súng trước, điều quan trọng chính là sự đối đầu giữa các tập đoàn tư bản Mỹ (đang tham vọng thống trị thế giới) và chủ nghĩa đế quốc Iran đang lớn mạnh (đang tìm cách "kiểm soát", tức là cướp bóc toàn bộ Trung Đông, từ Lebanon đến biên giới Ấn Độ, đặc biệt là vùng vịnh Ba Tư giàu dầu mỏ).

Cả hai quốc gia đều là những cường quốc tư bản hung hăng, nơi giai cấp tư sản đang quan tâm đến chiến tranh như một phương tiện để giải quyết các vấn đề kinh tế và chính trị thông qua việc chiếm đoạt bên ngoài và đấu tranh chia lại thế giới. Sự khác biệt là: chủ nghĩa đế quốc Mỹ già cỗi đã không ngừng chính sách xâm lược từ cuối thế kỷ XIX, còn tư bản Iran trẻ tuổi đã lớn mạnh và đang đưa ra yêu sách về thị trường thế giới, thâm nhập "hòa bình" vào các nước Trung Đông để dọn đường cho sự bành trướng vũ trang.

Tình hình nội bộ và lực lượng đối lập

Tình hình nội bộ Iran đã được chính phủ Mỹ lợi dụng như một bối cảnh thuận tiện để tấn công quân sự trực tiếp. Chính bối cảnh này, với các yếu tố nội chiến giữa nhân dân và giai cấp tư sản Iran, đã bộc lộ sự bất ổn của tư bản tài chính Iran và cuộc khủng hoảng chung trầm trọng của toàn bộ hệ thống giáo sĩ tại đây.

Cuộc đấu tranh trên đường phố của người lao động Iran đã cho thấy sự yếu kém và chia rẽ của các lực lượng gọi là "đối lập" đòi cải cách dân chủ tư sản. Phe đối lập này bao gồm một dải giai cấp rộng lớn: từ đại diện tư bản "hoang dã" không nằm trong "siêu độc quyền của Thánh" cho đến những người cộng sản Iran. Điều này không tệ cho một mặt trận chống phát xít rộng rãi chống lại chính quyền Ayatollah, nhưng mặt trận này thiếu một nhà lãnh đạo dân chủ triệt để, có tổ chức chặt chẽ và chương trình rõ ràng, đủ uy tín để dẫn dắt nhân dân.

Vì lý do đó, phe đối lập buộc phải lôi ra từ "đống rác lịch sử" thứ duy nhất có sẵn: tàn tích của cựu Quốc vương (Shah) Iran và đoàn kết dưới lá cờ phản động đó. Việc đoàn kết dưới lá cờ này không dẫn đến một cuộc chiến giải phóng chính nghĩa, mà chỉ dẫn đến sự thất bại của các lực lượng yêu nước, một chế độ bù nhìn phụ thuộc vào Mỹ, một dạng phát xít "thế tục" hơn và sự tham gia của đất nước vào phe Mỹ trong một cuộc chiến cướp bóc trong tương lai.

Khả năng chuyển hóa thành chiến tranh chính nghĩa

Liệu cuộc chiến đế quốc từ phía Iran có thể biến thành một cuộc chiến giải phóng dân tộc chính nghĩa không? Có thể, nếu đa số nhân dân lật đổ chính quyền phát xít của các tập đoàn tư sản của giới giáo sĩ Iran, loại bỏ hoàn toàn tàn dư của cựu vương, thiết lập chuyên chính cách mạng - dân chủ của công nhân và tiểu tư sản cùng các cơ quan quyền lực nhân dân tương ứng. Khi đó, cuộc chiến của phe đế quốc nhằm chia lại Trung Đông có thể trở thành cuộc chiến giải phóng toàn dân vì tự do, chủ quyền và độc lập dân tộc của Iran.


Mối liên hệ giữa chiến tranh và giới giáo quyền

Mối liên hệ nằm ở chỗ giáo hội Shia đóng vai trò phản động nhất trong cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản chống lại người lao động. Chủ nghĩa Marx xem xét tất cả các tôn giáo và giáo hội hiện đại như những cơ quan phản động tư sản, phục vụ việc bảo vệ sự bóc lột và làm mê muội giai cấp công nhân.

  • Trước cách mạng Hồi giáo: Các giáo sĩ (mullah) được chính quyền Shah và các công ty thương mại lớn nuôi dưỡng để đàn áp phong trào dân chủ, kêu gọi người lao động cam chịu nô lệ nhân danh thánh Allah.

  • Sau cách mạng: Vai trò đàn áp của giới giáo quyền tăng lên gấp bội. Họ tiếp quản lực lượng Vệ binh Cách mạng (IRGC) và đưa các giáo sĩ vào quân đội, nhà máy để giáo dục lòng trung thành cuồng tín.

Vai trò của tôn giáo trong chiến tranh

Tôn giáo đóng vai trò nổi bật trong việc kích động tâm lý sô-vanh (vị chủng). Các giáo sĩ mọi phe phái đều đoàn kết để khơi dậy tinh thần yêu nước cực đoan, dập tắt mọi tư tưởng tự do và nỗ lực chống lại tội ác của các tập đoàn đế quốc.

Chiến tranh gây ra ba luồng cảm xúc mạnh mẽ trong quần chúng:

  1. Sợ hãi và tuyệt vọng: Dẫn đến sự tăng cường tôn giáo ("Ở đâu có đau khổ, ở đó có tôn giáo").

  2. Hận thù "kẻ thù" bên ngoài: Cảm xúc được giai cấp tư sản cố tình kích động để trục lợi.

  3. Hận thù chính phủ và giai cấp tư sản của mình: Cảm xúc của tất cả công nhân giác ngộ.

Giới giáo quyền giúp giai cấp tư sản che giấu bản chất đế quốc của cuộc chiến bằng cách tuyên bố đó là cuộc chiến "bảo vệ tổ quốc" hoặc cuộc chiến "thánh thiện". Họ an ủi những người nô lệ của tư bản bằng hứa hẹn về thiên đường tương lai để ngăn cản họ tiến hành nội chiến chống lại chính phủ của mình.

Kết luận

Đúng như Feuerbach đã chỉ ra: kẻ nào an ủi người nô lệ thay vì thúc đẩy họ khởi nghĩa là kẻ giúp sức cho chủ nô. Những người cộng sản và công nhân giác ngộ phải thẳng thắn nói với nhân dân lao động rằng: xã hội tư bản là một nỗi kinh hoàng không hồi kết. Nếu cuộc chiến đế quốc này đang chuẩn bị một cái kết kinh hoàng cho xã hội đó, chúng ta không có lý do gì để tuyệt vọng. Bởi vì không xa nữa, chính vũ khí được chế tạo cho cuộc chiến đế quốc sẽ chĩa thẳng vào ngực những kẻ tổ chức và đặt hàng ra nó.