Mấy vấn về Con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Lý luận của Đảng ta thường kết luận như sau : Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam là quá trình quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, hướng tới xây dựng một xã hội "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, công nghiệp hóa - hiện đại hóa, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, và hội nhập quốc tế.
Kết luận này đúng không ? Đúng, nhưng phần đông cán bộ, đảng viên, trí thức marxist của chúng ta không hiểu một cách tường tận kết luận trên, vẫn mông lung và đặt ra nghi vấn cho con đường tương tai phía trước của cách mạng Việt Nam.
Vậy rốt cuộc cần phải diễn giải như thế nào để cán bộ, đảng viên, trí thức marxist của chúng ta hiểu rõ về con đường mà chúng ta đã, đang và sắp phải đi, và chính thế hệ trẻ chúng ta là những người tham gia đóng góp một phần to lớn trong sự nghiệp kiến tạo tương lai xã hội chủ nghĩa đó. Đây là một vấn đề cần phải được kiến giải, như một mối quan tâm hàng đầu.
1. Cuộc cách mạng thường trực và Cách mạng trong một quốc gia.
Các vị lãnh tụ vĩ đại, tiền bối của cách mạng vô sản thế giới Marx và Engels đã dự báo về cuộc cách mạng nổ ra ở châu Âu, nơi những nước tư bản tiên tiến nhất là Anh, Đức , .. sau đó dựa vào nền công nghiệp tiên tiến của các nước này làm lan rộng phong trào công nhân ra các vùng ngoại vi và phát triển thành cuộc cách mạng toàn cầu. Lev Trotsky cũng đã nhắc lại những lời đó của Marx và Engels. Những lời của các Marx và Engels tựa xét trên bối cảnh của chủ nghĩa tư bản giai đoạn tự do điều đó không có gì mà các bậc hậu bối cách mạng chúng ta phải đánh giá lại cả. Nhưng điều đó không khẳng định Lev Trotsky đúng. Thời đại mà Trotsky sống và thời đại Marx và Engels sống đã có sự thay đổi: chủ nghĩa tư bản đã đi từ tự do sang độc quyền. Sự vĩ đại của Lenin chính là ở chỗ, Người hơn hẳn Lev Trotsky về độ nhạy bén và khả năng tư duy, đã nhận ra sự chuyển mình của cả một thời đại, chủ nghĩa tư bản đi vào giai đoạn của chủ nghĩa đế quốc.
Những lời dự báo của Marx và Engels không sai, vì nó phù hợp trong thời đại của các ông, nhưng Chủ nghĩa Marx không phải là những thứ giáo điều sáo rỗng mà một số đồng chí chỉ biết nhại lại như những con vẹt mà không nhìn thấy những kim chỉ Nam mà nó mang lại. Lenin tỏa sáng như vì sao giữa bầu trời đêm đen, đứng giữa muôn trùng sự phản đối của hàng nghìn đảng viên khác, của hàng chục Đảng dân chủ xã hội khắp châu Âu, đã dõng dạc tuyên bố cho toàn thể giai cấp công nhân Nga và thế giới về một thời đại mới đã xảy ra trong giai đoạn phát triển của Chủ nghĩa tư bản, để mà từ đó vạch ra một con đường đưa Đảng của giai cấp công nhân Nga - đại biểu của họ là những người Bolshevik - thoát khỏi các phong trào cải lương và thoái trào của phong trào xã hội chủ nghĩa châu Âu vào đêm trước của chiến tranh đế quốc lần thứ nhất.
Lenin đã vạch ra một chân lý toàn diện và chói ngời - rằng Chủ nghĩa xã hội có thể giành lấy thắng lợi ở nước Nga - mắt xích yếu nhất trong hệ thống tư bản chủ nghĩa đế quốc toàn cầu.
Chính Lenin là người đặt những viên gạch đầu tiên cho lý luận về việc xây dựng Chủ nghĩa xã hội trong một quốc gia. Rằng nước Nga nông dân, với chính quyền Xô viết + điện khí hóa toàn quốc có thể tiến lên Chủ nghĩa cộng sản chứ không phải nước Đức tiên tiến.
2. Con đường quá độ bỏ qua giai đoạn phát triển chủ nghĩa tư bản.
Các vị tiền bối cách mạng đã dạy cho chúng ta rằng, sự phát triển tất yếu của loài người đi từ chủ nghĩa phong kiến lên chủ nghĩa tư bản tất yếu phải trãi qua cuộc cách mạng tư sản do giai cấp tư sản lãnh đạo. Điều này đúng và nó diễn ra khắp ở châu Âu trong suốt thế kỷ XVI - XIX.
Nhưng sự phát triển của phong trào cách mạng vô sản ở Nga năm 1905 dẫn đến cái gọi là Cuộc cách mạng dân chủ tư sản 1905 đã cho chúng ta thấy một con đường mới: cuộc cách mạng tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo và sự xuất hiện của chính quyền Xô viết đại biểu công nông ra đời - hạt nhân phôi thai của chính quyền cách mạng của chế độ mới.
Lenin - vị lãnh tụ của giai cấp vô sản Nga đã nhận ra ngay lập tức những dấu hiệu về con đường mới, một bước tiến vạn dặm cho cách mạng vô sản, rằng phong trào cách mạng của giai cấp vô sản Nga đã phát triển một cách vượt bậc đến một khả năng khác xa thời đại của Marx - Engels từng dự báo, rằng chính giai cấp vô sản Nga đảm đương cả những nhiệm vụ lịch sử mà trước đây lịch sử đã trao vào tay giai cấp tư sản, và từ đây khả năng quá độ bỏ qua giai đoạn chủ nghĩa tư bản xuất hiện.
Thực vậy, Cách mạng Nga 1905 đã thất bại, nhưng nó để lại muôn vàng bài học vô giá cho Cách mạng Tháng Hai 1917. Cách mạng tháng Hai nổ ra, giai cấp vô sản Nga đã giành lấy quyền lãnh đạo vào tay mình và thực hiện nhiệm vụ lịch sử - lật đổ ách thống trị của chế độ Nga hoàng - đồng thời tạo ra những điều kiện tiên quyết cho cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa vĩ đại bùng nổ vào tháng Mười 1917. Rằng từ đây, giai cấp vô sản Nga bỏ qua thời kỳ phát triển của chủ nghĩa tư bản - ngay lập tức giành lấy vận mệnh chính trị của mình - lật đổ chính phủ Lâm thời tư sản của Kerensky và tuyên bố quyền lực thuộc về các Xô viết đại biểu công nhân binh lính.
Những kẻ hề hước của phong trào xã hội dân chủ phương Tây và chống cộng rêu rao cái gọi là những người Bolshevik đã thất bại tại Quốc hội lập hiến nhưng không hề đặt vấn đề tối quan trọng là: Những người Bolshevik đã giành được chính quyền, nắm quyền lực tại Đại hội các Xô viết toàn Nga, thì họ quan tâm gì đến bầu cử Quốc hội lập hiến - 1 chính quyền của giai cấp tư sản lâm thời ?
Chính xác là như thế, Lenin ngay lập tức giải tán Quốc hội lập hiến với mong muốn: công bố cho toàn thế giới phương Tây biết rằng chính quyền Xô viết của giai cấp công nhân, nông dân và binh lính toàn Nga không chấp nhận cương lĩnh tư sản của Quốc hội lập hiến tư sản, rằng họ từ bỏ con đường kinh qua giai đoạn phát triển của Chủ nghĩa tư bản, rằng có thể từ nước Nga lạc hậu với Chính quyền Xô viết + điện khí hóa có thể sản sinh ra nước Nga xã hội chủ nghĩa của tương lai.
Đó là con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội mà vị lãnh tụ của giai cấp vô sản Nga và toàn thế giới - Vladimir Ilyich Lenin đã vạch ra.
Đó là con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội mà vị lãnh tụ của giai cấp vô sản Nga và toàn thế giới - Vladimir Ilyich Lenin đã vạch ra.
Đó cũng là tiền đề của việc khả năng về xây dựng Chủ nghĩa xã hội trong phạm vi một quốc gia đã được Đảng Cộn sản Bolshevik toàn Liên Bang đứng đầu là đồng chí Stalin kiên quyết tuân theo những lời chỉ bảo của Lenin và thực hiện đến cùng việc xây dựng Chế dộ xã hội xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô. Thực tiễn của cuộc cách mạng ở Liên Xô đã chứng minh Chủ nghĩa Lenin là đúng, còn Chủ nghĩa Trotsky là sai lầm, đó là thực tế lịch sử không thể đảo ngược.
3. Những nhận thức sai lầm
Có những đồng chí ủng hộ Trotsky ủng hộ lý luận Cách mạng Thường trực, chống lại Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trong phạm vi Quốc gia của Lenin. Có đồng chí coi trọng Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trong phạm vi Quốc gia, chống lại hoàn toàn Thuyết cách mạng Thường trực. Có đồng chí lại ủng hộ Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trong phạm vi quốc gia nhưng cũng ủng hộ Cách mạng Thường trực nhưng xem Liên Xô là Trung tâm cách mạng thế giới thay cho suy nghĩ xem Tây Âu là Trung tâm cách mạng như Trotsky (Chủ nghĩa Zinoviev - Bukharinist). Thực tiễn tồn tại của phong trào công nhân quốc tế đã chứng sự đa dạng trong việc nhận thức những vấn đề trên. Nhưng các quan niệm tuyệt đối hóa ở bên trên là những quan niệm sai lầm, và thậm chí trong nhiều giai đoạn, những quan niệm đó chiếm lĩnh chủ yếu trong nhận thức của nhiều đảng công nhân và cộng sản quốc tế trong một thời gian dài dẫn đế nhiều hệ lụy nghiêm trọng.
Thuyết Cách mạng Thường trực của Trotsky xem Tây Âu là Trung tâm cách mạng thế giới, là những lời sáo rỗng và giáo điều, nhại lại những lời Marx và Engels về Trung tâm Cách mạng thế giới trong những năm 18xx của thế kỷ XIX nhưng lại muốn áp dụng nó vào bối cảnh lịch sử của thế kỷ XX. Đó là sai lầm cơ bản và cực kỳ nghiêm trọng của Chủ nghĩa Trotsky. Xem nhẹ khả năng lịch sử của giai cấp vô sản Nga đối với sứ mệnh lịch sử xây dựng chủ nghĩa xã hội trong một nước, trông chờ vào thắng lợi của cách mạng ở Phương Tây, từ đó tự biến mình thành chướng ngại cho sự phát triển của phong trào cách mạng Nga nói riêng và của thế giới nói chung. Lịch sử cuộc cách mạng ở Liên Xô đã cho thấy tư tưởng của ông ta thất bại và bị thải loại khỏi nền chính trị vô sản ở nước Nga. Sự ủng hộ của Trotsky chỉ chiếm 4000 phiếu (chưa đầy 1%) so với sự ủng hộ của toàn thể Đảng đối với Stalin chiếm hơn 99% , tương ứng hơn 700.000 đảng viên tán thành đường lối của Stalin và Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Bolshevik Liên Xô. Đó là một thực tế lịch sử.
Thuyết Cách mạng thuờng trực của Zinovievist - Bukharinist - sau này là Khruschievist phát triển xem Liên Xô là Trung tâm của cuộc cách mạng Thế giới, đặt vai trò của Liên Xô là như là người bao xô cho toàn bộ cuộc cách mạng thế giới đồng thời áp đặt một cách máy móc và phiến diện hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô lên các nước anh em. Thuyết này, trong một thời gian nhất định nó chiếm lĩnh trong tư duy Quốc tế cộng sản, bên cạnh những đóng góp vô cùng lớn cho phong trào công nhân và xã hội chủ nghĩa quốc tế thì đồng thời nó cũng mang lại những sai lầm, tổn thất cho chính phong trào công nhân thế giới. Tôi lấy ví dụ Cách mạng Trung Quốc, rất rõ ràng rằng Nghị quyết của Quốc tế Cộng sản tại Đại hội VI do Zinoviev lãnh đạo, đã thổi bùng những làn sóng cách mạng vô sản góp phần rất lớn trong việc hình thành và phát triển, đặt những tiền đề và nền móng cho sự phát triển của cách mạng Trung Quốc sau này, nhưng cũng chính nó đem lại những tổn thất to lớn cho cách mạng Trung Quốc, khiến hàng vạn cán bộ đảng viên Trung Quốc trong thời kỳ đầu của chính quyền Xô viết đã chịu nhiều tổn thất hy sinh. Hội nghị Tuân Nghĩa là dấu mốc lịch sử cho thấy sự thất bại của Chủ nghĩa Zinoivev - Bukharin về sự áp đặt của Trung tâm Cách mạng thế giới Liên Xô đối với cuộc cách mạng Trung Quốc những năm 30. Sau đó là Chủ nghĩa Khrushchevist trong cuộc chia rẽ phong trào Cách mạng thế giới những năm 50-60. Sự thất bại của Chủ nghĩa Khrushevist về cuộc Cách mạng thường trực nó còn diễn ra khắp toàn châu Âu, làm lung lay tận gốc rễ nhiều nhà nước xã hội chủ nghĩa như ở Đông Đức, Ba Lan, Hungary, Tiệp Khắc, ... làm sản sinh hàng loạt mầm mống cho sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa về sau. Sự áp đặt tư duy của nước lớn cho toàn bộ các nước nhỏ và phong trào cộng sản, công nhân quốc tế nói chung đã mang lại nhiều hại hơn là lợi ích.
Mặc dù là những người ủng hộ Việc xây dựng Chủ nghĩa xã hội trong một quốc gia theo con đường của Lenin - Stalin, nhưng chúng tôi coi rằng sự đối lập giữa Cách mạng Thường trực và Chủ nghĩa xã hội trong một quốc gia lại là một sai lầm tai hại, một sự hiểu biết nông cạn về Chủ nghĩa Marx.
Đại hội VII Quốc tế Cộng sản đã khắc phục toàn bộ những sai lầm mang tính nhận thức về những vấn đề trên. Kết quả của việc giải tán Quốc tế Cộng sản vào năm 1943 cũng là hệ quả của Đại hội VII. Rằng từ đây các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế hoàn toàn có thể tự đứng bằng đôi tay của mình, trực tiếp là người lãnh đạo cuộc cách mạng vô sản ở chính quốc gia mình, Đảng phải trở thành lãnh tụ của dân tộc mình và lãnh đạo quần chúng đưa cuộc cách mạng vô sản đi đến thắng lợi cuối cùng. Không phải bất kỳ một Trung tâm cách mạng thế giới nào quyết định thay cho các chính đảng vô sản của các dân tộc.
Nhưng điều đó không có nghĩa là Cuộc cách mạng Thường trực bị lụi bại và biến mất, Cách mạng thường trực vẫn tiếp tục tiếp diễn và phát triển trong những điều kiện mới và những biện pháp phù hợp. Thực tế ngay cả trong chính Liên Xô, Cách mạng Thường trực liên tục tồn tại và tiếp diễn, chúng ta có thể lấy chính trường hợp về phát triển nền sản xuất của Liên Xô trong 15 nước Cộng hòa liên bang. Tất cả chúng ta đều biết Liên Xô được cấu thành từ nhiều nước Cộng hòa liên bang, trong những nước đó, có những nước có trình độ phát triển cao như nước Nga, Ukraine, Belarus, Estonia, Latvia, Litva, nhưng đồng thời cũng có những nước với tình trạng lạc hậu cùng cực như Uzer, Kazakh, Turk, Kyrgy, Taji. Cuộc cách mạng thường trực bắt đầu từ nước Nga Trung ương đến tất cả các vùng ngoại vi của mình, kiến thiết và phân bổ một cách có hệ thống và kế hoạch toàn bộ nền kinh tế quốc dân, làm cho các vùng ngoại vi - những miền xa xôi nhất và cùng cực - bắt kịp nhịp độ của nước Nga Trung ương. Sự phát triển của 15 nước Cộng hòa của Liên Xô là một minh chứng cho sự thắng lợi của Cách mạng thưởng trực xảy ra trong phạm vi quốc gia ở Liên Xô.
Cách mạng Thưởng trực không chỉ áp dụng ở trong phạm vi Liên Xô, ngay cả khi có những điều kiện hoàn toàn thích hợp, nó phát triển rộng khắp và với quy mô toàn cầu, nhưng không phải mang kiểu dáng dấp của sự chủ quan duy ý chí của Đại hội VI Quốc tế cộng sản và Chủ nghĩa phiêu lưu của Zinovievist - Bukharinist và sau đó là Khrushevist. Tôi lấy một số ví dụ, sau thắng lợi của Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, cùng với việc Hồng Quân giải phóng Châu Âu, chúng ta nhận thấy một loạt các nước Đông Âu ngay lập tức đi vào con đường chủ nghĩa xã hội, đó rõ ràng là Cuộc cách mạng Thường trực. Không chỉ Đông Âu, nhìn xem một loạt các nước Châu Á, Cách mạng thường trực cũng nổ ra, trước mắt là Triều Tiên 1948, tiếp là Trung Quốc 1949, Việt Nam 1950.
Trong bất kỳ sự phát triển nội tại của cuộc cách mạng vô sản ở mỗi nước, giai cấp vô sản sau khi trở thành lãnh tụ dân tộc, ngay lập tức kết nối cuộc cách mạng của mình vào phong trào cộng sản quốc tế thì Liên Xô - thành trì của cách mạng thế giới - sẽ hỗ trợ hết sức mình. Chúng ta thấy, Liên Xô không chỉ huy bằng một Trung tâm cách mạng thế giới như Chủ nghĩa Zinovievist - Bukharinist , mà trên cơ sở mối mối quan hệ đối tác - đồng minh. Có thể thấy, nếu như Đại hội VI Quốc tế cộng sản ban hành những chỉ thị mang tính bắt buộc cho đảng cộng sản trên toàn thế giới chấp hành, thì giờ đây chỉ giới hạn trong việc mang tính chất trao đổi song phương. Trước đây chúng ta thấy những chỉ thị mang tính 1 chiều từ các bộ Khu vực đến từng Đảng Cộng sản và yêu cầu toàn thể đảng viên của Đảng đó phải chấp hành, Đảng Cộng sản Việt Nam chúng ta cũng từng trãi qua thời kỳ đó với những tổn thất to lớn; thì sau đó chúng ta thấy rằng các Đảng cộng sản anh em có thể gặp nhau trao đổi song phương có thể đặt ra những yêu cầu thích hợp cho sự phát triển của phong trào cách mạng trong nước, cũng như sự hợp tác quốc gia trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi. Các đồng chí có thể xem biên bản các cuộc gặp giữa đoàn của Albani, Trung Quốc, Triều Tiên, Đức , ... đến Liên Xô và hội kiến với Ban lãnh đạo Liên Xô những năm 1947-1951, thay vì "ra chỉ thị" và "mệnh lệnh", Stalin thường hỏi họ tình hình trong nước và yêu cầu các phái đoàn đặt ra những nhu cầu họ cần gì, và cần Liên Xô hỗ trợ những gì và trả lời bằng khả năng của Liên Xô có thể đáp ứng những gì. Tất cả những thứ đó đều còn tài liệu lưu trữ không khó để kiểm chứng.
Chính ở đây chúng ta thấy rằng Cách mạng Thường trực không tiêu vong, chỉ có những lý luận sáo rỗng và phi thực tế của Trotsky - Zinoviev - Bukharin và sau đó là Khrushchev mới bị thực tế lịch sử cho vào sọt rác - Các mạng thường trực vẫn tiếp tục phát triển một cách hợp lý trong tiến trình phát triển của phong trào Cộng sản quốc tế trên cơ sở sự thắng lợi của Chủ nghĩa xã hội trong phạm vi quốc gia. Một sự đối lập thô thiển nào đó cho hai vấn đề trên đều cho thấy sự thiếu hiểu biết thực tiễn của Chủ nghĩa Marx và sự giáo điều trong việc đọc máy móc và nhại lại một cách sáo rỗng Chủ nghĩa Marx.
Chủ nghĩa Marx không phải một lý luận giáo điều, đó là tinh hoa, kim chỉ Nam cho nhận thức và tư tưởng của những người cộng sản chân chính!
4.Con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Quốc tế Cộng sản đã có những công lao to lớn và đóng góp vô giá cho tiến trình cách mạng Việt Nam, đó là một thực tế lịch sử không thể chối cãi, nhưng đồng thời với những công lao đó, những quan điểm sai lầm của Quốc tế trong thời kỳ thống trị của Chủ nghĩa Zinovievist - Bukharinist cũng mang lại những tổn thất không gì đo đếm được. Tôi lấy một số ví dụ, như Cương lĩnh chính trị tháng 10/1930, tư tưởng "trí phú, địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ" dựa trên những Chỉ thị của Quốc tế Cộng sản tại Đại hội VI là những quan niệm sai lầm đầu tiên trong tiến trình ảnh hưởng của Quốc tế đối với giai đoạn đầu sau khi Đảng ta được thành lập. Không chỉ phủ định giá trị lịch sử của Cương lĩnh chính trị của Nguyễn Ái Quốc, nó còn gây tổn hại cho nền tảng nhân lực của cách mạng, cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc.
Con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội trong quan điểm của Đảng ta lúc đầu dưới ảnh hưởng của Cương lĩnh Đại hội VI Quốc tế Cộng sản, cũng máy móc trong việc xem nặng sự phát triển cách mạng tại chính quốc Pháp là cơ sở thắng lợi của cách mạng vô sản Việt Nam; cũng như việc phụ thuộc vào Trung tâm cách mạng Thế giới là Liên Xô giúp đỡ xây dựng Chủ nghĩa cộng sản và bài trừ một cách máy móc những khả năng phát triển về kinh tế xã hội và lực lượng bởi các tầng lớp phi vô sản khác. Những sai lầm đó đã được khắc phục từng bước bởi các Hội nghị Trung Ương VI, VII, VIII của Đảng Cộng sản Đông Dương.
Cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng 8 năm 1945 là đỉnh cao cho sự phát triển một cách rực rỡ về tư duy của Đảng ta đối với sự nhận thức về khả năng cách mạng nội tại trong chính quốc gia dân tộc mình, rằng Đảng phải trở thành lãnh tụ của chính dân tộc mình, tự mình trở thành lực lượng lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam đứng lên làm cuộc cách mạng giải phóng, đưa đất nước đi lên con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đảng ta với sự dìu dắt và lãnh đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, không trông chờ vào bất kỳ một lực lượng nào bên ngoài, mà phải tự chính bản thân mình, đã chớp lấy thời cơ lịch sử có một không hai, giành lấy độc lập tự do cho dân tộc, tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa vũ trang cách mạng trong toàn quốc, giành lấy toàn bộ chính quyền về tay dân tộc Việt Nam, thiết lập chính quyền cách mạng dân chủ nhân dân đầu tiên trong khu vực Đông Nam Á.
Tuy nhiên, sau ngày Giải phóng miền Bắc năm 1954, Đảng ta đứng trước một thử thách mới, đó là Chủ nghĩa Khrushevist - Ban lãnh đạo của Liên Xô đứng đầu là Khrushev với những mưu toang của chủ nghĩa bá quyền nước lớn, xem Liên Xô là Trung tâm cách mạng và dẫn dắt phong trào công nhân toàn thế giới đã áp đặt những luật chơi - những chính sách phản bội Chủ nghĩa Lenin - cho các nước nhỏ. hội nghị Geneva 1954 là những bước đi phản bội đầu tiên. Với mong muốn hòa hoãn với chủ nghĩa đế quốc Mỹ, Liên Xô là một trong những bên chấp thuận chia cắt hai miền Triều Tiên và Việt Nam, cũng như cả Lào và Campuchia, tạo những thuận lợi cho các lực lượng phản cách mạng đang trên đà sụp đổ sau Chiến thắng vĩ đại của quân và dân Việt Nam tại Điện Biên Phủ, ngóc đầu trỗi dậy, tạo những điều kiện cho Chủ nghĩa đế quốc Mỹ can thiệp sâu vào Miền Nam Việt Nam, làm cản trở con đường hòa bình thống nhất Tổ quốc của nhân ta.
Ảnh hưởng của Chủ nghĩa Khrushchevist, bên cạnh đó còn có Chủ nghĩa Maoist, không chỉ ảnh hưởng đến cách mạng Việt Nam về phương diện chính trị, còn có cả một số phương diện khác như kinh tế, quân sự, .... Tôi lấy đơn cử như Cải cách ruộng đất. Một số đồng chí phê bình rất gay gắt Cải cách ruộng đất, chỉ nhìn mặt tiêu cực và phủ định sạch trơn thành quả cách mạng của nó - đó là một tư duy sai lầm. Cải cách ruộng đất là một chính sách vô cùng đúng đắn của Đảng ta, nhưng phải hiểu những sai lầm đó chỉ xuất phát trên cơ sở quá trình thực hiện, chứ không phải ở mục tiêu của nó. Thực tế là Đảng ta thực hiện Cải cách ruộng đất từ rất sớm, từ năm 1953, nhiều vùng giải phóng nhờ Cải cách ruộng đất mà phát huy được sức người, sức của, động viên đông đảo quần chúng tham gia vào công cuộc giải phóng dân tộc, làm nên trận Điện Biên Phủ lịch sử. Sai lầm chỉ phát sinh sau ngày Giải phóng Miền Bắc, trên cơ sở chịu ảnh hưởng , áp đặt các chỉ tiêu, hạng mục dựa trên những kinh nghiệm tập thể hóa "Liên Xô, Trung Hoa" một cách máy móc vào nước ta trong khi điều kiện, cơ sở xã hội của các nước này cao hơn chúng ta rất nhiều.
Những sai lầm của việc áp dụng máy móc đó khiến chúng ta trả một giá rất đắt, nhưng đồng thời cho Đảng ta một bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu và tôi luyện cho chúng ta những nhà lãnh đạo hết sức bản lĩnh để tiếp tục dìu dắt sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc ta đi đến thắng lợi cuối cùng. "Muốn đánh thắng Mỹ, thì phải không biết sợ Liên Xô, Trung Quốc", đó là những quan niệm cực kỳ thẳng thắng và nổi tiếng của đồng chí Lê Duẩn. Hay "đánh như các đồng chí Liên Xô, thì chúng tôi chỉ đánh được hai ngày" của đồng chí Võ Nguyên Giáp. Đồng chí Hồ Chí Minh đã dạy cho chúng ta rằng, một dân tộc mà chỉ biết dựa vào bên ngoài, thì dân tộc đó không xứng được tự do, độc lập. Đó là chân lý sáng ngời cho toàn thể cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân ta học tập và kiên trì xuyên suốt mãi về sau.
Sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội của nhân dân Việt Nam, chỉ có thể thắng lợi bằng con đường độc lập dân tộc và tự bản thân mình tiến lên bằng chính những nội tại của bản thân mình, chứ không được ỷ lại vào sự hỗ trợ từ bên ngoài.
Nền kinh tế kế hoạch hóa quan liêu bao cấp xét trong một bối cảnh, một khung thời gian nhất định, đã mang lại những khả năng to lớn cho đất nước ta trong việc động viên toàn diện sức người , sức của phục vụ cho công cuộc giải phóng Miền Nam thống nhất Tổ quốc, làm nên thắng lợi vĩ đại của Mùa xuân năm 1975 lịch sử. Những thành quả vĩ đại đó là không thể nào bị xóa nhòa, là một minh chứng cho thấy sự ưu việt của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa miền Bắc với tư cách,vai trò, là hậu phương lớn cho Miền Nam đánh Mỹ. Một dân tộc nhỏ bé bị nô dịch hơn 80 năm, chiến tranh cách mạng suốt gần 30 năm, nhưng đã làm nên một kỳ tích lịch sử có một không hai là đánh bại một siêu cường đế quốc tư bản Mỹ và làm sụp đổ cả hệ thống chủ nghĩa thực dân thế giới, là biểu tượng sáng ngời của ý chí anh hùng cách mạng và sự kiên cường của một dân tộc với khát vọng độc lập tự do cho dân tộc.
Nhưng nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp ở nước ta còn hiệu quả "Khi và chỉ khi" còn tồn tại của Liên Xô - Trung tâm cách mạng thế giới, và hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa "Hội đồng tương trợ kinh tế". Sỡ dĩ hệ thống kinh tế kế hoạch hóa của chúng ta tồn tại được là vì chúng ta gắn mình vào hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa thế giới, với những nhu cầu cơ bản của đất nước được đáp ứng từ khối và những sản phẩm của chúng ta làm ra sẽ bán cho các nước trong khối tiêu thụ, tất cả đều căn cứ trên cơ sở kế hoạch hóa với trung tâm nền sản xuất là Liên Xô xã hội chủ nghĩa. Trong một giai đoạn nhất định, Hội đồng tương trợ kinh tế đã đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng chung của giai cấp vô sản các nước xã hội chủ nghĩa, nhưng khi Liên Xô - trung tâm chính của nền kinh tế kế hoạch hóa của Khối lâm vào khủng hoảng kinh tế xã hội, thì cũng chính nó kéo theo sự sụp đổ một cách nhanh chóng của hệ thống này bất chấp các quốc gia đó có lực lượng quân sự hùng mạnh đến mức nào. "Sự sụp đổ của chén cơm, khiến người ta buông súng" - đó là tất cả những gì đã diễn ra ở Liên Xô và Đông Âu những năm 198x-199x.
Sự thiết lập của Trung tâm Cách mạng thế giới - Liên Xô - của Chủ nghĩa Khrushchevist với sự ra đời của Khối Warsaw và sự điều hành của SEV, Cuộc cách mạng Thường trực của Khrushchev với mong muốn áp đặt phạm vi ảnh hưởng của mình lên toàn cầu. Trong cuộc chơi đó, ai không theo những yêu cầu từ Moscow, thì người đó rõ ràng đứng bên ngoài sân chơi do Moscow chỉ huy. Trong sân chơi do Moscow kiểm soát, với lẽ dĩ nhiên , Liên Xô dành cho các hội viên mình với nhiều ưu đãi rất thiết thực và những nỗ lực hỗ trợ vô bờ bến - đó cũng là mặt thuận lợi rất tích cực cho các nước nhỏ và kém phát triển khi tham gia vào hệ thống kinh tế do một siêu cường thế giới bảo trợ. Để tham gia sân chơi , thì những hội viên phải bước vào những con đường cải tạo nền kinh tế để đảm bảo cho sự đồng bộ của hệ thống kế hoạch hóa chung toàn Khối do trung tâm là Liên Xô tính toán. Đất nước Việt Nam ta trong thời gian nhất định, không thể đứng ngoài sân chơi đó. Có đồng chí sẽ hỏi ta đứng ngoài không được sao, nhưng đồng chí đó quên mất rằng chúng ta không một phút nào nới lỏng tay súng khi Trung Quốc và Mỹ lâm le bờ cõi sau ngày giải phóng. Kẻ thù không chờ chúng ta một thời gian dài dưỡng thương, hồi phục rồi mới tấn công, nó tấn công khi chúng ta còn đang rỉ máu vết thương. Chiến tranh biên giới Tây Nam - Phía Bắc và sự bao vây cô lập của thế giới tư bản phương Tây là một minh chứng thực tế cho vấn đề trên. Có đồng chí cho rằng chúng ta sao không đứng về phe Trung Quốc, như vậy có thể tránh được 10 năm chiến tranh, tranh thủ được hòa bình, há chẳng phải chăng các đồng chí ấy quên mất những sự phản bội tại Geneva 1954 và Thượng Hải 1972 đó sao, rằng nếu chúng ta về phe Trung Quốc thì liệu có ngày giải phóng không hay "nếm mật nằm gai 100 năm nữa hẵn giải phóng Miền Nam" như lời các cố vấn Trung Quốc tư vấn cho chúng ta.
Ban lãnh đạo của đất nước, đặc biệt là đồng chí Lê Duẩn, trên cương vị Tổng bí thư, ngay tại thời điểm lịch sử đó, rõ ràng là phải lựa chọn những gì có lợi nhất cho đất nước, nhân dân ta, đó là con đường hội nhập nhanh chóng vào sân chơi của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, sử dụng những lợi ích từ sân chơi chung với sự đảm bảo của một siêu cường Thế giới là Liên Xô, để nhanh chóng khắc phục những hậu quả chiến tranh và kiến thiết nước nhà, khôi phục nền kinh tế quốc dân. Muốn hội nhập thì không có cách nào khác là phải cải tạo nền kinh tế xã hội đồng bộ với sân chơi chung quốc tế. Một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa với tốc độ cao diễn ra ở nước ta sau ngày Thống nhất trên cơ sở những hỗ trợ từ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, đó là những cơ sở cho chúng ta thấy một loạt các chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa được thiết lập một cách nhanh chóng trên phạm vi toàn quốc, đặc biệt là đánh tư sản và hợp tác hóa ở Miền Nam với nhịp độ cao độ gấp nhiều lần so với hơn 20 năm xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Năm 1978, Việt Nam chính thức là thành viên của Khối SEV.
Sự suy yếu của Liên Xô những năm 198x-199x đã dẫn đến một kết cục không thể tránh khỏi - "người cầm trịch ngã ngựa thì sân chơi cũng lụi tàn". Các nước xã hội chủ nghĩa hội viên với nền kinh tế phụ thuộc vào công tác kế hoạch hóa của Khối do Liên Xô là trung tâm, ngay sau khi Liên Xô suy yếu và không đủ khả năng cung ứng các nhu cầu thiết yếu cho nền kinh tế quốc dân các nước hội viên, đã đẩy các nền kinh tế này lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế một cách nghiêm trọng và dẫn đến sụp đổ. Chúng ta thấy rằng sự sụp đổ này không phải chỉ diễn ra tại một quốc gia hay hai quốc gia xã hội chủ nghĩa, mà là một hệ thống. Trước đây, chúng ta nói đến sự thoái trào chủ nghĩa xã hội của Liên Xô và các nước Đông Âu, nhưng không ai nói rõ là tại sao nó diễn ra một cách đồng loạt và hệ thống như thế. Chẳng lẽ chục quốc gia đều có ban lãnh đạo trở cờ cùng lúc ? Không, tất cả là sự suy sụp một cách có hệ thống từ Khối kinh tế nói chung do Liên Xô là trung tâm chỉ huy. Ngay khi "bát cơm vừa rơi, họ buông tay súng", các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu lâm vào khủng hoảng kinh tế trầm trọng và không thể tránh khỏi sự thay đổi chế độ xã hội. Sự thất bại của quan niệm của Chủ nghĩa Khrushchevist về thuyết Cách mạng thường trực - lấy Liên Xô là Trung tâm cách mạng thế giới - theo kiểu một cách máy móc lại một lần nữa được thực tế lịch sử chúng minh là thất bại.
Những nước xã hội chủ nghĩa không đi vào con đường lụi bại tiêu vong trong sự thoái trào vào những năm 198x-199x, buộc lòng phải cải cách, phải đổi mới, phải tìm tòi những con đường đi phù hợp. Sự phát triển của Chủ nghĩa xã hội trong phạm vi quốc gia một lần nữa chứng minh là con đường đi đúng đắn của mỗi nước. Trước thách thức của sự suy yếu của Khối các nước xã hội chủ nghĩa và đặc biệt là Liên Xô, Đảng ta phải quyết định giữa thời khắc sống còn của đất nước, "Đổi mới hay là chết". Đại hội VI 1986 của Đảng ta đã đưa ra một quyết định bước ngoặt rất quan trọng của đất nước, quyết tâm đoạn tuyệt với hệ thống kinh tế cũ vốn gắn chặt vào bộ máy kế hoạch hóa kinh tế của Khối xã hội chủ nghĩa thế giới, tìm tòi con đường đưa đất nước tiến lên dựa trên những nội lực và phát triển bằng chính lực lượng chính mình. Có đồng chí gán sự khủng hoảng kinh tế đất nước ta cho đồng chí Lê Duẩn, chúng tôi xem đó là phiến diện. Đồng chí Lê Duẩn thực sự là một chiến sĩ marxist xuất sắc, đồng chí nhận thức thời cuộc rất nhạy bén, trong khi hàng loạt các nhà lãnh đạo quốc tế điêu đứng, đồng chí ngay lập tức có những phương hướng chuyển hướng kịp thời, giúp cho Cách mạng nước ta thoát khỏi tình huống hiểm nghèo. Chính đồng chí Lê Duẩn là người đặt nền móng cho công cuộc Đổi mới, và thực tế lịch sử cách mạng nước ta chứng minh rằng điều đó là đúng đắn. Tham gia sân chơi của hệ thống xã hội chủ nghĩa khi Khối còn hùng mạnh, và lựa chọn nhạy bén Đổi mới khi Khối thoái trào, không phải bất kỳ nhà lãnh đạo nào cũng bản lĩnh làm được.
5. Việt Nam và Con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ Đổi mới
Lựa chọn con đường xây dựng "Chủ nghĩa xã hội trong phạm vi quốc gia" là một hiện thực lịch sử trong tiến trình cách mạng ở nước ta. Một điều không phải bàn cãi. Nhưng phải đi như thế nào, ra sao, không phải là một câu chuyện dễ dàng. Thực tế tồn tại ở mỗi quốc gia khác nhau - điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau, nền tảng sản xuất, trình độ lực lượng sản xuất - dẫn đến những khả năng, cách thức khác nhau trên con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội.
Có đồng chí hỏi là sao chúng ta không xây dựng hệ thống công nghiệp nặng hiện đại như Liên Xô như những 193x rồi từ đó cải tạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân khác, thúc đẩy toàn bộ nền sản xuất phát triển rực rỡ như 40 năm đầu tồn tại của chế độ Xô viết. Nhưng các đồng chí ấy quên mất rằng nền tảng xã hội, nền tảng sản xuất, lực lượng sản xuất của nhân dân Liên Xô ở đâu trong khi nước ta đi từ chế độ đầy tàn tích phong kiến lạc hậu, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa để phát triển lên ? Nước Nga trước cách mạng mặc dù là thế yếu, nhưng vẫn là một trong các đại cường quốc tư bản ở châu Âu, và nền công nghiệp được phổ biến tương đối khắp nước Nga phong kiến, trong khi đất nước chúng ta gần như là nền kinh tế tiểu nông, tư bản nội địa và tư bản Pháp tồn tại nhưng chiếm rất nhỏ trong nền kinh tế, chưa kể việc chủ nghĩa thực dân hướng tới chủ yếu là khai thác khoáng sản chở về chính quốc chứ không phải phục vụ cho nền sản xuất và thị trường dân tộc Việt Nam. Cũng không phải là chúng ta chưa từng có ý nghĩ đến công nghiệp hóa cao độ, Đại hội IV chúng ta đã đặt ra những kỳ vọng công nghiệp hóa cao độ với sự hỗ trợ của Khối SEV, nhưng đáng tiếc là thời kỳ chúng ta tham gia vào SEV cũng là thời kỳ SEV đang đương trong giai đoạn suy yếu. Chúng ta có thể xem kinh nghiệm của các đồng chí Triều Tiên, họ công nghiệp hóa toàn diện đất nước, nhưng họ làm điều đó vào những năm 50-60, trong khi cùng thời gian đó chúng ta làm những nhiệm vụ thiêng liêng nhất của Tổ quốc đó là thống nhất nước nhà. Những ý niệm đó vào giai đoạn 7x-8x gần như là không kịp với sự suy yếu của Liên Xô và Khối Đông Âu.
Có đồng chí khác lại cho rằng đất nước chúng ta đã xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc, thì há phải chăng con đường quá độ lên Chủ nghĩa xã hội hiện nay có phải là một bước lùi, rằng chúng ta đi ngược sự phát triển của các giai đoạn lịch sử xã hội ?
Nói đúng hơn là chúng ta chưa thực sự đi vào con đường xã hội chủ nghĩa, mà chỉ mới xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở một vài mặt, một vài ngành chủ yếu, chứ không phải là toàn diện nền kinh tế quốc dân, phần lớn những tư liệu chính của Chủ nghĩa xã hội mà chúng ta từng xây dựng đến từ Hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa (Khối SEV).
Nhưng đồng thời chúng ta không nên xem sự thiết lập Chủ nghĩa xã hội là một sự vô địch chắc chắn không thể bị đảo nghịch. Rõ ràng là ngày nào còn vòng vây của chủ nghĩa đế quốc thì ngày đó, nguy cơ về việc tái lập chủ nghĩa tư bản vẫn còn hiện hữu. Và trên hết thẩy, Chủ nghĩa xã hội chiến thắng chỉ có thể được đảm bảo bởi một nền sản xuất lớn, tiên tiến hiện đại chứ không phải nền sản xuất nhỏ tiểu nông, manh mún.
Tôi lấy ví dụ về Chủ nghĩa Cộng sản thời chiến và Kinh tế mới NEP. Rõ ràng là Chủ nghĩa cộng sản thời chiến đã thiết lập một trật tự xã hội chủ nghĩa thực thụ cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân nước Nga, nhưng chính bị thực tại của nền sản xuất xã hội yếu kém của nước Nga đánh bại, đẩy các lực lượng phản cách mạng tư sản phát triển lại một cách mạnh mẽ và dẫn đến nguy cơ cách mạng vô sản Nga suy yếu và tiêu vong. Chính NEP là con đường lối thoát. Không thể cộng sản bình quân xã hội trong điều kiện nền sản xuất yếu kém, NEP mang lại một phương hướng mới cho công cuộc kiến thiết đất nước và phát triển kinh tế, trong đó Nhà nước nắm những ngành chủ yếu then chốt sống còn đối với chế độ, đồng thời cho phép phát triển các khu vực kinh tế khác ở một mức độ nhất định và có kiểm soát.
Có đồng chí lại bảo rằng NEP đã bị Stalin xóa bỏ từ năm 1927, những tiêu cực của NEP đã lộ diện từ những năm 1924-1925, như vậy những thành tựu của Liên Xô chủ yếu đến từ chính sách công nghiệp hóa và tập thể hóa cao độ. Đó là quan niệm sai lầm, không hiểu gì về NEP. Chính đồng chí Stalin đã trả lời cho chúng ta rất rõ ràng vào năm 1936, khi đã thiết lập Chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa hoàn toàn trên khắp Liên Xô, rằng NEP bắt đầu từ năm 1921 và kết thúc vào năm 1936, với việc thắng lợi hoàn toàn của nền kinh tế công hữu về mặt tư liệu sản xuất và tập thể trong toàn bộ nền kinh tế Liên Xô.
NEP đồng thời mở ra những khả năng phát triển của các khu vực kinh tế ngoài nhà nước, nhưng không phải là cho nó trôi nổi, mà đồng thời củng cố hệ thống kinh tế Nhà nước và tập thể, thực chất là những gì Nhà nước chưa thể làm thì cho phép các khu vực đó phát triển theo xu hướng tư nhân hoặc chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước, dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước. Ngay khi Nhà nước đủ mạnh, đủ khả năng để chủ động phát triển khu vực sản xuất đó thì sẽ phải đi đến chỗ thủ tiêu các khu vực kinh tế phi Nhà nước và thiết lập chế độ công hữu ở khu vực đó. NEP chỉ kết thúc, khi và chỉ khi ở đó khi Kinh tế Nhà nước và tập thể chiếm vai trò thống trị của nó trong toàn bộ đời sống kinh tế xã hội, khi đó chế độ xã hội chủ nghĩa sẽ được thiết lập toàn diện.
NEP chính là thể chế của thời kỳ quá độ đi lên Chủ nghĩa xã hội, là thể chế trên con đường thiết lập sự thống trị của quan hệ sản xuất và kinh tế xã hội chủ nghĩa trong phạm vị quốc gia. Đó là lý do vì sao đồng chí Stalin đã tuyên bố rằng NEP đi đến chặng đường cuối cùng của nó vào năm 1936, chứ không phải là năm 1927 như nhiều trí thức không am hiểu Lịch sử Liên Xô đã tuyên bố.
Một quan niệm phổ biến sai lầm khác là sự đối lập máy móc giữa Thể chế kinh tế nhiều thành phần do NEP tạo ra và công cuộc Kế hoạch hóa kinh tế xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế nhiều thành phần vẫn có kế hoạch hóa, trước mắt là Kế hoạch hóa sản xuất trong những thành phần kinh tế Nhà nước và tập thể, sau còn còn có lập kế hoạch tương đối cho cả nền kinh tế chung, bao gồm cả những thành phần kinh tế ngoài Nhà nước. Sự thắng lợi toàn diện của kinh tế kế hoạch sẽ diễn ra vào điểm cuối khi toàn bộ nền kinh tế nhiều thành phần dần được kinh tế Nhà nước và tập thể chiếm ưu thế, đồng thời kinh tế phi Nhà nước và tập thể bị thu hẹp và biến mất. Khi đó toàn bộ nền kinh tế chỉ còn quốc doanh và tập thể, khi đó toàn bộ nền kinh tế sẽ thống nhất dưới sự kế hoạch hóa tập trung thống nhất do Nhà nước kiểm soát hoàn toàn.
Sự khác biệt giữa NEP ơ Liên Xô và áp dụng NEP vào hiện thực cụ thể cách mạng Việt Nam có thể tóm tắt ngắn gọn trong vấn đề như sau: Phương pháp thực hiện NEP và thời gian tồn tại của NEP. Ở trên tôi đã nói đến sự khác biệt giữa những điều kiện kinh tế, xã hội, trình độ sản xuất, năng lực sản xuất, trình độ của lực lượng sản xuất ở Việt Nam có bước xuất điểm khác xa với Liên Xô. Chính vì thế mà những kinh nghiệm lịch sử vĩ đại của Liên Xô cũng chi có thể tham khảo, rút ra những bài học, chứ không thể áp dụng một cách máy móc vào những điều kiện thực tế của nước ta.
NEP là một bài học kinh nghiệm lịch sử vĩ đại cho những người cộng sản Việt Nam trong việc muốn xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở một nước nông nghiệp lạc hậu.
Như vậy, tạm có thể đi đến kết luận rằng Con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta khái quát như sau: Thực hiện Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong phạm vi quốc gia, trên cơ sở bỏ qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong đó xem thành phần kinh tế Nhà nước và tập thể là xu hướng chủ đạo, trên cơ sở chế độ công hữu tư liệu sản xuất là cốt lõi và từng bước cải tạo quan hệ sản xuất xã hội phù hợp với tiến trình đi lên chủ nghĩa xã hội.
Khẩu hiệu của Đảng ta trong thời kỳ Đổi mới về con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội, cơ bản không khác biệt so với kết luận ở trên, mà đơn giản hiểu là một sự diễn giải dưới dạng thuần thúy những khẩu hiệu bình dân, phổ quát cho toàn bộ xã hội.
Những đặc điểm cơ bản của kết luận trên có thể diễn giải như sau:
Thứ nhất, thực tế lịch sử tiến trình cách mạng nước ta đã cho thấy cuộc cách mạng của chúng ta có thể đi đến thắng lợi cuối cùng hay không, chỉ có thể phụ thuộc vào chính nội tại của chúng ta. Những quan niệm về trông chờ cuộc cách mạng tại chính quốc Pháp và trông chờ vào Trung tâm cách mạng thế giới là Liên Xô đã bị thực tế lịch sử chứng minh là sai lầm, thất bại.
Thứ hai, cuộc cách mạng vô sản của đất nước chúng ta phát triển từ nền sản xuất với tiểu nông với đầy tàn tích của chế độ phong kiến để phát triển lên nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, chắc và chắc chắn phải bỏ qua sự phát triển của giai đoạn chủ nghĩa tư bản. Sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó có nền kinh tế tư nhân, tư bản Nhà nước, hay thậm chí vốn tư bản nước ngoài, không phải là sự phát triển của chủ nghĩa tư bản với tư cách là một giai đoạn phát triển trong tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam.
Thứ ba, nền kinh tế nhiều thành phần với hạt nhân trung tâm là kinh tế Nhà nước và tập thể là xu hướng chủ đạo: là một vấn đề hoàn toàn nguyên tắc trong việc đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa và cũng là công cụ chính trong việc cải tạo nền sản xuất xã hội chủ nghĩa trong tương lai. Kết cục của các khu vực kinh tế phi Nhà nước và tập thể không phải là sự phát triển tràn lan mất kiểm soát, mà sự phát triển một cách có định hướng trên cơ sở vừa đảm bảo sự phát triển của nền sản xuất trong nước và trên cơ sở chính nó đẻ ra những khả năng thực sự để chuyển đổi sang sỡ hữu Nhà nước hoặc tồn tại dưới hình thức các mô hình kinh tế hợp tác hóa. Sự tồn tại đó với tư cách là một công cụ, một biện pháp tạm thời cần thiết để không ngừng nâng cao trình độ sản xuất và lực lượng sản xuất ở nước ta cho đến giai đoạn có thể chuyển sang thành kinh tế Nhà nước hoặc tập thể (bằng nhiều hình thức - có thể bằng cách hợp nhất vào hợp tác xã kiểu mới, công tư hợp doanh, mua cổ phần, tăng vốn đầu tư Nhà nước, .....).
Thứ tư, thuật ngữ "từng bước cải tạo quan hệ sản xuất phù hợp với tiến trình đi lên chủ nghĩa xã hội" không phải là một khẩu hiệu sáo rỗng, nó là một định hướng lâu dài, nhất quán và linh động trên cơ sở sự phát triển của các điều kiện thực tế của quá trình phát triển cách mạng nước ta. Chủ nghĩa xã hội không phải là một thực thể tồn tại sẵn, rơi từ trên trời rơi xuống. Mà nó dựa trên cơ sở của sự phát triển liên tục của nền sản xuất, của trình độ lực lượng sản xuất một cách liên tục cho đến khi sản sinh ra quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và lực lượng sản xuất phù hợp với quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đó.
6. Lời kết
Một số đồng chí đã từng hỏi tôi về tương lai của Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, đa phần các đồng chí ấy thường mông lung, không nắm rõ những vấn đề đã nói ở trên về Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, có một số còn ngộ nhận rằng chúng ta chưa có một con đường rõ ràng, rằng đang phải tìm tòi, cần thời gian để nghĩ ra. Điều đó không đúng. Đã từ rất lâu Đảng ta đã nhận rõ về con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội, và trong từng tiến trình của lịch sử Đảng đã có những chủ trương kịp thời và sáng suốt để thực hiện con đường đó theo từng khúc quanh co của lịch sử. Nhưng cái mà họ thiếu không phải là Con đường mà là thời gian.
Để đi từ một nền sản xuất tiểu nông lạc hậu mang tàn tích phong kiến lên nền sản xuất cao và hiện đại Chủ nghĩa xã hội không phải là một sớm một chiều, không phải là một hòn đảo kỳ bí từ trên trời rơi xuống, mang lại một thiên đường tuyệt vời. Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể được sản sinh ra từ tiến trình phát triển lịch sử vĩ đại của chính dân tộc ta, từ những thành quả lao động của chính nhân dân ta mà ra. Trong tiến trình lịch sử cách mạng, các nhà lãnh đạo của chúng ta từng nghĩ đến khả năng tăng tốc, rút ngắn một khoảng thời gian nhất định tiến trình đó, và sự thật là những bước bức phá, tăng tốc đó đã từng mang lại cho dân tộc ta những thành quả cách mạng hết sức vĩ đại. Một dân tộc bị nô lệ hơn 80 năm, tồn tại nặng nề của hàng nghìn năm chế độ phong kiến lạc hậu, cùng với tàn tích của chế độ thực dân thuộc địa, nhưng lại chỉ mất 5 năm xây dựng chế độ mới.
Các đồng chí không thể không thấy những bước phát triển dài chưa từng có trong lịch sử đất nước chúng ta chỉ sau 10 năm đầu giải phóng Miền Bắc, cơ sở vật chất đất nước phát triển mạnh mẽ, quan hệ xã hội tiến nhanh hơn trăm lần dưới chế độ phong kiến thuộc địa, người lao động được làm chủ đất nước và tạo ra những thành tự hết sức vĩ đại trong lịch sử dân tộc. Chúng ta không thể đánh bại một siêu cường đế quốc toàn cầu là nước Mỹ chỉ bằng bần cố nông với vũ khí Liên Xô - Trung Quốc. Chính chế độ xã hội chủ nghĩa ở Miền Bắc nước ta đã tạo ra một lực lượng khổng lồ, một nền sản xuất tiên tiến vượt xa trong tiến trình lịch sử cùng với hàng nghìn cán bộ với trình độ cao có thể đáp ứng vũ khí công nghệ cao của Liên Xô - Trung Quốc. Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến Chống Mỹ đã cho chúng ta thấy tính ưu việt của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, thời thế thay đổi, chúng ta mặc dù đã tiến xa vạn dặm đi nữa, nhưng vẫn còn rất xa so với nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa tiên tiến. Trong điều kiện mà Khối xã hội chủ nghĩa đã đi đến sự thoái trào và sụp đổ, thì con đường mới mà chúng ta tiếp bước chỉ có thể là con đường tự bản thân mình tạo ra.
Đại hội VI năm 1986 đã xác định Con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta, điều đó đã được trình bày ở trên. Các kỳ Đại hội sau đó, như VII, VIII, XIX, X, XI, XII, XIII và nay là XIV là những tiến trình cụ thể hóa, xác lập từng đặc điểm, những nhiệm vụ của đất nước trong tiến trình đi lên con đường đấy.
Sự hạn chế thực sự không phải đến từ chỗ Đảng ta xác lập Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội khi nào, mà là ở chỗ các đảng viên, quần chúng trí thức marxist ở nước ta tại sao mất nhiều thời gian như vậy để đi tìm hiểu về một điều mà thậm chí chúng ta đã xác lập cả 40 năm qua.
1. Là câu hỏi về việc các đảng viên, quần chúng marxist của chúng ta đã đọc, và tiếp thu những gì, đã tìm hiểu những gì về tiến trình lịch sử các mạng thế giới nói chung và tiến trình lịch sử cách mạng nước ta.
2. Là liệu rằng công tác tuyên truyền, đào tạo, truyền thông của Đảng ta như thế nào mà dẫn đến một bộ phận cán bộ đảng viên, quần chúng marxist lại không nắm rõ điều trên.
Những vấn đề trên, nếu tôi nói đúng ra, thậm chí nó đã được làm rõ từ những năm 193x của thế kỷ trước, trong các tài liệu của Liên Xô. Những gì tôi nắm được thậm chí nó còn trong các bài diễn văn của đồng chí Stalin từ những năm 1924-1936. Tức là đến 90 - gần 100 năm trước. Đấy thực sự là một vấn đề nhức nhối cho công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Chúng ta hiện nay, muốn xây dựng Chủ nghĩa xã hội, muốn phát triển một nền kinh tế cao độ, công nghiệp hóa - hiện đại hóa một cách mạnh mẽ, thì trước mắt phải làm cho quần chúng, đảng viên - những người trên tuyến đầu của cuộc đấu tranh đó phải hiểu về con đường mà chúng ta đang và sẽ phải đi, rằng họ cần phải có niềm tin vào tương lai phía trước của cuộc cách mạng : Niềm tin về sự thắng lợi hoàn toàn của Chủ nghĩa xã hội ở đất nước chúng ta dù là trong tương lai xa đi nữa.
