Tiền bạc, xăng dầu và giáo dục chính trị
Trong 3-4 tháng vừa qua đã xảy ra nhiều sự kiện. Các đế quốc Mỹ và Nga chia sẽ Ukraine cùng thị trường nhiên liệu và nguyên liệu châu Âu. Quần chúng nhân dân ở Donbass lại đang tuyệt vọng tìm lối thoát. Giới tư sản các quốc gia vùng Transcaucasia tiếp tục xoay trục chính sách của mình theo quỹ đạo của Mỹ, Thổ Nhĩ Kỳ và Ả Rập Xê Út. Sản xuất quân sự tại châu Âu đang tăng trưởng nhanh chóng. Các nhà tư bản Nga muốn bán thêm nhiều khí đốt và gỗ cho Trung Quốc để thu về lợi nhuận tối đa, lấy tiền tiếp tục chiến tranh và đổi lấy sự trung lập của Trung Quốc ở phương Đông. Trung Quốc đồng ý mua nhiều hơn, nhưng với giá rẻ mạt, thấp hơn 2,8 lần so với giá khí đốt tại châu Âu. Và tư bản tài chính Nga đã chấp nhận điều đó, tính toán rằng sẽ bù đắp mức giá thấp bằng khối lượng khổng lồ khí đốt và các nguyên liệu khác bán ra, với cái giá là sự vơ vét chưa từng thấy tài nguyên lòng đất và các tài sản quốc gia khác của đất nước.
Người ta nói rằng cuộc chiến tranh đế quốc tại Ukraine ngốn của người lao động Nga khoảng 2,2-2,4 tỷ rúp mỗi ngày. Cái gọi là phe đối lập tự do đã tính toán và tuyên bố rằng tính đến ngày 1 tháng 9, ngân khố nhà nước đã thâm hụt khoảng 4 nghìn tỷ rúp — trên tổng ngân sách cả nước là 36-38 nghìn tỷ rúp. Một "lỗ hổng" không hề nhỏ. Trong số hàng nghìn tỷ thiếu hụt đó, khoảng 30% được chi cho các đơn hàng quân sự nhà nước của "Rostec", "Rosneft", "Sistema", "Rusal", Uralvagonzavod, "Tochmash", "Rosvertol" và các tập đoàn quân sự lớn khác, đó là chưa kể hàng trăm tỷ rúp mà nhà nước đã ban tặng cho các tập đoàn độc quyền này dưới danh nghĩa "hỗ trợ phát triển sản xuất trong nước" và các khoản trợ cấp mua nguyên liệu, máy móc, v.v. Những ông chủ của các tập đoàn độc quyền quân sự và nhiên liệu này là khoảng 600–700 tài phiệt tài chính của nước Nga hiện nay. Chính họ là những ông chủ thực sự của chính phủ Nga và là những kẻ đặt hàng chính cho cuộc chiến tại Ukraine. Chính vào túi của họ mà chính phủ đã bỏ vào khoảng một nghìn tỷ tiền của nhân dân dưới dạng lợi nhuận ròng trong suốt những năm qua.
Nhưng điều đó có nghĩa là gì khi 2,2 tỷ rúp mỗi ngày đổ vào chiến tranh và sản xuất quân sự, tức là tiền bạc và hàng hóa được tiêu dùng một cách phi sản xuất? Không có phép màu trong kinh tế. Điều đó có nghĩa là mỗi ngày có khoảng 1,5 tỷ rúp tư liệu sản xuất dân dụng và hàng tiêu dùng không được tạo ra. Còn những tư liệu sản xuất và vật phẩm tiêu dùng được sản xuất bằng phần còn lại cũng phục vụ chiến tranh một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, không đem lại gì cho đối tượng tiêu thụ hàng hóa chính — là quần chúng nhân dân. Hệ quả là, sản xuất dân dụng tại Nga đang co hẹp lại. Sự suy sụp của sản xuất tạm thời chưa rõ rệt đối với những người bình dân vốn chỉ đánh giá sản xuất qua sự hiện diện của thức ăn và quần áo, nhưng nó rất dễ nhận thấy qua, ví dụ như, các tài sản cố định lạc hậu của nhiều doanh nghiệp dân dụng (máy móc và thiết bị không được đổi mới dù đã hết hạn sử dụng 2-3 lần), sự cắt giảm dần danh mục hàng tiêu dùng chất lượng, sự bỏ hoang các mỏ nguyên liệu quý, việc các nhà tư bản không sử dụng các nguồn năng lượng rẻ tiền thuận tiện và cần thiết cho nhân dân, qua các vụ tai nạn hàng loạt của mạng lưới điện và hạ tầng công cộng đã rệu rã, sự phá hủy các cây cầu và con đập, các tòa nhà công cộng, đường sá, nhà ở xập xệ của hàng triệu người lao động, hạn hán trên các diện tích nông nghiệp, tình trạng mặn hóa và xói mòn tầng đất màu mỡ, sự cạn kiệt các nguồn nước ngọt, v.v. Các dấu hiệu của một đợt bùng phát mới trong cuộc khủng hoảng chung của chủ nghĩa tư bản đã hiện rõ.
Điều cốt yếu nhất là một nhóm nhỏ các nhà tư bản, bằng bàn tay của nhà nước phát-xít của mình, đang tiêu diệt lực lượng sản xuất chính của xã hội trong chiến tranh — đó là bộ phận nam giới trong độ tuổi lao động.
Vậy chính phủ lấy đâu ra tiền cho cuộc chiến tranh cướp bóc và để "hỗ trợ" các tập đoàn độc quyền lớn nhất trong cơn khủng hoảng? Bạn không thể lấy lại từ tầng lớp thượng lưu cầm quyền (từ những Sechin, Putin, Timchenko, Rotenberg, Deripaska, Usmanov, Mordashov và khoảng 1.500–2.000 gia đình khác), vì chính họ đang chỉ huy đất nước và với sự giúp đỡ của chính phủ Nga, họ đang đẩy toàn bộ chi phí và gánh nặng chiến tranh lên vai người dân thường. Do đó, chính phủ hết lần này đến lần khác thọc tay vào túi của giai cấp công nhân và những người lao động khác. Không lạ gì khi tại Nga trong vòng một tháng, giá các sản phẩm thịt và sữa, rau củ, bột mì, đường và các mặt hàng tiêu dùng rộng rãi khác đã tăng 10-15%. Tại các "vùng lãnh thổ mới", phí dịch vụ công ích và nhà ở đã tăng 20-25%. Các loại xăng chính đã tăng thêm 6–10 rúp, và ở một số nơi, các nhà tư bản hoàn toàn rút xăng "95" và "92" khỏi thị trường, tạo ra sự khan hiếm hàng hóa nhân tạo nhằm mục đích đẩy giá xăng lên cao hơn nữa.
Phe đối lập tiểu tư sản nói rằng thủ phạm gây ra sự thiếu hụt xăng dầu và tăng giá là tên phát-xít Ukraine Magyar, kẻ chỉ huy các đơn vị máy bay không người lái của Quân đội Ukraine (VSU). Họ bảo rằng các thiết bị bay không người lái (UAV) của Ukraine đốt cháy các nhà máy lọc dầu của Nga, do đó mới dẫn đến thiếu hụt nhiên liệu và tăng giá. Những kẻ phàm phu tục tử này đang cố gắng bào chữa cho chính phủ phát-xít của mình. Nhưng, thứ nhất, theo các báo cáo chính thức, UAV của Ukraine chỉ làm cháy 6-7 nhà máy ở phần lãnh thổ Nga thuộc châu Âu, không hề đụng đến việc sản xuất nhiên liệu ở Ural và Siberia. Thứ hai, các nhà máy, đường ống, trạm bơm và kho chứa chỉ bị hư hại một phần và đang được khôi phục. Thứ ba, hệ thống phòng không của các doanh nghiệp nhiên liệu ở đâu, nếu sự di chuyển của quân đội Nga tại Ukraine phụ thuộc trực tiếp vào chúng? Thứ tư, ai là kẻ hưởng lợi nhiều nhất từ các cuộc tấn công vào các doanh nghiệp này, nếu chúng tạo cơ hội để ngay lập tức tăng giá xăng và dầu diesel và đòi hỏi chính phủ cấp hàng tỷ rúp các khoản vay không hoàn lại để khôi phục sản xuất? Vì hàng trăm tỷ tiền bảo hiểm nhà nước và "hỗ trợ", những ông hoàng dầu mỏ Nga như Sechin, Alekperov và những kẻ khác sẵn sàng thúc đẩy các giao dịch ngầm sau bức màn với giới tư sản Ukraine: kiểu như, hãy đánh nhẹ vào các doanh nghiệp mà chúng tôi chỉ định, còn chúng tôi sẽ trả cho các anh 10-15% tiền bảo hiểm thông qua một ngân hàng ở Bỉ.
Theo tính toán, chính phủ đã in thêm khoảng 900 tỷ tiền giấy mới "công trái chiến tranh", trong đó 40-50% dùng để mua sắm tư liệu sản xuất quân sự mới và thay thế các tờ tiền cũ rách, còn khoảng 50% số tiền này không có hàng hóa đảm bảo, tức là cái gọi là "tiền lạm phát". Trước năm 2022, để giữ cho đồng rúp không bị sụp đổ, chính phủ (Ngân hàng Trung ương) định kỳ mua lại "rúp lạm phát" bằng cách bán ngoại tệ trên thị trường, hoặc bán thêm nhiều khí đốt, dầu mỏ, gỗ hay quặng sang EU và Trung Quốc so với kế hoạch. Bằng cách đó, lạm phát được giữ ở mức nhân tạo từ 7–9% mỗi năm. Giờ đây, trước ngưỡng cửa sụp đổ kinh tế, giới tư sản Nga đi theo con đường bán rẻ mạt khí đốt cho Trung Quốc, và ở thị trường trong nước — bằng cách tăng giá nhảy vọt, trước hết là đối với hàng tiêu dùng rộng rãi và giá dịch vụ công ích cho nhân dân. Mức tăng giá bán lẻ của 14 loại hàng hóa và dịch vụ công ích trong tháng 7 và tháng 8 đạt trung bình 13%, nghĩa là đồng rúp đã mất đi khoảng ngần ấy sức mua (mất giá).
Ngoài tiền giấy, chính phủ liên tục đóng dấu đủ loại lệnh cấm, tăng số lượng và mức phạt cùng các khoản thu nhà nước. Các đồng chí nói đùa rằng tiền phạt ở Nga đang trở thành "loại dầu mỏ thứ hai", xét về mặt thu ngân sách thông qua việc cướp bóc phát-xít đối với người lao động. Chúng ta đã từng cười nhạo những đạo luật phi lý ở Mỹ hay Đức: ví dụ như chủ đất không được ăn hay bán trái cây rau củ mình trồng trên đó; không được nuôi mèo nếu không đăng ký với nhà nước; không được ăn trên phố, không được dùng cần câu cá nếu không có giấy phép, không được đi bộ bên lề đường, không được sơn tường màu đỏ, không được bỏ lỡ buổi lễ ở nhà thờ, phải trả thuế cho cái bốt vệ sinh, cái giếng, từng bụi cây hay cái cây, v.v. Nhưng đối với giới tư sản phát-xít, những luật lệ này không hề phi lý, mà lại rất logic và cần thiết. Giờ đây người lao động Nga cũng không còn tâm trí đâu mà cười, vì các luật lệ và lệnh cấm nhắm vào cả những quyền tự do và quyền lợi quen thuộc nhất, tự nhiên nhất đang có hiệu lực; chính phủ cấm hàng loạt mọi thứ có thể, để mở rộng vô hạn danh sách các lý do "hợp pháp" nhằm hù dọa và trấn lột nhân dân.
Mưa lũ nhấn chìm các thành phố, các con sông cuốn trôi cầu cống và đê đập, hạn hán đất đai và khí quyển, nạn châu chấu, sông ngòi cạn kiệt, thiếu nước, tình trạng không mưa suốt 2-3 tháng xuất hiện ở những nơi mà 10 năm trước chưa từng có. Khí hậu ôn đới ôn hòa ở miền Nam phần Nga thuộc châu Âu đang biến mất, thay thế bằng khí hậu lục địa khắc nghiệt, đặc trưng như ở miền Nam Yakutia. Nguyên nhân của cuộc "nổi loạn" của thiên nhiên chống lại chủ nghĩa đế quốc Nga không phải tìm ở nơi thần thánh. Các nhà tư bản ngày càng chặt phá rừng taiga và rừng ôn đới của Nga và Siberia vì lợi nhuận, từ đó mở đường cho các luồng gió Bắc Cực tràn xuống phía Nam và phía Tây đất nước. Sự hủy diệt rừng một cách tàn bạo, việc chặt hạ các dải rừng phòng hộ để lấy đất canh tác mới, sự khai thác đất đai dã man của nền kinh tế tư bản dẫn đến kiệt quệ tầng đất, làm khô héo các nguồn sông và làm cho không còn gì để giữ nước mưa và nước băng tan để nuôi cây cối, sông ngòi và hồ. Những kẻ phát-xít đã phá hủy hồ chứa nước Kakhovka, nơi không chỉ cung cấp nước cho 5 tỉnh của Ukraine mà còn ảnh hưởng đến thời tiết trên toàn bộ dải đất từ Odessa đến Rostov-on-Don. Theo báo cáo của Bộ Tình trạng Khẩn cấp (MCHS), mực nước ở biển Caspian và vịnh Taganrog của biển Azov đã giảm xuống mức tới hạn. Mặt Trăng và thủy triều tự nhiên không liên quan gì ở đây. Vấn đề nằm ở chỗ sông Volga và sông Don cùng tất cả các phụ lưu đang đổ vào biển ngày càng ít nước hơn.
Và đây chỉ là những ví dụ riêng lẻ. Tóm lại, nhìn đâu cũng thấy tai ương. Và đâu đâu cũng thấy rằng hoàn toàn có thể nhanh chóng, trong vòng 3-4 năm, sửa chữa và chấn chỉnh nhiều thứ trong đời sống nhân dân. Nhưng chủ nghĩa tư bản đang cản trở.
Về phe đối lập. Liệu có tồn tại phe đối lập đối với chính phủ phát-xít của nhóm nhỏ tỷ phú không? Có, nó tồn tại và có hai loại. Loại thứ nhất — đó là phe đối lập tự do, đại diện cho lợi ích giai cấp của bộ phận đại tư bản không có ảnh hưởng trực tiếp đến bộ máy nhà nước Nga. Những nhà tư tưởng của nó có thể kể đến những người quá cố như Novodvorskaya và Navalny, Politkovskaya và Nemtsov, cũng như những nhân vật lưu vong như Shenderovich, Venediktov từ đài "Tiếng nói Moscow", Khodorkovsky, Gozman, v.v.
Các ý tưởng cơ bản của phe đối lập này: Lịch sử được tạo ra bởi những cá nhân vĩ đại theo ý chí riêng của họ, còn nhân dân đóng vai trò là một khối quần chúng thụ động. Từ đó, toàn bộ tính đối lập của những người tự do chỉ gói gọn trong việc thay thế một Putin "tồi tệ" bằng một đại diện "tốt" của giới tư sản Nga đối lập. Những người tự do chống lại chiến tranh tại Ukraine và cho rằng cuộc chiến là do cá nhân Putin khơi mào, vì một kẻ độc tài mất trí muốn thỏa mãn những ham muốn bệnh hoạn của mình.
Từ đó đưa ra kết luận rằng mọi tai ương của nước Nga hiện nay có thể giải quyết trong một nốt nhạc bằng cách loại bỏ Putin khỏi đường đi. Một tổng thống tự do mới sẽ ngay lập tức chấm dứt chiến tranh tại Ukraine, thiết lập các mối quan hệ bình thường đôi bên cùng có lợi với châu Âu và Mỹ, thiết lập các trật tự dân chủ tự do tại Nga thay cho trật tự phát-xít hiện nay, cho phép các công ty châu Âu và Mỹ vào thị trường nội địa Nga sau khi đuổi người Trung Quốc đi. Bằng con đường đó, cuộc khủng hoảng mà "băng đảng Putin" đã tạo ra ở Nga sẽ bị xóa bỏ.
Những Khodorkovsky, Shenderovich và các cộng sự, trên miệng thì nói chống lại phát-xít ở Nga, thuyết phục nhân dân rằng phát-xít không hề tồn tại ở Mỹ và các nước EU. Thực chất, họ ủng hộ việc chủ nghĩa đế quốc ở Nga không chỉ rút ra những bài học sai lầm cũ của phe Hitler, mà còn cả những sai lầm mới của chính phủ "Putin", để "không làm quá tay" với internet và các lệnh cấm, mà là khủng bố và trấn lột người lao động dưới những hình thức tinh vi, xảo quyệt, "tự do" và ngụy trang hơn. Chỉ có cách đó, theo những người tự do, mới có thể giữ nước Nga khỏi cách mạng.
Cần phải tách biệt phe đối lập tự do này với phe đối lập thứ hai — phe đối lập tiểu tư sản. Phải có một ranh giới giữa những người tự do và phong trào dân chủ. Dân chủ tiểu tư sản, trong những điều kiện nhất định, có thể trở thành dân chủ cấp tiến, có khả năng thực hiện một cuộc cách mạng nhân dân với việc tước đoạt toàn bộ tư liệu sản xuất và đất đai từ tay giới tư sản tài chính, với việc tiêu diệt toàn bộ các thiết chế phát-xít. Giới tư sản "chống Putin" tự do sẽ không bao giờ trở thành dân chủ cấp tiến, vì họ chỉ ủng hộ việc phân chia lại các tài sản tư nhân lớn nhất về phía mình và một cuộc đảo chính chính trị, nơi các tỷ phú tự do sẽ cướp quyền lực từ "băng đảng Putin". Cướp quyền lực để chiếm lấy ngân khố và bộ máy đàn áp, toàn bộ các đơn đặt hàng nhà nước, rút kinh nghiệm từ những sai lầm chiến thuật và sơ hở của nhóm nhà tư bản trước đó để rồi siết chặt các vòng đai phát-xít trong nước một cách mạnh mẽ, tinh vi và quỷ quyệt hơn nữa, bao gồm cả vì lợi ích của các tập đoàn độc quyền Mỹ và châu Âu.
Những người tự do dồn mọi hy vọng và kế hoạch vào sự ra đi của Putin và phe cánh của ông ta, vào sự bãi miễn, cái chết, hay tòa án dành cho họ, v.v. Tất nhiên, Putin là một hiện tượng lịch sử cá biệt và "duy nhất", sự ra đi của ông ta khỏi vũ đài chính trị sẽ có một số ảnh hưởng đến diễn biến sự việc. Ví dụ, cái chết của một lãnh tụ hay một viên tướng trong trận chiến có thể dẫn đến thất bại của quân đội và thậm chí quyết định kết cục của cuộc chiến, nếu thay thế viên tướng đó là một kẻ kém năng lực hơn. Những trường hợp như vậy đã từng xảy ra. Nhưng tiến trình chung của cuộc chiến, hơn thế nữa — tiến trình phát triển của xã hội, của các dân tộc không được quyết định bởi cái chết của các lãnh tụ, không phải bởi sự ngẫu nhiên, mà bởi những nguyên nhân sâu xa và phổ quát hơn. Ví dụ, cuộc Chiến tranh Ba mươi năm được sinh ra bởi chính sách của các phong kiến và các thương nhân lớn nhất của các nước tham chiến, do đó nó vẫn tiếp tục với những thành bại đan xen ngay cả sau khi Gustav Adolf, Tilly và Wallenstein đã chết thêm 16 năm nữa. Tiến trình và kết cục của chiến tranh được quyết định bởi kinh tế, bởi chính sách của các giai cấp thống trị trong xã hội, bởi tương quan lực lượng của các nước tham chiến và các giai cấp bên trong các nước đó, chứ không chỉ bởi một cá nhân và ý chí của các Sa hoàng hay tướng lĩnh, mặc dù họ cũng đóng vai trò không nhỏ ở đây.
Đến mùa hè năm 1944, tư bản độc quyền Đức đã thất vọng về Hitler, vì hắn không thể thực hiện được nhiệm vụ bá chủ thế giới cho nền công nghiệp Đức, còn bộ máy khủng bố và tuyên truyền phát-xít không còn hoàn thành tốt chức năng của mình. Nguy cơ nước Đức bị Hồng quân nghiền nát đã cận kề, trong nước phong trào Kháng chiến và vai trò của những người cộng sản trong đó đang tăng lên. Để tránh bị tiêu diệt hoàn toàn, giữ lại những gì đã cướp bóc được, trốn tránh sự trừng phạt cho các tội ác, tránh sự sụp đổ cuối cùng của bộ máy quân sự và cảnh sát Hitler, nhằm duy trì chủ nghĩa đế quốc và chế độ nhà nước phản động ở Đức dưới một tấm biển hiệu mới, một nhóm các nhà độc quyền, quý tộc Junkers và các tướng lĩnh đã quyết định hy sinh Hitler và tiến hành một cuộc đảo chính cung đình ở tầng thượng lưu. Một "âm mưu của các tướng lĩnh" đã được tổ chức nhằm ám sát Hitler và thay thế hắn bằng tướng Beck và nhà tài chính Goerdeler. Theo kế hoạch, nếu thành công, hòa bình sẽ ngay lập tức được ký kết với Mỹ và Anh, và toàn bộ quân đội từ Mặt trận phía Tây đã bị giải thể sẽ được ném sang phía Đông chống lại Liên Xô. Tại Đức, quyền lực của các tập đoàn độc quyền, chế độ độc tài quân sự phản dân tộc và toàn bộ bộ máy trừng phạt của cảnh sát và SS sẽ được giữ nguyên, chỉ thay đổi bảng hiệu, tên gọi và bức bình phong. Những kẻ âm mưu tin rằng: a) việc loại bỏ Hitler, thành phần chính phủ mới và cương lĩnh của nó sẽ khiến chính phủ này được Mỹ và Anh chấp nhận, giúp tránh khỏi việc đầu hàng vô điều kiện; b) các tập đoàn độc quyền Đức sẽ có cơ hội mới để đạt được nhiều mục tiêu xâm lược mà Hitler đã không còn khả năng đạt được.
Có vẻ rõ ràng rằng Putin phản chiếu quyền lực và lợi ích giai cấp của tầng lớp thượng lưu tư bản. Ông ta không chỉ là đại diện của tư bản tài chính, mà còn là một thành viên của nhóm tỷ phú này. Putin là hiện thân của một cái gì đó phổ quát, đặc trưng cho chủ nghĩa đế quốc đã quá chín muồi. Ở tất cả các quốc gia, chính sách của phát-xít là sự thống trị tuyệt đối của tư bản tài chính, chính sách chiến tranh cướp bóc để chia lại thế giới, quân sự hóa nền kinh tế quốc dân, đập tan dân chủ và thiết lập chế độ độc tài quân sự - cảnh sát của những kẻ độc quyền lên quần chúng, cuộc tấn công của giới tư sản vào người lao động trên mọi mặt trận, kết hợp với các thủ đoạn dân túy xã hội điên cuồng. Đó là chính sách mà Hitler, Mussolini, Franco, Salazar đã thực hiện; Truman và tất cả các đời tổng thống Mỹ sau đó cũng thực hiện chính sách tương tự — ở mức độ này hay mức độ khác, tùy thuộc vào sự trầm trọng của khủng hoảng và lòng tham của các tập đoàn độc quyền chính của Mỹ. Những nét đặc trưng của chính sách phát-xít cũng từng xuất hiện ở de Gaulle, người đã nỗ lực thiết lập chế độ độc tài phát-xít tại Pháp. Đó là chính sách mà tất cả các kẻ đại diện hiện nay của tư bản tài chính đang thực hiện, từ Trump đến Đạt-lai Lạt-ma ở Tây Tạng. Một "Fuhrer" này chết đi, các tập đoàn độc quyền sẽ đưa một kẻ phù hợp khác lên thay, từ đó trật tự trong một xã hội nơi tư bản thống trị sẽ chẳng thể trở nên dân chủ hơn hay xã hội chủ nghĩa hơn.
Điều này có nghĩa là những người tự do không hề nghĩ đến việc loại bỏ các gốc rễ kinh tế - xã hội của chủ nghĩa đế quốc. Bất kỳ một chính phủ tư sản Nga "chống Putin" mang danh tự do gấp ba lần nào, nếu lên nắm quyền, chắc chắn sẽ tiếp tục chính sách chiến tranh đế quốc hiện nay, có thể chỉ là thay đổi đồng minh và xoay trục nó từ Ukraine sang phía Nam và phía Đông. Nó chắc chắn sẽ tiếp tục chính sách phát-xít nội bộ, có thể là trang hoàng nó bằng những bức bình phong và thiết chế "dân chủ" mới. Chính sách này không phải do giới tư sản tự do có thể bị "biến chất", mà do các quy luật phát triển của chủ nghĩa đế quốc quy định, những quy luật mà một chính phủ như vậy buộc phải tuân theo.
Khi nói về sự mong muốn cái chết của Putin, những người tự do chỉ lướt trên bề mặt của các hiện tượng, chỉ nhận thấy vẻ bề ngoài của chúng, khắc họa lịch sử như một tập hợp của các sự ngẫu nhiên. Kiểu như: "Nếu chẳng may Putin bị giết, thì sẽ xảy ra điều tương tự như vụ ám sát Philip của Macedonia, Caesar, Alexander II, — sẽ có sự thay đổi căn bản trong chính sách của nước Nga".
Thay vì khoa học, những người tự do trình bày một tập hợp các sự ngẫu nhiên, cứ như thể sự ngẫu nhiên quyết định tiến trình lịch sử. Điều gì đã thay đổi trong lịch sử Macedonia, La Mã, Đức, Nga từ việc Philip, Caesar, Paul và Alexander II bị giết, còn những Wilhelm I và Bismarck lại bình an vô sự và chết vì già hay vì rượu? Liệu chế độ xã hội và chính trị của các quốc gia đó có thay đổi không? Không. Liệu phương hướng chính trị của các quốc gia đó có thay đổi không? Không. Thay thế Philip là Alexander Đại đế, người tiếp tục chính sách chinh phạt đó. Caesar bị giết, nhưng thay thế ông ta là một vài người kế vị cùng dẫn dắt chính sách của La Mã. Nền Cộng hòa La Mã không phục hồi mà biến thành một chế độ quân chủ tàn bạo. Ở Nga, thay thế Alexander II là Alexander III, dưới thời ông ta sự phản động càng gia tăng, và những người theo phái Ý chí nhân dân với các cuộc khủng bố của mình đã không đạt được mục tiêu mà họ tự đặt ra.
Những người tự do đã gọi đúng nhiều sự thật và chỉ ra những tội ác của chính phủ Nga hiện nay. Ở khía cạnh này, họ có ích cho giai cấp công nhân và các lực lượng dân chủ. Đồng thời, những người tự do bác bỏ hoàn toàn giai cấp và đấu tranh giai cấp như là động lực phát triển của xã hội, họ cực kỳ sợ hãi quần chúng nhân dân. Theo họ, không có và không thể có sự thay thế nào cho chủ nghĩa tư bản, chỉ cần chỉnh sửa nó một chút bằng cách loại bỏ những nhà lãnh đạo "ngu dốt". Việc cho phép nhân dân tham gia chính trị là rất có hại và nguy hiểm, vì nhân dân có thể vì sự ngu ngốc của mình mà "làm hỏng chuyện" và làm hư hại các ý tưởng và thiết chế tự do. Những cá nhân "tốt" theo ý chí riêng của mình sẽ thiết lập các trật tự dân chủ, tốt đẹp trong nước, còn những kẻ "xấu", những kẻ đã tạo ra phát-xít và khơi mào chiến tranh, sẽ bị loại bỏ. Hệ quả là, toàn bộ vấn đề nằm ở việc thay thế các quan chức "xấu" bằng các quan chức "tốt". Khi đó, không cần đấu tranh giai cấp, không cần đảng vô sản, cũng không cần cách mạng xã hội: quần chúng nhân dân sẽ "tự nhiên" nhận được cuộc sống tốt đẹp từ những quan chức "tốt".
Với phe đối lập tiểu tư sản thì vấn đề phức tạp hơn. Nó đông đảo như chính tầng lớp những chủ sở hữu nhỏ. Nó tất yếu lạch bạch đi theo đuôi những kẻ "tự do", cũng giống như quần chúng tiểu tư sản và tầng lớp vô sản đã bị "tâm lý tiểu tư sản hóa" ngày nay đang lạch bạch đi theo sau tư bản tài chính. Người tiểu tư sản hay kẻ bình dân, bị khiếp nhược trước những nỗi kinh hoàng của chủ nghĩa tư bản, cứ chao đảo từ thái độ cách mạng điên cuồng ("hãy đưa vũ khí đây, đi giết bọn lãnh đạo thôi!") cho đến việc ủng hộ hoàn toàn chính phủ trong cuộc chiến tranh đế quốc và khủng bố phát-xít.
Địa vị kinh tế hai mặt của họ đã để lại dấu ấn: họ vừa là người lao động bị giai cấp tư sản bóc lột và áp bức, vừa là chủ sở hữu những tài sản tư nhân nhỏ hoặc tài sản cá nhân (căn hộ riêng hoặc ngôi nhà nhỏ, gara, nhà vườn, xe hơi, thuyền, khoản vay, tiền tiết kiệm, v.v. — những thứ mà khối quần chúng vô sản thời Nga Sa hoàng không có và không thể có), thứ mà họ coi là nguồn vốn của mình. Giai cấp vô sản hiện nay chưa có hàng triệu người thất nghiệp. Họ vẫn được trả một chút gì đó để có thể thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu. Họ vẫn tính toán chuyện nghỉ hưu, trả nợ ngân hàng, lo cho con cái, v.v. Giai cấp tư sản vẫn xây dựng và sửa chữa chút ít, thuyết phục người lao động rằng đó là "sự tiếp nối của chủ nghĩa xã hội" và được thực hiện vì họ. Chúng thuyết phục quần chúng rằng nước Nga ngày nay là một trại lính bị bao vây bởi những kẻ thù của nhân dân. Và bởi vì các nhà tư bản đã lừa phỉnh được nhiều công nhân và người lao động rằng họ cũng là chủ sở hữu tư sản, nên việc "bảo vệ tổ quốc" trong cuộc chiến tranh đế quốc được bày ra trước mắt quần chúng như là bảo vệ tài sản của chính họ.
Nỗi sợ hãi của tầng lớp tiểu tư sản và đa số công nhân hiện đại trước những bước ngoặt gắt gao của lịch sử chính là nỗi sợ bị bần cùng hóa (vô sản hóa), sợ những phiên tòa phá sản và tù tội, sợ mất việc làm và toàn bộ tài sản cá nhân trong quá trình cách mạng và nội chiến. Từ đó nảy sinh xu hướng chờ đợi, hòa bình "xoay xở" cho đến cùng, luôn tìm kiếm những kẽ hở nhỏ nhất để thích nghi với giai cấp tư sản, lách qua các lệnh cấm mới và bằng cách nào đó bù đắp cho những thiếu thốn mà chính phủ phát-xít liên tục tạo ra. Còn chính phủ thì tấn công người lao động không phải bằng những bước nhảy vọt, mà bằng cách "thu thập" dần dần, làm xấu đi điều kiện sống của quần chúng một cách từ từ, trong khi miệng vẫn nói rằng mọi thứ được làm vì lợi ích và an ninh của người dân, rằng mọi thứ sẽ sớm ổn định, đồng thời thỉnh thoảng đưa ra những mẩu bánh vụn, những bước lùi hoặc sự nới lỏng nhỏ lẻ. Giai cấp tư sản có thể dễ dàng tước đoạt toàn bộ vốn liếng và tài sản cá nhân của những chủ nhỏ và những công nhân tiểu tư sản hóa, và chúng đang làm điều đó, nhưng làm dần dần và theo kiểu "cá nhân". Sự phá sản và khủng bố mang tính "cá nhân" này đối với người lao động diễn ra trên quy mô lớn, nhưng hàng triệu sự kiện trấn lột và áp bức đó hiện tại vẫn chưa đập vào mắt, chưa được tổng kết và đặt ra trước giai cấp công nhân như một sự thật chung về vị thế của họ. Do đó, hàng triệu sự kiện này bị làm mờ đi, quần chúng không chấp nhận chúng như một quy luật phát triển của chủ nghĩa đế quốc và cuộc tổng tấn công của tư bản vào họ, mà coi đó là những trường hợp riêng lẻ, sự vụ lẻ tẻ, là "vận đen cá nhân", hay thậm chí là lỗi (lười biếng, liều lĩnh, vô kỷ luật, không biết luồn lách đúng lúc, không biết tránh xung đột, v.v.) của chính người công nhân bị nhà nước trấn lột và khủng bố "đích danh" đó.
Từ đó dẫn đến niềm tin của nhiều công nhân rằng cần phải chờ đợi, rằng biết đâu sự áp bức và khủng bố của nhà nước sẽ chừa mình ra. "Họ chưa đụng đến tôi là tốt rồi. Còn nhân dân sống khổ thì từ xưa đã thế, chẳng sửa được đâu". Hoặc là chờ đợi cho đến khi sự trấn lột, chế nhạo và nhục mạ trở nên hoàn toàn không thể chịu đựng được nữa, khi người lao động đã cạn kiệt mọi kẽ hở và khả năng để "xoay xở", để sống sót, để giữ con cái, để kiếm thức ăn, nước uống, nơi ở, v.v. Khi đó, họ bảo, chính cuộc sống sẽ bắt buộc phải cầm súng.
Cho đến năm 2021, tại một khu vực ở Thuringia (Đông Nam nước Đức), người dân có một khu rừng công cộng. Ở đó, người lao động vẫn có thể tự do nghỉ ngơi, đi dạo, cắm trại, câu cá, hái nấm và quả mọng, v.v. Khu rừng này lọt vào mắt xanh của các nhà tư bản. Nhưng chúng không dám chiếm đoạt ngay lập tức. Chúng bắt đầu rào dậu dần dần, từng mét một. Mọi người phẫn nộ, nhưng chừng nào hàng rào chưa xong và vẫn còn kẽ hở, người lao động đã không phá hàng rào, không đánh đuổi bảo vệ và chính quyền địa phương, mà tìm cách thích nghi để vào rừng của mình, mặc dù lối vào ngày càng xấu và khó khăn hơn. Khi hàng rào hoàn thành, các nhà tư bản điều đến rất đông bảo vệ và đặt người dân trước sự thật đã rồi rằng họ không thể vào rừng nữa. Khu rừng đã mất. Khi đó nhiều người mới hiểu ra rằng đáng lẽ phải phá bỏ ngay từ những cột trụ đầu tiên, đánh đuổi nhóm bảo vệ thưa thớt lúc đó và ném các quan chức riêng lẻ ra khỏi cửa sổ ngay từ khi bắt đầu xây hàng rào. Cuộc bãi công hàng loạt của công nhân, biểu tình lớn ở Suhl, việc thành lập các đội tự vệ công nhân để bảo vệ rừng khỏi bọn phát-xít và những sự "sáng tạo sinh động của quần chúng" khác — đó mới chính là những biện pháp cần thiết có thể buộc chính quyền lùi bước và cứu khu rừng của nhân dân khỏi bị chiếm đoạt. Một lần nữa chân lý được xác nhận: ai không đấu tranh chống phát-xít ngay từ những giai đoạn đầu, chống lại mọi sự xâm phạm và tội ác của giai cấp tư sản, dù chúng có vẻ nhỏ nhặt đến đâu — thì kẻ đó đang giúp chúng trấn lột và áp bức chính mình, kẻ đó đang tự lót đường cho mình vào trại tập trung.
Ngược lại, quần chúng ở Nepal đã không chờ đợi cho đến khi họ bị cô lập khỏi thế giới, bị đóng cửa các con đường kinh doanh nhỏ và kiếm sống qua mạng internet. Cảm nhận thấy mối đe dọa đối với lợi ích sống còn của mình, nhân dân đã xuống đường và đuổi cổ chính phủ phát-xít. Những ông chủ thực sự của Nepal — Ngân hàng Thượng Hải, các ngân hàng Ấn Độ và vẫn là nhóm Morgan đó — đã buộc phải tạm thời lùi bước.
Người lao động Đức bị tước mất khu rừng vì họ đã ngần ngại thực thi quyền lực của mình. Họ đã không thể chỉ cho giai cấp tư sản thấy vào thời điểm cần thiết rằng chủ nhân thực sự của rừng, đất đai, tài nguyên, nguồn nước, xí nghiệp, v.v., chính là nhân dân lao động — theo quyền "tự nhiên" của đại đa số tuyệt đối và với tư cách là người tạo ra mọi phúc lợi xã hội. Thứ cản trở ở đây không chỉ là nỗi sợ hãi trước nhà nước tư sản và sự thiếu tổ chức của giai cấp vô sản, mà còn là thói quen nô lệ hàng thế kỷ của hàng triệu người khi nghĩ rằng họ không bao giờ có thể là chính quyền, rằng chính quyền là một thiểu số đặc biệt và riêng biệt, được ý muốn của thần thánh ban cho quyền đứng trên nhân dân.
Quần chúng nhẽ ra có thể xử lý các nhà tư bản và chính quyền địa phương một cách quyết liệt, đơn giản và không khoan nhượng theo kiểu nhân dân, để thiết lập trật tự thực tế của mình. Và không chắc là bọn phát-xít dám nổ súng vào các cuộc bãi công và biểu tình, vào đám đông đang ném các quan chức ra khỏi cửa sổ. Chính phủ biết việc nổ súng vào nhân dân sẽ dẫn tới đâu. Theo quy luật chung, bọn phát-xít rất hèn nhát, chúng cố gắng hù dọa nhiều hơn là đánh đập và nổ súng. Tại sao phải nổ súng nếu quần chúng để cho mình bị hù dọa, và nếu không cần nổ súng mà vẫn đạt được chính xác những gì bọn phát-xít cần? Người lao động vào thời điểm quyết định đã không dám cho chính quyền thấy sức mạnh khổng lồ của mình, mà lại để cho những cá nhân hoặc nhóm nhỏ đứng ra đấu tranh cho quyền lợi và tự do, vốn là những đối tượng dễ bị xử lý. Trong khi đó, hàng ngàn người dừng sản xuất và xuống đường như một khối có tổ chức, có mục tiêu duy nhất, đủ sức phá bỏ không chỉ những hàng rào. Họ có khả năng — nếu vứt bỏ nỗi sợ hãi, dù chỉ trong một thời gian và không phải ở mọi nơi — tước quyền lực của giai cấp tư sản, lùa chính phủ vào hang như lũ chuột nhắt hèn nhát, học cách quản lý trong chiến đấu, đập tan cảnh sát và giáng đòn vào toàn bộ nhà nước phát-xít. Trong nội chiến, những thất bại riêng lẻ của giai cấp vô sản và các lực lượng dân chủ là không tránh khỏi, đặc biệt là lúc đầu. Nhưng càng có nhiều đòn giáng vào chính phủ, càng nhiều cuộc "nổi loạn", biểu tình, bãi công, nếu người lao động không để bất kỳ hành vi phát-xít nào, dù nhỏ nhất, trôi qua mà không bị trừng trị (tốt nhất là tấn công để dạy cho chính quyền một bài học "đến nơi đến chốn"), thì việc học hỏi chính trị của giai cấp công nhân sẽ càng tiến triển nhanh chóng trên thực tế, tổ chức sẽ càng tốt hơn, kinh nghiệm chiến đấu của giai cấp vô sản để gây chiến với giai cấp tư sản sẽ càng nhiều hơn, và chính phủ phát-xít sẽ càng lung lay dữ dội.
Cần tính đến rằng sự "từ từ" và liên tục trong việc làm tồi tệ đi đời sống của nhân dân có thể kéo dài hàng thập kỷ, vì chủ nghĩa tư bản đang thối rữa sẽ không "tự thân" biến mất nếu không có hoạt động cách mạng của giai cấp vô sản và quần chúng lao động, nếu không có các tổ chức đặc biệt của giai cấp vô sản để tiêu diệt chủ nghĩa tư bản; nó có thể thối rữa rất lâu. Các sự kiện lịch sử không tự nhiên xảy đến, chúng là hoạt động có ý thức của con người — của quần chúng, giai cấp, đảng phái và các lãnh tụ của họ. Có khi hiện diện đầy đủ các điều kiện khách quan của tình thế cách mạng (khủng hoảng tầng trên, họ không thể trị vì như cũ, có vết nứt nơi sự bất bình của kẻ bị áp bức tràn ra, tầng dưới không muốn sống như cũ, sự bần cùng và tai ương của nhân dân tăng cao, hoạt động chính trị của quần chúng gia tăng), nhưng cách mạng vẫn không xảy ra. Đó là vì thiếu sự đấu tranh tích cực, hiệu quả và tự giác của quần chúng lao động, thứ duy nhất biến khả năng thành hiện thực lịch sử. Sự gia tăng tích cực của quần chúng và cuộc đấu tranh chính trị của họ là hai việc hoàn toàn khác nhau. Cái thứ nhất chỉ chuẩn bị cho cái thứ hai chứ không thay thế được nó. Một tình thế cách mạng có đầy đủ các dấu hiệu khách quan không thể biến thành thắng lợi trước các nhà tư bản nếu hiện diện sự thụ động hoặc sự lạc hậu của các yếu tố chủ quan: giai cấp vô sản bị giai cấp tư sản làm hư hỏng, bị hù dọa, bị chia rẽ và đang "ngủ quên", và giai cấp công nhân thiếu đi một đảng cách mạng.
Một tư tưởng thống trị khác trong người lao động là "trước đây đã thử một lần vào năm 1917 rồi — năm 1991 mọi thứ đã tan rã, vậy thì bắt đầu lại lần nữa cũng vô ích thôi". Nhưng chắc chắn sẽ phải bắt đầu, vì giai cấp công nhân không có nhiều lựa chọn giữa sự sống và trại tập trung. Và bởi vì giai cấp vô sản, do áp lực của những hoàn cảnh trong xã hội tư bản, sẽ buộc phải làm không phải những gì cá nhân công nhân hay khối đông công nhân muốn hay không muốn, không phải những gì họ thích hay không thích lúc này, mà là những gì họ buộc phải làm về mặt lịch sử.
Cách mạng vô sản không thể là một "hành động đồng thời và diễn ra một lần". Điều này rút ra từ thực tế là sự phát triển không đồng đều và các mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản hiện đại không hề giảm đi mà ngày càng gay gắt. Một bằng chứng rõ rệt ngay trước mắt mọi người: sự lan rộng của cuộc chiến tranh thế giới thứ ba, việc lôi cuốn thêm nhiều quốc gia và dân tộc mới vào quỹ đạo của nó. Vì đây là một bước ngoặt trong toàn bộ lịch sử (kết thúc kỷ nguyên của các xã hội có giai cấp, sự bóc lột và tư hữu), bước nhảy cách mạng không thể là gì khác ngoài một thời kỳ đấu tranh quyết liệt nhất và có cường độ chưa từng thấy giữa cái cũ và cái mới, khi mọi lực lượng của xã hội cũ đoàn kết lại chống lại giai cấp vô sản cách mạng. Do đó, bước nhảy không thể diễn ra chóng vánh, tức thời, đạt đến đỉnh cao của nó ngay lập tức.
Sự xâm nhập tư tưởng mạnh mẽ của giai cấp tư sản vào môi trường công nhân, ý thức tiểu tư sản tồn tại lâu dài trong hàng triệu người, quy mô khổng lồ của những nhiệm vụ của chính giai cấp vô sản gây ra nỗi sợ hãi, dao động và thiếu quyết đoán trong các tầng lớp của nó, dẫn đến việc các cuộc cách mạng vô sản thỉnh thoảng lại bị gián đoạn, quay ngược trở lại và bắt đầu lại từ đầu những gì đã làm. Để không sai lầm một lần nữa, họ phải liên tục tự phê bình, thanh lọc hàng ngũ, chế giễu một cách không thương tiếc và nghiêm khắc sự nửa vời, yếu đuối, những thiếu sót trong các nỗ lực đầu tiên của mình, cho đến khi cuối cùng tạo ra được những điều kiện giảm thiểu đến mức thấp nhất khả năng của mọi sự thoái lui và phục hồi chủ nghĩa tư bản.
"Lý thuyết" thống trị thứ ba trong khối quần chúng tiểu tư sản là "lý thuyết về sự sụp đổ tự động của chủ nghĩa tư bản". Lý thuyết này chủ yếu được ủng hộ bởi bộ phận đối lập có hiểu biết về chủ nghĩa Marx, tuyên bố ủng hộ các ý tưởng của nó và đứng trên lập trường của giai cấp công nhân. Bản chất của lý thuyết sai lầm này là hiểu mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất như một cuộc khủng hoảng liên tục và một tình trạng mà sự phát triển của lực lượng sản xuất rơi vào một ngõ cụt tuyệt đối không có lối thoát trên mọi phương diện. Do đó, chủ nghĩa tư bản "tự động" diệt vong. Trong khi đó, sự thối rữa của chủ nghĩa tư bản không loại trừ sự tăng trưởng nhanh chóng của nó. Một số ngành công nghiệp, ví dụ như quân sự, một số tầng lớp tư sản, ví dụ như chủ sở hữu các tập đoàn quân sự - công nghiệp và nhiên liệu, một số quốc gia, ví dụ như Hàn Quốc, Đức và Nga (cả hai đều trong sản xuất quân sự) đang cho thấy sự tăng trưởng. Thực tế là chủ nghĩa đế quốc hiện đại phát triển nhanh hơn nhiều so với 60-70 năm trước, kỹ thuật sản xuất cao hơn, nhưng sự tăng trưởng này a) ngày càng trở nên không đồng đều hơn — chính vì khả năng sản xuất khổng lồ, và b) sự không đồng đều đó thể hiện chính ở sự thối rữa của những quốc gia mạnh nhất về tư bản như Mỹ, Đức, Anh.
Sai lầm của phe đối lập tiểu tư sản có nguồn gốc từ lý thuyết cũ về sự sụp đổ tự động của chủ nghĩa tư bản mà Rosa Luxemburg từng đưa ra. Theo lý thuyết này, tái sản xuất tư bản chủ nghĩa trở nên bất khả thi vì môi trường phi tư bản chủ nghĩa bị thu hẹp, không còn nơi nào để xuất khẩu tư bản và hàng hóa, tất cả các nước đều đã bị cuốn vào vòng quay tư bản. Do đó, phần giá trị thặng dư dùng để mở rộng sản xuất không thể thực hiện được trên thị trường. Các nhà tư bản không còn nơi nào để tống khứ số lượng hàng hóa ngày càng tăng, và chủ nghĩa tư bản sẽ "tự thân" nghẹt thở.
Ở đây, phe đối lập tiểu tư sản hiện đại chỉ nhìn thấy những mâu thuẫn bên ngoài của chủ nghĩa tư bản, giữa hệ thống tư bản và "môi trường phi tư bản", mặc dù ngày nay hầu như không còn "môi trường phi tư bản", và không nhìn thấy mâu thuẫn nội bộ chính — giữa tính chất xã hội của sản xuất và hình thức chiếm hữu cá nhân. Điều này có nghĩa là, dù vô tình hay hữu ý, họ tách rời kinh tế khỏi chính trị, phủ nhận tầm quan trọng của chính trị, khả năng xảy ra các biến động chính trị - xã hội và ảnh hưởng to lớn của chúng đối với nền kinh tế tư bản. Những người ủng hộ thuyết "sụp đổ tự động" tìm kiếm một sự sụp đổ kinh tế "thuần túy" của chủ nghĩa tư bản, tách rời khỏi mọi sự đa dạng sống động, thực tế và cụ thể của các mâu thuẫn chính trị, dân tộc, văn hóa, v.v. — thứ mà qua đó bộc lộ mâu thuẫn cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa — giữa tính chất xã hội của sản xuất và hình thức tư hữu đối với kết quả của nó.
Cách tiếp cận máy móc như vậy dẫn đến sự thụ động và tước đi vũ khí của giai cấp vô sản. Thời của Kautsky, việc giải giới diễn ra thông qua thuyết siêu đế quốc, còn ở Rosa Luxemburg — qua thuyết sụp đổ tự động. Đúng vậy, có thể giả định về mặt lý thuyết rằng sau chủ nghĩa đế quốc hiện nay có thể có một giai đoạn mới của chủ nghĩa tư bản — siêu đế quốc. Ngày nay sự phát triển đang đi theo hướng tiến tới một tập đoàn độc quyền toàn thế giới duy nhất, nuốt chửng tất cả các doanh nghiệp và quốc gia không ngoại lệ. Nhưng sự phát triển tiến tới độc quyền toàn thế giới diễn ra trong những hoàn cảnh, với tốc độ, với những mâu thuẫn, xung đột và biến động như vậy — không chỉ về kinh tế mà cả chính trị, dân tộc, văn hóa, v.v. — đến mức trước khi đạt tới một tập đoàn độc quyền toàn thế giới, đạt tới sự hợp nhất toàn cầu "siêu đế quốc" của các tư bản tài chính quốc gia, chủ nghĩa đế quốc chắc chắn sẽ phải nổ tung, chủ nghĩa tư bản sẽ biến thành cái đối lập của nó.
Tại sao nhất định sẽ nổ tung, nếu sự thối rữa của chủ nghĩa tư bản không loại trừ sự tăng trưởng của nó? Bởi vì sự tăng trưởng không loại bỏ mà làm tăng cường mâu thuẫn chính yếu và không lối thoát, vốn luôn tồn tại trong chủ nghĩa tư bản, cái mâu thuẫn liên tục được tái sản xuất cùng với đà phát triển của chủ nghĩa tư bản và nảy sinh ra tất cả các mâu thuẫn khác. Mâu thuẫn này chỉ có thể tìm thấy lời giải trong cách mạng xã hội.
Tuy nhiên, một số người "cánh tả" cố gắng phân định rạch ròi giữa cách mạng chính trị và cách mạng xã hội. Điều này cần thiết để chứng minh rằng cách mạng trong chủ nghĩa tư bản hiện đại có thể và phải thực hiện một cách hòa bình, thông qua "dân chủ kinh tế", mà không cần cách mạng chính trị, tức là không cần nội chiến và chuyên chính vô sản. Họ cố gắng dùng "kiểu Marx khoa học" để làm người công nhân nản lòng trước mọi phong trào cách mạng, khẳng định rằng không phải những thay đổi chính trị mà giai cấp vô sản cần, mà chỉ có sự thay đổi các điều kiện vật chất của cuộc sống, các quan hệ kinh tế mới có thể mang lại lợi ích cho giai cấp công nhân. Nhưng dưới danh nghĩa thay đổi các điều kiện vật chất của cuộc sống, những người "dân chủ kinh tế" không hiểu đó là việc xóa bỏ các điều kiện sản xuất tư sản (điều chỉ có thể thực hiện bằng cách mạng và giành lấy chính quyền), mà là những cải cách hành chính trên nền tảng chủ nghĩa tư bản. Mà những cải cách như vậy không làm thay đổi gì trong quan hệ giữa tư bản và lao động làm thuê, mà chỉ làm giảm chi phí thống trị cho giai cấp tư sản và đơn giản hóa bộ máy quản lý nhà nước.
Lịch sử chưa bao giờ là một đường thẳng của sự tiến bộ mà không có các hiện tượng thoái lui, lắng xuống, thụt lùi, suy tàn, thoái hóa và diệt vong của các nền văn hóa riêng lẻ. Nhưng nhìn chung, đường lối phát triển đặc trưng bởi việc lật đổ bằng bạo lực sự thống trị chính trị của các giai cấp này, việc chiếm lấy (chứ không phải chuyển giao hòa bình) quyền lực chính trị của các giai cấp khác (những giai cấp đưa xã hội lên một bậc thang lịch sử cao hơn, đi kèm với sự tiến bộ của lực lượng sản xuất) vẫn luôn tự mở đường cho mình. Vậy có căn cứ gì để nghĩ rằng việc lật đổ chủ nghĩa đế quốc sẽ đi theo một con đường khác?
Do đó, quy luật chung của cách mạng xã hội có nội dung như sau: 1) mâu thuẫn động lực cơ bản của mọi xã hội có giai cấp là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, 2) mâu thuẫn này là không lối thoát, không thể giải quyết trong khuôn khổ hình thái xã hội hiện tại, và việc giải quyết nó chỉ có thể thông qua cách mạng xã hội; bằng những cải cách đối với một trật tự xã hội cũ kỹ và lỗi thời chỉ có thể trì hoãn, làm chậm lại cái chết của nó chứ không thể ngăn chặn được nó.
Nằm ở điểm khởi đầu chung của tất cả các mâu thuẫn kinh tế và chính trị của chủ nghĩa tư bản chính là mâu thuẫn cơ bản này. Tất cả các mâu thuẫn kinh tế và chính trị là những hình thức biểu hiện của mâu thuẫn cơ bản, thứ tạo nên bản chất của chúng. Mâu thuẫn cốt lõi này của xã hội tư bản ngày nay được thể hiện qua các mâu thuẫn: a) giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, b) giữa các quốc gia đế quốc chủ chốt, c) giữa các cường quốc này và các quốc gia đế quốc "hạng hai" đang tham vọng vai trò dẫn đầu thế giới, d) giữa các quốc gia đế quốc xâm lược và các nước tư bản không xâm lược, đ) giữa các cường quốc đế quốc hàng đầu và nhân dân các nước nửa thuộc địa và phụ thuộc. Để các nhà tư bản có thể loại bỏ tận gốc tất cả các mâu thuẫn này, tức là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, họ buộc phải ngừng làm nhà tư bản. Tính chất không lối thoát của mâu thuẫn cơ bản trong phạm vi chủ nghĩa tư bản làm cho cuộc đấu tranh giữa các giai cấp trở thành một cuộc đấu tranh không thể điều hòa. Đây chính là toàn bộ cốt lõi của học thuyết Marx về đấu tranh giai cấp.
Tai họa và sai lầm của những người ủng hộ cuộc "cách mạng kinh tế" hòa bình nằm ở chỗ sau đây. Cách mạng có sứ mệnh loại bỏ xung đột giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, phá vỡ các quan hệ sản xuất đã trở nên hư hỏng, trở thành xiềng xích cho sự phát triển của lực lượng sản xuất. Đó là những nhiệm vụ kinh tế của cách mạng. Điều này tất cả những người cánh tả đều thừa nhận. Nhưng hệ thống quan hệ sản xuất cũ không treo lơ lửng trên không trung. Nó được bảo vệ bởi sức mạnh chính trị của giai cấp thống trị — chính là nhà nước của họ. Từ đó nảy sinh nhiệm vụ giành lấy (chứ không phải "được nhận như một món quà") quyền lực chính trị của giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tương lai tiến bộ hơn. Cách mạng xã hội không thể dừng lại ở việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế, nó phải đồng thời là một cuộc cách mạng chính trị. Trong những điều kiện như vậy, chính trị với tư cách là biểu hiện tập trung của kinh tế có vị trí ưu tiên hơn so với kinh tế. Các nhiệm vụ chính trị của cách mạng là quyết định trong toàn bộ sự phát triển của cách mạng xã hội. Chúng đóng vai trò định hướng cho các nhiệm vụ kinh tế, tư tưởng, văn hóa và các nhiệm vụ khác của cách mạng. Sự phát triển kinh tế "tự thân" không giải quyết được bất kỳ nhiệm vụ nào của cách mạng xã hội. Bởi vì giai cấp thống trị nắm giữ nhà nước và các tư liệu sản xuất vật chất, nên họ cũng nắm giữ các phương tiện sản xuất tinh thần. Do đó họ thống trị cả khối quần chúng không có những phương tiện đó. Vì vậy, một cuộc "cách mạng kinh tế" mà không chiếm lấy quyền lực chính trị là một điều phi lý. Mà việc chiếm lấy quyền lực chính trị trong một xã hội có giai cấp mà không dùng bạo lực đối với giai cấp lỗi thời là điều không thể.
Cách mạng — với tư cách là biểu hiện cao nhất của đấu tranh giai cấp — là sự thống nhất của cả ba hình thức đấu tranh này: kinh tế, chính trị và tư tưởng. Nó là sự thống nhất của cách mạng kinh tế, chính trị và tư tưởng, nhưng là một sự thống nhất mà trong đó vai trò quyết định thuộc về cuộc đấu tranh chính trị và các nhiệm vụ chính trị của giai cấp cách mạng. Đúng là ở các giai đoạn khác nhau của cách mạng, mặt này hay mặt kia sẽ nổi lên như một nhiệm vụ cấp bách hàng đầu. Nhưng nền tảng và kim chỉ nam cho hành động vẫn luôn là chính trị của giai cấp. Nhiệm vụ đầu tiên của mọi đảng phái tương lai là thuyết phục đa số nhân dân về tính đúng đắn của chương trình và chiến thuật của mình. Nhiệm vụ thứ hai của đảng là giành lấy quyền lực chính trị và đập tan sự kháng cự của giai cấp thống trị cũ. Nhiệm vụ thứ ba của đảng là tổ chức quản lý đất nước.
Những người cộng sản, trước hết là ở Nga, cần phải giải quyết nhiệm vụ thứ nhất. Để làm được điều đó, cần phải chuẩn bị trước một tổ chức của những người cách mạng, một chương trình và chiến thuật rõ ràng, dễ hiểu đối với quần chúng, phù hợp với các điều kiện của chủ nghĩa phát-xít và chiến tranh đế quốc. Để chuẩn bị cho việc giành chính quyền chính trị, một trong những điều kiện là "tầng lớp bên dưới không muốn" sống theo cách cũ nữa. Ngày nay, số lượng những người như vậy ở tầng lớp dưới đang tăng lên, điều mà chủ yếu do chính phủ "chăm lo" thực hiện chứ không phải những người cách mạng. Nhưng điều đó vẫn là chưa đủ. Cần phải thuyết phục quần chúng từ trước, để "tầng lớp bên dưới" muốn sống theo cách mới, cụ thể là: không có chủ nghĩa tư bản, chống lại nó, đấu tranh cho chủ nghĩa cộng sản. Thuyết phục quần chúng về điều này hoàn toàn là nhiệm vụ của những người cách mạng vô sản, của tổ chức của họ.
Tổng kết. Tất cả những ai không mù quáng và trung thực đều thấy quanh mình rằng, trong một xã hội bị chia cắt thành các giai cấp, sự chuyển động từ hình thái xã hội này sang hình thái xã hội khác cao hơn diễn ra trên cơ sở sự phát triển nội tại của chính xã hội đó và không thể diễn ra bằng cách nào khác ngoài cách mạng. Các nhà tư bản sẽ không bao giờ tự mình giao quyền lực, công cụ và tư liệu sản xuất cho người lao động. Tất cả những thứ đó người lao động chỉ có thể tước đoạt bằng sức mạnh. Không một cuộc cải cách, sự chờ đợi chủ nghĩa tư bản kết thúc hay sự tự diễn biến nào có thể mang lại cho giai cấp vô sản và quần chúng lao động tự do, bánh mì, hòa bình, nước uống, cuộc sống con người, hay cứu lực lượng sản xuất chính khỏi sự thoái hóa. Hệ quả là, cách mạng là một tất yếu lịch sử trong sự phát triển của mọi xã hội dựa trên sự đối kháng, bóc lột và tư hữu. Nó đòi hỏi giai cấp bị áp bức phải chuẩn bị trước lực lượng và phương tiện để thực hiện nó, chứ không phải chờ đợi cho đến khi một tình huống thuận lợi xảy đến, vì điều đó cũng giống như chuẩn bị quân đội cho chiến tranh sau khi chiến tranh đã bắt đầu. Một đội quân như vậy sẽ bị đánh bại. Điểm khởi đầu của cách mạng là cuộc xung đột giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Nhiệm vụ của cách mạng là tiêu diệt hệ thống quan hệ sản xuất hiện tại và thiết lập phương thức sản xuất mới. Phương tiện của nó là việc chiếm lấy quyền lực chính trị từ phía giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tương lai này.