ẢNH HƯỞNG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA QUỐC TẾ CỘNG SẢN ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM



ẢNH HƯỞNG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA QUỐC TẾ CỘNG SẢN ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM

(trên cơ sở phân tích ấn phẩm của TS. Hồ Thị Tố Lương, Quốc tế Cộng sản và Cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2007)

TÓM TẮT

Bài viết trình bày những ảnh hưởng về tư tưởng chính trị của Quốc tế Cộng sản đối với Đảng Cộng sản Đông Dương qua ấn phẩm của tác giả Hồ Thị Tố Lương, trong đó những tác động ấy được thể hiện qua ba con đường: việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin; thông qua các Nghị quyết Đại hội của QTCS và các chỉ thị của Bộ Phương Đông; thông qua việc QTCS đào tạo và bồi dưỡng cho cách mạng Việt Nam đội ngũ cán bộ cách mạng.

Đồng thời bài viết cũng trình bày những nhận định của tác giả đối với những ảnh hưởng về tư tưởng và chính trị của QTCS đối với Đảng Cộng sản Đông Dương. Bên cạnh đúc kết những nhận xét chủ yếu của tác giả trong ấn phẩm, nhóm em cũng xin đưa ra một vài góp ý đối với cuốn sách của tác giả.

1. Đặt vấn đề

Với khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!”, Quốc tế Cộng sản do V.I. Lê-nin sáng lập và lãnh đạo, trong suốt thời gian tồn tại thì đây là một tổ chức cách mạng quốc tế rộng nhất. Gắn liền với Quốc tế Cộng sản là một quá trình lịch sử hình thành và phát triển và củng cố phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc. Quốc tế Cộng sản đã chỉ đạo và giúp đỡ việc thành lập các đảng cộng sản ở các nước theo đảng kiểu mới của Lê-nin; đã xác định đường lối chiến lược và sách lược cho phong trào cộng sản, công nhân và phong trào giải phóng dân tộc.

Quốc tế Cộng sản cũng đã phát triển toàn diện về vấn đề dân tộc và thuộc địa trên cơ sở vạch ra con đường đấu tranh cho các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc, cũng như sự phối hợp giữa phong trào phong trào cộng sản đối với phong trào giải phóng dân tộc. Với đường lối chính trị đúng đắn về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Quốc tế Cộng sản đã nêu cao tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc phương Đông với giai cấp vô sản phương Tây. Tuy có lúc phong trào của giai cấp vô sản tạm thời thoái trào, song uy tín của Quốc tế Cộng sản ngày càng gia tăng. Từ chỗ chỉ có 10 Đảng Cộng sản lúc ban đầu thành lập, trong vòng 2 năm đã tăng lên 48 Đảng. Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, nhanh chóng sau đó đã trở thành một chi bộ của Quốc tế Cộng sản (4/1931), từ đây cách mạng Việt Nam hòa nhập vào dòng thác cách mạng thế giới.

Đối với Cách mạng Việt Nam, Quốc tế Cộng sản cũng đã có những ảnh hưởng và đóng góp vô cùng quan trọng. Quốc tế Cộng sản đã có vai trò to lớn đối với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, luôn theo sát, giúp đỡ và chỉ đạo cụ thể đối với tình hình cách mạng Việt Nam. Nhờ đó mà Đảng Cộng sản Việt Nam vượt qua nhiều khó khăn, thử thách và không ngừng trưởng thành.

Bằng nhiều hình thức khác nhau, Quốc tế Cộng sản đã gây được những ảnh hưởng to lớn đến Đảng và Cách mạng Việt Nam, qua đó đã để lại những bài học và giá trị không phai mờ, trong đó đáng chú ý là bài học về giải quyết quan hệ giai cấp và dân tộc; về trách nhiệm dân tộc và nghĩa vụ quốc tế, về đoàn kết trong Đảng, đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế; bài học xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; và nhiều bài học khác nữa. Nhưng đồng thời, bên cạnh những đóng góp tích cực, một số sai lầm, tiêu cực cũng đã diễn ra và tác động đến Đảng và Cách mạng Việt Nam.

2. Ảnh hưởng về tư tưởng chính trị của Quốc tế Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam.

2.1 Thông qua việc truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lê-nin

Cùng với việc nghiên cứu và hoàn thiện chiến lược và sách lược về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Quốc tế Cộng sản đã tiến hành hàng loạt hoạt động truyên bá tư tưởng cách mạng vô sản vào phương Đông trong đó có Việt Nam, nhằm thúc đẩy phong trào yêu nước ở phương Đông đi theo khuynh hướng cách mạng vô sản.

Một trong những nỗ lực theo hướng đó là Quốc tế Cộng sản thành lập những trung tâm truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin cho các nước phương Đông.

Ngay sau Đại hội II, Quốc tế Cộng sản đã chú ý việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Đông Dương. Trung tâm truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin ở Viễn Đông sau khi thành lập đã vạch kế hoạch tuyên truyền cộng sản vào Trung Quốc, Đông Dương, Singapore. Một bức điện đề ngày 25/4/1920 của Lãnh sự Pháp tại Vladivostok báo cáo về Bộ thuộc địa Pháp là một cơ quan lãnh đạo việc tuyên truyền của cộng sản đã được thành lập tại đây. Cơ quan này dự định sẽ tổ chức các trung tâm tuyên truyền tại Thượng Hải, Sài Gòn và Singapore.

Để tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Quốc tế Cộng sản đã chỉ thị cho các đảng cộng sản in các tài liệu mác-xít và chuyển về Việt Nam. Đảng Cộng sản Pháp, phân bộ của Quốc tế Cộng sản, đã có những đóng góp vào việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam. Đảng Cộng sản Pháp đã in và gửi sang Việt Nam hàng nghìn bản in những tác phẩm của các nhà kinh điểm chủ nghĩa Mác – Lê-nin: Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Làm gì?, Hai sách lược của Đảng Dân chủ - xã hội trong cách mạng dân chủ, Bệnh ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản; báo Nhân đạo, báo Người cùng khổ, tập san Những vấn đề của chủ nghĩa Bôn-sê-vích; các văn kiện Các luận cương và nghị quyết của Đại hội lần thứ VI Quốc tế Cộng sản, các văn kiện chỉ đạo và bí mật, … Với sự giúp đỡ, các nhà cách mạng Việt Nam ở Pari đã xuất bản nhật báo Việt Nam hồn, hàng tháng xuất bản 5.000 bản bằng cả tiếng Pháp và Việt, phổ biến rộng rãi ở Đông Dương và Pháp.

Sách báo mác-xít, tài liệu tuyên truyền có tác động to lớn đối với phong trào cách mạng Việt Nam và tư tưởng các chiến sĩ cách mạng. Họ được vũ trang bằng lý luận cách mạng và khoa học của giai cấp công nhân, nâng cao trình độ nhận thức của họ và cải tạo họ trở thành những lực lượng cách mạng có thể đáp ứng khả năng lãnh đạo phong trào cách mạng tại nước mình.

2.2 Thông qua các Nghị quyết, chỉ đạo cách mạng

Quốc tế cộng sản có đóng góp to lớn với sự phát triển của phong trào cach mạng thế giới, ngoài việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin, thành lập Đảng cộng sản, và dẫn dắt phong trào cách mạng đi đúng hướng, thì Quốc tế Cộng gây ảnh hưởng dựa trên các Nghị quyết của Đại hội Quốc tế Cộng sản, các chỉ thị của các Bộ khu vực, đó là những cơ sở căn bản để lãnh đạo phong trào cách mạng ở các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Trong những năm hoạt động của mình tính Quốc tế Cộng sản đã tồn tại 24 năm và phát triển từ 1919-1943, Quốc tế Cộng sản đã tổ chức được 7 kỳ đại hội. Thông qua các kỳ đại hội Quốc tế Cộng sản đã giúp các tổ chức cách mạng, các đảng cộng sản, bằng những đường lối chỉ đạo của mình, trong đó Đại hội VI và Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản có những ảnh hưởng sâu sắc đến Đảng Cộng sản Đông Dương và cách mạng Việt Nam.

Đề cương về phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa là văn kiện chính trị quan trọng đối với các dân tộc bị đế quốc thống trị. Đề cương và các văn kiện khác của Đại hội Quốc tế Cộng sản được bí mật chuyển đến Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và đã ảnh hưởng trực tiếp đến phong trào cách mạng Việt Nam trong những năm 1928 – 1930. Lúc này, nhiều thanh niên tiên tiến trong tổ chức này và các tổ chức khác bước đầu tiếp thu lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin thông qua những tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc, những bài giảng chính trị của Nguyễn Ái Quốc và các văn kiện của Quốc tế Cộng sản, sách báo mác-xít.

Từ giữa năm 1929 đến đầu năm 1930, do kết quả của việc truyền bá Chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước, ở Việt Nam xuất hiện ba tổ chức cộng sản. Tuy nhiên trong một lúc sự xuất hiện của ba tổ chức cộng sản hoạt động riêng lẻ đã dẫn đến sự xáo trộn nhất định, mặc dù tán thành Đề cương về phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa của Quốc tế Cộng sản và đều muốn Quốc tế Cộng sản công nhận mình. Điều đó cũng cho thấy uy tín lớn lao của Quốc tế Cộng sản và ảnh hưởng của các nghị quyết Đại hội VI của Quốc tế Cộng sản. Theo dõi sát tình hình, ngày 18/10/1929, Hội đồng Ban bí thư phương Đông thuộc Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản đã họp để thảo luận về vấn đề Đông Dương. Sau khi xem xét các văn kiện của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên và những thông tin về Đông Dương. Ban bí thư phương Đông quyết định thảo ra Dự thảo Nghị quyết về việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương và những nhiệm vụ sắp tới của những người cộng sản Đông Dương.

Tiếp theo, ngày 27/10/1929, Quốc tế Cộng sản gửi cho những người cộng sản ở Đông Dương tài liệu Về việc thành lập một đảng cộng sản ở Đông Dương. Quốc tế Cộng sản khẳng định ở Đông Dương đã có đủ những điều kiện khách quan cho một cuộc cách mạng tư sản dân chủ và “Sự trưởng thành của phong trào cách mạng ở Đông Dương, lòng căm thù của quần chúng nhân dân đông đảo đối với chủ nghĩa đế quốc Pháp, và đặc biệt là sự phát triển của phong trào công nhân độc lập và sự tồn tại của các tổ chức cộng sản trong nước, đang tạo ra những điều kiện cần thiết và sự cần thiết cấp bách là phải tổ chức một Đảng Cộng sản Đông Dương”. (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảnh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t.1, tr.614)

Quốc tế Cộng sản phê phán những hiện tượng bè phái, chia rẽ trong các tổ chức cộng sản, thái độ lừng chừng trong việc thành lập ngay một đảng cộng sản, bởi vì: “Việc thiếu một đảng cộng sản duy nhất trong lúc phong trào quần chúng công nhân và nông dân ngày càng phát triển, đã trở thành một điều nguy hiểm vô cùng cho tương lai trước mắt của cuộc cách mạng ở Đông Dương” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảnh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t.1, tr.614). Quốc tế Cộng sản đã đề ra nhiệm vụ cấp bách là phải nhanh chóng thành lập một đảng cộng sản duy nhất ở Đông Dương.

Trong bản tài liệu đó, Quốc tế Cộng sản còn chỉ ra những nguyên tắc cơ bản và biện pháp xây dựng đảng Mác – Lê-nin và hướng dẫn cách tiến hành hợp nhất các phần tử cộng sản thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Quốc tế Cộng sản yêu cầu những người cộng sản Đông Dương phải gấp rút tiến hành những công tác cụ thể trước mắt: thành lập ngay một ban liên hợp gồm các đại biểu của tất cả các tổ chức thừa nhận Cương lĩnh, Điều lệ và Nghị quyết của Quốc tế Cộng sản và tích cực hoạt động trong công nhân và nông dân. Ban đó làm nhiệm vụ của một Ban chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng Cộng sản Đông Dương, làm nhiệm vụ tập hợp tất cả những người cộng sản lại thành một Đảng Cộng sản duy nhất và lãnh đạo mỗi công tác của Đảng.

Quốc tế Cộng sản chỉ thị những người cộng sản Đông Dương phải nỗ lực phấn đấu nhanh chóng tiến tới Đại hội Đảng để bầu ra Ban chấp hành Trung ương chính thức để đề ra đường lối chiến lược, sách lược cho toàn Đảng và đặt quan hệ chính thức với Quốc tế Cộng sản.

Tài liệu nói trên của Quốc tế Cộng sản là một văn kiện chính trị rất quan trọng đối với cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ. Nó góp phần giải quyết những mâu thuẫn nội bộ, chấm dứt sự gây chia rẽ trong hàng ngũ những nhóm cộng sản và thúc đẩy việc thành lập một đảng cộng sản duy nhất trong cả nước. Đồng chí Trần Phú nhận định: “Bức thư của Quốc tế Cộng sản có một ảnh hưởng quyết định trong việc thống nhất Đảng” (Bùi Công Trừng: “Nhớ lại việc thống nhất Đảng”, Báo Nhân dân, ngày 10/12/1959, tr.2).

Ngày 31/10/1929, Ban bí thư Phương Đông đã gửi cho các ủy viên Ủy ban bản Nghị quyết về việc thành lập một đảng cộng sản Đông Dương. Ban bí thư các nước phương Đông yêu cầu các đồng chí ủy viên nhận xét trước khi Ban bí thư chính trị thông qua bản Nghị quyết chính thức. Sau đó, Tiểu ban chính trị của Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản đã ra nghị quyết đặt nhiệm vụ thống nhất các nhóm cộng sản ở Đông Dương và đưa ra những kiến nghị tổ chức về các phương pháp và biện pháp thành lập Đảng.

Sau cao trào của Xô viết Nghệ - Tĩnh, phong trào cách mạng Đông Dương bị thực dân Pháp đàn áp và khủng bố một cách tàn khốc, nhiều cơ sở cách mạng bị tan rã, phong trào tạm thời thoái lùi. Được sự giúp đỡ của Ban phương Đông mà người đứng đầu là đồng chí V. Vasilievna, Ban chấp hành Trung ương lâm thời đã công bố chương trình hành động của Đảng Cộng sản Đông Dương. Văn kiện này được Quốc tế Cộng sản thông qua và đăng trên tạp chí Quốc tế Cộng sản số 34-1932. Chương trình hành động là bản Cương lĩnh hành động của Đảng ta ra đời trong hoàn cảnh tạm thời thoái trào của cách mạng, văn kiện đã đề ra những nhiệm vụ trong tình hình mới. Bản Chương trình hành động gồm có hai phần: những nhiệm vụ căn bản của cách mạng Đông Dương và con đường cách mạng đấu tranh.

Để giúp đỡ các đồng chí cách mạng Việt Nam trước khi trở về Tổ quốc hoạt động, Tạp chí Quốc tế Cộng sản, số 4-1934, đã đăng bài Đàm thoại với các đồng chí Đông Dương của tác giả Oóc-van, dưới dạng một bài phỏng vấn gồm 24 câu hỏi và trả lời, tác giả nói lên những chỉ dẫn chính thức của Ban phương Đông với cách mạng Việt Nam đang trong thời kỳ phục hồi của phong trào.

Ngày 20/12/1934, Ban phương Đông Quốc tế Cộng sản đã gửi một bức điện nêu rõ, vì cân nhắc những đặc điểm đặc biệt của tình hình Đông Dương, nên Ban phương Đông đã thông qua nghị quyết thành lập Ban Chỉ huy hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương như một cơ quan lâm thời, tồn tại song song với Trung ương, nhưng có nhiệm vụ đặc biệt: Liên lạc giữa TW Đảng Cộng sản Đông Dương với Quốc tế Cộng sản; Tập hợp và đào tạo cán bộ đảng cho đất nước; Xuất bản tạp chí Bônsơvích, cơ quan lý luận của TW Đảng. Như vậy, lúc này Ban Chỉ huy hải ngoại của Đảng tồn tại song song với Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ban Chỉ huy hải ngoại phải thực hiện việc đào tạo cán bộ, giáo dục đảng viên, đồng thời phải vạch ra phương hướng sửa chữa sai lầm, thiếu sót trong công tác tổ chức, lãnh đạo phong trào và chuẩn bị Đại hội lần thứ nhất của Đảng ta. Về danh nghĩa, Ban Chỉ huy hải ngoại là cơ quan có quyền hạn cao hơn Ban chấp hành Trung ương, chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ Quốc tế Cộng sản, nhưng trong thực tế, Ban Chỉ huy hải ngoại đã làm nhiệm vụ của Ban Chấp hành Trung ương lâm thời, vì thế đó là tổ chức đặc biệt của Đảng ta trong thời kỳ thoái trào của cách mạng.

Trước bối cảnh nguy cơ chiến tranh đế quốc ngày càng xích gần sau khi cuộc tổng khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản diễn ra vào năm 1929-1933, đã phá vỡ sự ổn định của hệ thống tư bản chủ nghĩa, gây ra những biến động toàn diện trong hệ thống thuộc địa. Chính ở chỗ cạnh tranh sâu sắc về thị trường thuộc địa đã đẩy các nước đế quốc mâu thuẫn ngày càng lớn. Cùng với sự mâu thuẫn giữa các cường quốc đang gay gắt, giai cấp tư sản lũng đoạn đã đẩy cuộc tấn công chính trị, tăng cường đàn áp tất cả các phong trào cách mạng, các đảng phái chính trị, các tổ chức quần chúng để thủ tiêu quyền tự do dân chủ và chuẩn bị cuộc tiến công quân sự vào Liên Xô và chia lại thị trường thế giới. Đứng trước bối cảnh phức tạp đó, vào tháng 7/1935 Quốc tế Cộng sản đã quyết định triệu tập Đại hội lần thứ VII để quyết định đường lối chiến lược và sách lược cho phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc.

Sau Đại hội VII, Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản chỉ thị cho Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng ta cần chuyển ngay về trong nước để cùng Ban Chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo phong trào cách mạng. Đồng chí Lê Hồng Phong với tư cách là Ủy viên chính thức Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản được bầu ở Đại hội VII Quốc tế Cộng sản và là người đứng đầu Ban Chỉ huy hải ngoại đã quyết định triệu tập Hội nghị Ban chấp hành Trung ương để nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết Đại hội VII Quốc tế Cộng sản, đề ra sự chỉ đạo mới phù hợp với tình hình của cách mạng.

Hội nghị Ban chấp hành Trung ương họp tháng 7/1936 tại Thượng Hải do Lê Hồng Phong chủ trì. Hội nghị đã truyền đạt Nghị quyết Đại hội VII Quốc tế Cộng sản, Báo cáo của đồng chí Dimitrov và đề ra sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, thay đổi sách lược. Vận dụng tinh thần Nghị quyết Đại hội VII Quốc tế Cộng sản, căn cứ vào tình hình cụ thể của cách mạng trong nước và thế giới, Hội nghị đã bổ sung những thiếu sót của Nghị quyết Đại hội lần thứ nhất của Đảng ta. Hội nghị chỉ rõ nhiệm vụ chiến lược chống đế quốc và chống phong kiến vẫn không thay đổi so với Luận cương tháng 10/1930, song căn cứ vào tình hình hiện tại thì đây không phải là nhiệm vụ trực tiếp trước mắt, vì vậy Hội nghị tạm gác khẩu hiệu “đánh đổ đế quốc Pháp”, “Độc lập dân tộc” và “Người cày có ruộng” để chĩa mũi nhọn vào bộ phận phản động nhất là phát xít Pháp và phát xít quốc tế, bọn phản động thuộc địa và tay sai. Đường lối đó là sự phối hợp với cuộc đấu tranh của nhân dân các nước, trước hết là nhân dân Pháp, ủng hộ Mặt trận nhân dân Pháp, đòi chính phủ ban hành và thực hiện các quyền tự do dân chủ cơ bản, cải thiện đời sống cho nhân dân. Hội nghị cũng chủ động phê phán và ngăn ngừa với các xu hướng tả khuynh và hữu khuynh, những quan niệm bảo thủ không nhạy bén với sự phát triển của tình hình mới, bám lấy đường lối cũ, sách lược cũ.

Đầu năm 1938, khi Mặt trận bình dân Pháp bị suy yếu, Chính phủ Pháp nghiêng dần về phía hữu. Bọn thực dân Đông Dương quay trở lại đàn áp phong trào cách mạng. Trước tình hình đó, ngày 16/9/1938, Ban bí thư Ban chấp hành Quốc tế Cộng sả đã họp và đề nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Pháp giúp đỡ Đảng Cộng sản Đông Dương bằng các biện pháp: Tăng cường công tác của các đại biểu trong nghị viện Pháp; Đẩy mạnh chiến dịch đòi ân xá tù chính trị Đông Dương; Tổ chức thông tin các vấn đề Đông Dương lên báo Nhân đạo và các báo cộng sản của Pháp; Giúp Đảng Cộng sản Đông Dương bằng cách gửi sách báo.

Tư sau Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản cùng với sự cải tổ giao quyền hạn nhiều hơn cho các Đảng Cộng sản (1938), sự hợp tác giữa Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Đông Dương giảm dần. Đến năm 1940 cùng với tình hình phức tạp của Đông Dương mối liên lạc đã bị cắt đứt. Đảng Cộng sản Đông Dương và những người cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục cuộc tranh đấu của mình khi đã được trang bị bằng những Nghị quyết của Quốc tế Cộng sản. Dưới sự lãnh đạo của đại biểu Quốc tế Cộng sản – Nguyễn Ái Quốc, khi Người về nước năm 1941 đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8 quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng ta đúng với tình hình phát triển của đất nước và nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu.

2.3 Thông qua việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ

Một trong những điều kiện để tiến tới thành lập một đảng cách mạng vô sản là phải có một đội ngũ cán bộ, hạt nhân của phong trào quần chúng công nông. Họ là những người nắm được lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và biết vận dụng nó vào thực tiễn nước mình.

Nước Nga Xô viết với tư cách là Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới đã tuân thủ những Nghị quyết của Quốc tế Cộng sản đó là thành lập Trường Đại học phương Đông (1921 - 1938), Viện Nghiên cứu những vấn đề dân tộc và thuộc địa và Trường Quốc tế Lê-nin, đào tạo đội ngũ cán bộ cách mạng cho các nước làm hạt nhân cho phong trào cách mạng của quần chúng công nông.

+ Trường Đại học Phương Đông:

Trong suốt thời gian hoạt động của mình, Trường đã đào tạo nhiều nhà cách mạng chuyên nghiệp không những ở phương Đông Xô viết mà còn cho cả các nước thuộc địa và nữa thuộc địa. Các học viên được đào tạo những môn lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, kinh tế chính trị học, lịch sử phong trào cách mạng các nước trên thế giới, lịch sử đảng công sản (B) Nga, chủ nghĩa duy vật lịch sử, lịch sử Quốc tế Cộng sản, kinh tế chính trị và xã hội Xô viết, chủ nghĩa Lê-nin, chủ nghĩa xã hội khoa học, chủ nghĩa duy vật biện chứng, khoa học tự nhiên theo quan điểm duy vật. Các lớp dài hạn còn học thêm kiến thức quân sự nhằm bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng chuẩn bị tổ chức lực lượng và chỉ đạo đấu tranh vũ trang khi cần thiết.

Những ấn phẩm của Trường đóng vai trò quan trọng trong việc trang bị cho sinh viên những hiểu biết về các vấn đề có tầm chiến lược trong phong trào giải phóng dân tộc và lịch sử, văn hóa của các dân tộc phương Đông.

Mục đích của Trường đào tạo cho những học viên nước ngoài, trang bị những hiểu biết về các vấn đề có tầm chiến lược trong phong trào giải phóng dân tộc và về lịch sử, văn hóa của các dân tộc phương Đông. Nguyễn Ái Quốc viết “Việc thành lập Trường Đại học Phương Đông đánh dấu một kỷ nguyên mới; trong khi tập hợp những người trẻ trung, hoạt bát, thông minh của các nước thuộc địa lại, nhà trường đang tiến hành một sự nghiệp vĩ đại” (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t.2, tr.123-124). Nguyễn Ái Quốc còn khẳng định: “Có thể nói không ngoa rằng Trường Đại học phương Đông ôm ấp dưới mái trường mình tất cả tương lai của các dân tộc thuộc địa” (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t.1, tr.301.).

Đối với Việt Nam, Trường Đại học phương Đông đóng vai trò vô cùng to lớn trong việc đào tạo đội ngũ các chiến sĩ cách mạng chuyên nghiệp. Nguyễn Ái Quốc đã theo một lớp ngắn hạn ở Trường Đại học phương Đông. Sau Nguyễn Ái Quốc, những người Việt Nam nhập học ở Trường bằng hai con đường: từ Pháp và Trung Quốc. Ở Pháp, Nguyễn Thế Truyền và Hoàng Quang Giụ là những người giới thiệu những người Việt Nam cho Đảng Cộng sản Pháp gửi sang Liên Xô học. Việc tuyển chọn các học viên được Quốc tế Cộng sản lưu tâm, họ có các đặc phái viên tại chỗ lo chuyện đấy, tại Pháp do A.L. Radumôva đảm nhận. Nhóm sinh viên Việt Nam – Nguyễn Thế Rục, Nguyễn Thế Vinh đi học năm 1925, Nguyễn Văn Dị và Ngô Đức Trì đi học năm 1926, Trần Đình Long Nguyễn Thế Thạch đi học năm 1928.

Ở Trung Quốc, Quốc Dân đảng đã tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam bí mật sang Nga học, mãi khi xảy ra sự phản bội của Tưởng Giới Thạch 4/1927 thì ngừng. Sau đó Đảng Cộng sản Trung Quốc giúp đỡ, tạo điều kiện cho các sinh viên Việt Nam sang Liên Xô. Tại Trung Quốc, M. M. Bôrôđin và Nguyễn Ái Quốc tuyển chọn những thanh niên ưu tú nhất trong Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên để gửi đến Trường Đại học Phương Đông. Trong đó có Trần Phú, Lê Hồng Phong đi học 1926, và nhiều người sau đó nữa.

+ Trường Quốc tế Lê-nin

Trường Quốc tế Lê-nin là trường dành đào tạo cho các lãnh tụ của các phong trào cộng sản quốc tế, các khóa học được tổ chức bởi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản và được hướng dẫn bởi những người cộng sản nổi tiếng lúc bấy giờ, căn cứ vào nghị quyết Đại hội V (1924) về việc quốc tế hóa các đảng cộng sản. Các khóa học này đã trở thành “các khóa học đặc biêt của đảng”, thực hiện các bài giảng trong lĩnh vực lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa cộng sản.

Trường Quốc tế Lê-nin có nhiệm vụ giúp các chi bộ của Quốc tế Cộng sản trong việc nâng cao trình độ các cán bộ lãnh đạo, “kinh nghiệm cách mạng của họ, một mặt, phải được đào sâu thêm qua việc đào tạo chung về chính trị chủ nghĩa Mác – Lê-nin, mặt khác, kinh nghiệm ấy phải được mở rộng bằng con đường trực tiếp và tích cực nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức - chính trị của Đảng Cộng sản (B) toàn Liên Xô, của phong trào cách mạng, cũng như kinh nghiệm và hoạt động hiện tại của các Đảng Cộng sản ở nước khác – các đảng cộng sản ở những nước thuộc địa” (A.A. XôCôLốp (1999), Quốc tế Cộng sản và Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội, tr.35).

Trường Quốc tế Lê-nin, chủ yếu là đào tạo những người cán bộ ở cấp quy mô của đảng như: Trung ương, tỉnh, quận, trong các lĩnh vực công tác khác nhau. Việc tuyển chọn những người học ở trường này khó hơn nhiều so với Trường Đại học Phương Đông “Những người được gửi đến học Trường Quốc tế Lê-nin là những người đã được kiểm tra trong công tác lãnh đạo của đảng, đã trải qua trường học đấu tranh giai cấp, trường học công tác đảng ở các cơ sở và lãnh đạo ở công tác đảng ở cơ sở; đồng thời ưu tiên dành cho thành phần công nhân và những ứng cử viên vào trường này phải ấn định trình độ kiến thức nhất định khối lượng tác phẩm cụ thể thuộc sách báo chính trị… cần biết một số thứ tiếng: Anh, Pháp, Đức, Nga” (A.A. XôCôLốp (1999), Quốc tế Cộng sản và Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội, tr35).

Theo ghi nhận của các tài liệu lưu trữ, thì người Việt Nam duy nhất được học tại Trường Quốc tế Lê-nin đó chính là Nguyễn Ái Quốc. Theo chỉ thị số 45 ban hành ngày 2/11/1934 thì sinh viên mang bí danh Lin chính thức được thừa nhận là sinh viên của trường, và trong quá trình học tập Nguyễn Ái Quốc đã nghiên cứu công tác xây dựng đảng tại nhà máy bánh kẹo Moskva “Tháng Mười Đỏ, đi tham quan các nông trường tập thể ở tỉnh Riadanxcaia.

+ Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa: 

Cơ quan này trước đây là bộ phận trực thuộc Đại học phương Đông, nhưng sau đó tách làm cơ quan độc lập. Trong bức thư ngày 23/6/1936, P.A. Miphơ quyền Hiệu trưởng Đại học phương Đông đã gửi bức thư cho Bí thư Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản Đimitrov: “Vì lý do đảm bảo bí mật việc tách bộ phận ngoại quốc ra khỏi Đại học phương Đông và chuyển đổi nó thành một trường cao đẳng độc lập được tiến hành, trên phương diện hình thức, như là việc tách Hội nghiên cứu khoa học về các vấn đề dân tộc và thuộc địa ra khỏi Đại học phương Đông. Trường cao đẳng quốc tế đào tạo cán bộ cho các nước phương Đông ngoại quốc phải được công khai hợp pháp hóa và trong tương lai phải tiếp tục tồn tại với tên gọi ngụy trang bề ngoài là Viện nghiên cứu khoa học về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” (Trung tâm lưu giữ và nghiên cứu các tài liệu lịch sử hiện đại Nga, tủ 495, hộp 18, hồ sơ 1096, tờ 176.).

Như vậy từ năm 1937, Viện nghiên cứu khoa học về các vấn đề dân tộc và thuộc địa tách ra khỏi Đại học phương Đông. Viện này có các nhiệm vụ đào tạo các sinh viên ngoại quốc.

Từ năm 1925 đến cuối thập niên 30 thế kỷ XX, ở ba cơ sở giáo dục: Đại học phương Đông, Viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa, Trường Quốc tế Lê-nin, có hơn 60 người Việt Nam theo học. Riêng Trường đại học phương Đông, theo tài liệu thì có 47 người Việt Nam đã tốt nghiệp tại đây.

Như vậy, các trường đại học và giáo dục của Quốc tế Cộng sản đã đóng một vai trò to lớn trong việc đào tạo các thế hệ nhà hoạt động chính trị của Việt Nam, họ được cung cấp về lý luận, về tư tưởng, về kỹ năng để có thể vận dụng vào trong quá trình hoạt động thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Những người theo học các trường này là những chiến sĩ cách mạng đã phấn đấu suốt đời phụng sự cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam, trong số đó có các nhà lãnh đạo Đảng như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai; các nhà trí thức khoa học như Trần Văn Giàu, Nguyễn Khánh Toàn; và nhân vật xuất sắc trong số sinh viên Việt Nam được học tập và đào tạo tại các trường đại học và giáo dục của Quốc tế Cộng sản đó là Nguyễn Ái Quốc – sau này là chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

3. Những điểm “hạn chế” được tác giả đề cập trong tác phẩm

Quốc tế Cộng sản do I.V. Lê-nin sáng lập không những chỉ ra con đường giải phóng mà còn giúp đỡ các dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do. Tuy nhiên, vì nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, Quốc tế Cộng sản không tránh khỏi những hạn chế về lý luận cũng như trong thực tiễn đã ảnh hưởng đến Đảng và Cách mạng Việt Nam.

a). Trong Cương lĩnh và Chương trình Nghị sự, Quốc tế Cộng sản đã nêu vấn đề cách mạng thuộc địa và coi việc giúp đỡ cách mạng thuộc địa là một trọng tâm trong sự nghiệp hoạt động của mình. Nhưng nguyên nhân của sự hạn chế này là chưa nhận thức đúng mức về các hình thức của cách mạng. Một trong những nguyên nhân của tình trạng đó là lý luận của Quốc tế Cộng sản về chiến lược và sách lược đối với các nước thuộc địa còn có mặt hạn chế. Quốc tế Cộng sản cho rằng cách mạng ở các nước thuộc địa đang đứng trước ngưỡng cửa của cách mạng dân chủ tư sản, tức là cuộc cách mạng làm hai nội dung, chống đế quốc giải phóng tộc và chống phong kiến thực hiện cải cách ruộng đất. Nhận định đó là đúng đắn và phù hợp với quan điểm của Lênin đã được nêu ra từ Đại hội II, nhưng, vấn đề ở đây là những nghị quyết về cách mạng thuộc địa của Đại hội VI Quốc tế Cộng sản chỉ phổ quát cho các nước thuộc địa có sự phát triển (tương đối) của phong trào dân chủ tư sản như Ấn Độ, Trung Quốc, Indoneisa và các thuộc địa tương ứng; nhưng còn Việt Nam thì hoàn toàn khác, tính chất phong trào dân chủ tư sản còn non kém, chủ yếu nặng nề về áp bức, cho nên nhiệm vụ giải phóng dân tộc phải đặt lên hàng đầu, hay nói rõ hơn, là thực hiện nhiệm vụ dân chủ tư sản chưa hoàn chỉnh, tức chỉ thực hiện nhiệm vụ chống đế quốc, tạm gác nhiệm vụ chống phong kiến, để tập hợp lực lượng nhằm đấu tranh giải phóng dân tộc.

b). Sai lầm ở đây không phải là từ Nghị quyết đại hội VI của Quốc tế Cộng sản, vì rõ ràng là nó đã đúng, nhưng với những trường hợp Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia và các thuộc địa tương ứng. Nhưng còn với những thuộc địa mang tính chất đặc thù như Việt Nam thì rõ ràng là chưa thể phổ quát được, và chưa thể sắp xếp cách mạng Việt Nam vào loại hình cách mạng như ở Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia. Do đó, sai lầm ở đây đến từ:

+ Ban phương Đông Quốc tế Cộng sản: là đơn vị trực tiếp chỉ thị cho các phong trào cộng sản phương Đông, đáng lý ra, đây phải là bộ phận tiên phong, tìm hiểu kỹ càng và sớm nhận thức về hình thức cách mạng ở những nước đặc thù như Việt Nam. Mà nguyên nhân của sự hạn chế này là sự thiếu nghiêm trọng các thông tin liên quan đến tình hình Việt Nam. Cho đến Đại hội VI Quốc tế Cộng sản, vấn đề mà người ta nêu ra ở Đông Dương chỉ đơn giản là tổ chức một Đảng cộng sản, và do đó khi nó thành lập, đã rập khuôn theo những chỉ thị của Ban Phương Đông khi máy móc áp dụng mô hình cách mạng chưa phù hợp với Đông Dương.

+  Đảng Cộng sản Đông Dương vẫn còn nhiều hạn chế: đặc biệt là một số lãnh đạo của Đảng rơi vào tình trạng giáo điều, rập khuôn máy móc, chưa nhận thức được đặc điểm và tình hình cách mạng Đông Dương để mà đề ra đường lối đúng đắn, sa vào cuộc cách mạng dân chủ tư sản với hai hình thức chống đế quốc - chống phong kiến, từ đó làm hạn chế sự phát triển của Mặt trận dân tộc thống nhất.

c). Một số góp ý đối với tác phẩm của tác giả Hồ Thị Tố Lương

Ấn phẩm của TS. Hồ Thị Tố Lương “Quốc tế Cộng sản với Cách mạng Việt Nam” do Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia ấn hành năm 2007, đây là một tác phẩm có chất lượng rất tốt, tác giả đã dày công sưu tầm và nghiên cứu khá đầy đủ về mối liên hệ giữa Quốc tế Cộng sản đối với sự nghiệp hoạt động cách mạng của Hồ Chủ tịch những năm 30 thế kỷ trước; đồng thời cũng nêu khá đầy đủ về mối liên hệ giữa Quốc tế Cộng sản với Cách mạng Việt Nam, những tác động, những ảnh hưởng của Quốc tế Cộng sản đối với việc thành lập chính Đảng vô sản cho cách mạng Đông Dương, sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản trong việc phục hồi Đảng sau thời kỳ bị khủng bố trắng, sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản trong chuyển biến chỉ đạo chiến lược kể từ Đại hội VII.

Mặc dù đã cố gắng phân tích và luận chứng một cách khoa học, tuy nhiên, ấn phẩm của tác giả không phải là không có khuyết điểm. Vì thế, nhóm em xin góp ý một số điểm, hy vọng có thể vấn đề sáng tỏ và trở nên đúng đắn hơn.

+ Trong ấn phẩm, tác giả nhận định rằng lý luận của Quốc tế Cộng sản về chiến lược và sách lược đối với các nước thuộc địa và nửa thuộc địa còn có mặt hạn chế là đúng đắn. Song việc nhận định Quốc tế Cộng sản chưa coi trọng đúng mức loại hình cách mạng thuộc địa và nửa thuộc địa là nhận định hơi mang tính chủ quan. Tác giả chưa thể làm sáng tỏ những mặt hạn chế thực sự này của Quốc tế Cộng sản, bỏ qua các tiến bộ về mặt nhận thức của Quốc tế Cộng sản đối với các vấn đề dân tộc và thuộc địa trong quá trình hoạt động của tổ chức này từ Đại hội II đến Đại hội VI, những nhân tố khách quan ảnh hưởng đến quan điểm và nhận thức của Quốc tế Cộng sản.

Ngày 9/8/1926, đoàn đại biểu Đảng cộng sản Indonesia trong chuyến làm việc với Quốc tế Cộng sản đã có dịp hội đàm với Stalin – khi đó là Ủy viên Đoàn chủ tịch Quốc tế cộng sản - về tình hình cách mạng Indonesia . I.V. Stalin nói: “… công nghiệp ở các nước đồng chí còn ít phát triển, giai cấp công nhân còn nhỏ bé, đảng của các đồng chí còn trẻ, nhân dân Indonesia chủ yếu là nông dân. Sự khác nhau về giai cấp đã xuất hiện những phân hóa nhưng chưa sâu sắc. Do đó, chỉ có một mình đảng của những người cộng sản làm cách mạng, không liên minh với các thành phần dân tộc có xu hướng tiến bộ thì không thể giải quyết được sự nghiệp to lớn của mình. Đảng cộng sản phải trở thành lãnh tụ của dân tộc, có đông đảo quần chúng tham gia, chịu sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Đảng cộng sản hoạt động trong điều kiện không hợp pháp, không thể trở thành một lực lượng nếu ít tính quần chúng” (Nguyễn Thành, Quốc tế Cộng sản với vấn đề dân tộc và thuộc địa, Nxb Sách giao khoa Mác – Lê-nin, Hà Nội, 1987)

Đây là một cách tiếp cận vấn đề dân tộc có thể được xem là tiến bộ nhất trong Quốc tế Cộng sản. Cấp tiến ở chỗ ông nhận thấy và đặt ra vấn đề phải có một mặt trận liên minh rộng rãi không chỉ của giai cấp công nhân và nông nhân, còn phải có tiểu thương, trí thức và các thành phần dân chủ trong giai cấp tư sản bản xứ để thành lập một mặt trận dân tộc thống nhất đấu tranh cho độc lập. Song quan điểm này còn hạn chế, nó không thể phổ quát cho các nước nửa thuộc địa có tính chất đặc biệt như Việt Nam, một nước thuộc địa – nửa thuộc địa có đại đa số là nông dân, nền nông nghiệp lạc hậu, canh tác manh mún, chế độ thuộc địa của thực dân Pháp chưa phát triển cao độ, giai cấp địa chủ và phú nông bị phân hóa sâu sắc, mâu thuẫn đối kháng chủ yếu mâu thuẫn nhân dân Việt Nam với đế quốc Pháp.

Nguồn gốc là do quan điểm của I.V. Stalin và đại bộ phận cán bộ của Ban phương Đông Quốc tế Cộng sản là do góc độ tiếp cận vấn đề dân tộc và thuộc địa chỉ mới dừng ở những kiểu mẫu Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, nơi mà các dân tộc này đã trãi qua cuộc cách mạng dân chủ tư sản; chế độ thuộc địa phát triển cao độ làm mâu thuẫn cao độ sự đối kháng giữa giai cấp nông dân và địa chủ; giai cấp địa chủ phong kiến các quốc gia này đã tỏ ra bộ mặt phản động ủng hộ các thể chế thực dân. Do hạn chế khách quan này, mà trong quá trình xây dựng các chiến lược và sách lược cho Cách mạng Đông Dương, các ủy viên của Ban Bí thư phương Đông – mà đa số không xuất thân từ thuộc địa nửa phong kiến có tính chất nông nghiệp lạc hậu như Việt Nam, đã chưa thể có một sự nhận thức đầy đủ và chính xác về tình hình cho nên những Nghị quyết của Ban phương Đông còn nhiều mặt hạn chế như vậy.

+ Nhận định của tác giả về những biểu hiện tả khuynh của Đảng Cộng sản Đông Dương trong những chỉ thị “thanh đảng” hồi tháng 4/1931 của Xứ ủy Trung kỳ là do ảnh hưởng từ những nhận định tả khuynh đối với giai cấp tư sản, đặc biệt là tư sản dân tộc tại Đại hội VI của Quốc tế Cộng sản. Nội dung của chỉ thị Thanh Đảng của Xứ ủy Trung kỳ là đưa ra khỏi Đảng những ai xuất thân là trí thức, giàu có hoặc con em quan lại lớn nhỏ. Trong đó có câu “Thanh trừ trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ”.

Có thể khẳng định rằng, những chỉ thị đó của Xứ ủy Trung kỳ đã mang đậm màu sắc tả khuynh. Nguồn gốc là do sự nhận thức không đúng đắn về vấn đề giai cấp và về sự tập hợp các giai cấp khác đặt dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản. Song, việc quy kết ngược lại cho rằng nguồn gốc là do những nghị quyết của Quốc tế Cộng sản có tính tả khuynh trong Đại hội VI Quốc tế Cộng sản lại là điều tương đối bất hợp lý.

Vì nội dung căn bản phê phán giai cấp tư sản của Quốc tế Cộng sản tại Đại hội VI Quốc tế Cộng sản không phải là việc tập hợp giai cấp tư sản đặt dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản, mà là vấn đề giai cấp vô sản hay giai cấp tư sản lãnh đạo cuộc cách mạng ở thuộc địa. Việc phê phán tính dao động của giai cấp tư sản là nhằm cho thấy giai cấp này không thể là giai cấp lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc được, chứ hoàn toàn không liên quan gì đến các chiến sĩ cộng sản xuất thân thành phần trí thức, tư sản, địa chủ trong Đảng cả. Trong Nghị quyết của Đại hội VI Quốc tế Cộng sản viết rất rõ phần kết của việc phê phán giai cấp tư sản dân tộc: “…không giải phóng quần chúng lao động khỏi ảnh hưởng của giai cấp tư sản và chủ nghĩa dân tộc cải lương, thì không thể đạt được mục tiêu chiến lược cơ bản của phong trào cộng sản trong cuộc cách ạng dân chủ tư sản: vai trò lãnh đạo của giai cấp vô sản. Nếu không có sự lãnh đạo của giai cấp vô sản, thì không thể thực hiện được đến cùng cuộc cách mạng dân chủ tư sản, đừng nói chi đến cách mạng xã hội chủ nghĩa, bởi vì địa vị lãnh đạo của Đảng Cộng sản là một bộ phận không thể tách rời của vai trò lãnh đạo của giai cấp vô sản”.

Trong tác phẩm, tác giả cũng đã viết rõ rằng Đại hội VI Quốc tế Cộng sản rút kết luận rằng: chỉ khi nào giai cấp tư sản bị gạt ra ngoài cương vị lãnh đạo phong trào thì cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc mới có thể thắng lợi.

Như vậy, thái độ tả khuynh của Xứ ủy Trung kỳ phần lớn là xuất phát từ sự nhận thức chưa đầy đủ và suy diễn sai lệch từ các Nghị quyết của Đại hội VI Quốc tế Cộng sản, trong đó nhận thức chưa rõ ràng về sự khác biệt giữa nguồn gốc xuất thân từ giai cấp tư sản và là giai cấp tư sản. Như chúng ta biết, lãnh tụ quốc tế vô sản Engels xuất thân từ giai cấp tư sản, hay Lenin xuất thân từ gia đình quan chức có địa vị cao thời Sa hoàng, nhưng họ vẫn là lãnh tụ của giai cấp vô sản và là đội ngũ tham gia lãnh đạo phong trào cách mạng vô sản.

Kết luận

Quốc tế Cộng sản đã có những ảnh hưởng to lớn đối với Cách mạng Việt Nam và ảnh hưởng đến tư tưởng của đông đảo cán bộ của Đảng Cộng sản Đông Dương thông qua nhiều hình thức khác nhau: từ tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lê-nin bằng sách, báo chí, tài liệu tuyên truyền, ấn phẩm mác-xít,…; từ những Chỉ thị, Nghị quyết của Quốc tế Cộng sản - trong việc căn cứ những vấn đề chung của phong trào dân tộc tại các nước thuộc địa và nửa thuộc địa; từ việc đào tạo cán bộ tại các trường đại học và cơ sở giáo dục của Quốc tế Cộng sản.

Song, bên cạnh sự ảnh hưởng có tính chất tích cực góp phần vào việc phát triển Đảng Cộng sản Đông Dương và đội ngũ cán bộ cách mạng Việt Nam có thể đáp ứng phong trào cách mạng Việt Nam thì bên cạnh đó cũng còn những biểu hiện tiêu cực, chưa đúng đắn. Trong đó, có những sai lầm đến từ chính đội ngũ cán bộ cách mạng Việt Nam vì sự nhận thức về lý luận cách mạng còn chưa đủ, đồng thời cũng có sai lầm đến từ Quốc tế Cộng sản và các phân bộ của nó là Ban phương Đông, trong một số trường hợp cụ thể đã có những chỉ đạo và nhận định sai lệch, chưa sáng tạo trong việc nhận định đúng đắn tính chất cách mạng ở một xứ thuộc địa, nửa phong kiến có trình độ nông nghiệp lạc hậu và chế độ thuộc địa chưa phát triển.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Công văn của Sở Mật thám Đông Dương số 6783 ngày 10/12/1930 gửi từ Hà Nội cho sở Mật thám Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, tr.5. Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử Đảng

2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảnh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t.1

3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t.5

4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, t.6

5. Đi-a-cốp, Xớc-kin, Quốc tế Cộng sản với vấn đề dân tộc và thuộc địa, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960

6. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t.1

7. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t.2

8. TS. Hồ Tố Lương (2007), Quốc tế cộng sản với cách mạng Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

9. Viện Mác – Lê-nin: Sự hợp tác quốc tế giữa Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Việt Nam: Lịch sử và hiện tại, Nxb Sự thật, Hà Nội,1987

10. A.A. XôCôLốp (1999), Quốc tế Cộng sản và Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội

11. Nguyễn Thành, Quốc tế Cộng sản với vấn đề dân tộc và thuộc địa, Nxb Sách giao khoa Mác – Lê-nin, Hà Nội, 1987

12. Bùi Công Trừng: “Nhớ lại việc thống nhất Đảng”, Báo Nhân dân, ngày 10/12/1959

13. Trung Tâm Lưu trữ và nghiên cứu các tài liệu lịch sử hiện đại Nga, tủ 495, hộp 19, hồ sơ 707

14. Trung tâm lưu giữ và nghiên cứu các tài liệu lịch sử hiện đại Nga, tủ 495, hộp 18, hồ sơ 1096, tờ 176